Quyền nhân thân được quy địnhtrong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác - Pdf 34

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------------------------

MÔN: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Đề bài số 06: Sưu tầm 02 vụ việc liên quan đến hành vi xâm
phạm các quyền nhân thân của tác giả. Vận dụng các kiến thức
đã học để phân tích và đưa ra quan điểm của nhóm về hướng
giải quyết.
LỚP : NO2- NHÓM 06

Hà Nội, 2012


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Quyền tác giả là một vấn đề mới và đang rất được quan tâm hiện nay. Quyền tác giả
là quyền lợi mà pháp luật quy định bảo vệ cho sản phẩm trí tuệ của mỗi cá nhân. Tìm
hiểu về quyền tác giả cụ thể là quyền nhân thân của tác giả, bài viết là 2 vụ việc liên
quan đến hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả , đưa ra quan điểm, hướng
giải quyết cho vụ việc qua đó kiến nghị biện pháp hoàn thiện quy định pháp luật về
quyền nhân thân của tác giả.

NỘI DUNG
I.

Khái quát các quy định pháp luật về quyền nhân thân của tác giả.
1. Quyền nhân thân của tác giả

Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định

tác phẩm, do sự thay đổi các chuẩn mực xã hội, ngôn từ và chính tả, nhưng phải được
sự đồng ý của tác giả. Ngoại lệ : Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy, trích để đưa tin tức;
Làm tác phẩm phái sinh.
b. Quyền nhân thân tương đối.
Quyền nhân thân tương đối là quyền có thể chuyển giao được, có thời hạn bảo hộ.
Quyền nhân thân tương đối gắn liền với quyền tài sản, việc chuyển giao quyền nhân
thân tương đối sẽ dẫn đến nghĩa vụ thực hiện quyền tài sản. Quyền nhân thân tương
đối là quyền:
3

3


- Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm của mình.
Việc công bố hay chưa công bố tác phẩm tùy thuộc vào quyết định của tác giả.
II.

Vụ việc về hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của tác giả.
1. Vụ việc số 01
a. Nội dung vụ việc
Đây là vụ việc liên quan đến hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả

Nguyễn Đức Quyền được đăng trên mục Làng văn của báo điện tử VnExpress ngày
19/09/2005.1
Nội dung vụ việc như sau:
Trên tạp chí Tản Viên Sơn số 05/2005 của Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT)
Hà Tây có bài “Đọc lại bài thơ Ngắm trăng…” của tác giả Thi Ái. Đây là một bài
bình bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh. Khi tạp chí phát hành thì các hội viên Hội
VHNT Hà Tây cho rằng tác giả Thi Ái đã “đạo” nguyên xi bài bình thơ của tác giả
Nguyễn Đức Quyền – nhà giáo từng nhiều năm giảng dạy tại trường Cao đẳng sư

với tên Nguyễn Đức Quyền) đã gây ra sự hiểu khác đi đối với bạn đọc tạp chí” và
hình thức xử lý chỉ là xem xét, rút kinh nghiệm đối với người biên tập bài viết.
b. Phân tích vụ việc
Trước hết ta thấy rằng vụ việc trên xảy ra vào năm 2005, trước thời điểm
BLDS 2005 và Luật SHTT 2005 có hiệu lực. Tuy nhiên căn cứ vào khoản 1 Điều 220
Luật SHTT thì “Quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của các
văn bản pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực, nếu còn thời hạn bảo
hộ vào ngày luật này có hiệu lực thì được tiếp tục bảo hộ theo quy định của Luật
này” và quy định tại mục 1 phần V thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP về áp dụng pháp luật về SHTT để giải
quyết các tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan thì “Đối với quyền tác giả,
quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có
hiệu lực trước ngày Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực (01-7-2006), nếu còn thời hạn
bảo hộ vào ngày 01-7-2006, thì tiếp tục được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu
trí tuệ. Do đó, khi giải quyết loại tranh chấp này, thì Toà án áp dụng quy định của
Luật Sở hữu trí tuệ.” Đối với các quyền nhân thân tuyệt đối của tác giả quy định tại
khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật SHTT được bảo hộ vô thời hạn do đó khi xem xét tình
huống này nhóm sẽ phân tích dựa trên các quy định của Luật SHTT.
5

5


Trong vụ việc trên, có thể thấy Ban biên tập Tạp chí Tản Viên Sơn đã có hai
hành vi vi phạm chính đó là:
Thứ nhất, hành vi tự ý đổi tên tác phẩm của tác giả Nguyễn Đức Quyền từ
“Ngắm trăng” thành “Đọc lại bài thơ Ngắm trăng…”. Theo quy định tại khoản 1
Điều 19 Luật SHTT thì quyền đặt tên cho tác phẩm là một trong những quyền nhân
thân tuyệt đối của tác giả. Tức là quyền này chỉ thuộc về tác giả, ngoài tác giả của tác
phẩm không ai có quyền đặt tên cho tác phẩm hoặc thay đổi tên của tác phẩm và tác
giả cũng không được chuyển giao quyền này cho người khác. Như vậy trong trường

vậy mà kết luận của Ban kiểm tra Hội VHNT Hà Tây với hình thức xử lý chỉ là “xem
xét, rút kinh nghiệm” đối với người biên tập là chưa thỏa đáng.
Trong trường hợp này tác giả đã mất từ năm 1999, vì vậy việc bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp liên quan đến quyền tác giả sẽ do người thừa kế hợp pháp của tác giả
thực hiện. Họ có thể áp dụng các biện pháp quy định tại Điều 198 Luật SHTT. Theo
đó:
-

Trước hết là yêu cầu tạp chí Tản Viên Sơn phải chấm dứt hành vi xâm phạm,
xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại.

-

Trong trường hợp Ban biên tập tạp chí không thực hiện theo yêu cầu của người
thừa kế quyền tác giả thì bước tiếp theo có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc trực tiếp khởi kiện ra tòa án.
Nếu yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý thì có thể gửi đơn yêu cầu
UBND cấp xã nơi đóng trụ sở của tạp chí Tản Viên Sơn xử lý hành vi vi phạm.
UBND cấp xã sẽ áp dụng biện pháp hành chính để xử lý hành vi xâm phạm này.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 47/2009/NĐ-CP về xử phạt thì hành vi
sử dụng tác phẩm mà không nêu tên thật hoặc bút danh tác giả, tên tác phẩm hoặc nêu
không đúng tên thật hoặc bút danh của tác giả, tên tác phẩm theo quy định của pháp
luật sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Tuy nhiên thời hiệu xử phạt
vi phạm hành chính về quyền tác giả chỉ là 2 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được
thực hiện (khoản 1 Điều 5 Nghị định 47/2009/NĐ-CP). Do đó nếu quá thời hạn 2
năm thì tạp chí Tản Viên Sơn sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn bị
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đó là buộc khôi phục lại quyền đứng tên, đặt
tên cho tác phẩm.
Nếu khởi kiện ra tòa án thì những người thừa kế phải chứng minh mình là chủ thể của
quyền tác giả bằng một trong các chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật

cánh đồng bất tận.
- Các bức ảnh quảng cáo của phim cánh đồng bất tận do nhiếp ảnh gia Đặng
Minh Tùng chụp và giao cho Hãng phim Việt theo hợp đồng. Trong quá trình Trần
Huy Hoan làm các bức ảnh quảng cáo cho phim cánh đồng bất tận có đưa cho Trần
Huy Hoan sử dụng các bức hình do Đặng Minh Tùng chụp để làm ảnh quảng cáo.
8

8


Nhiếp ảnh gia Trần Huy Hoan là người thiết kế lại các bức ảnh đó để tạo thành các
bức ảnh quảng cáo cho bộ phim.
Đặng Minh Tùng cho rằng quyền được đứng tên tác phẩm của mình bị xâm
phạm khi tên Đặng Minh Tùng không được ghi trên các bức ảnh quảng cáo mà lại ghi
tên Trần Huy Hoan.
Trần Huy Hoan thì cho rằng các bức ảnh do Đặng Minh Tùng chụp chỉ là chép
lại tác phẩm của người khác. Cụ thể, theo Trần Huy Hoan, Đặng Minh Tùng chỉ là
người chụp ảnh hiện trường không tham gia vào công tác makeup diễn viên, lo phục
trang, chỉ đạo diễn xuất… Như vậy, cậu ta chỉ chép lại sáng tạo của người khác,
không được gọi là có bản quyền. Trần Huy Hoan khẳng định, việc thiết kế poster
quan trọng nhất là ý tưởng, còn bức ảnh có thể lấy từ trên mạng hoặc của bất cứ ai mà
không cần đề nguồn.
b. Phân tích vụ việc
- Các bức ảnh trong poster của phim cánh đồng bất tận đều do Đặng Minh
Tùng chụp, các bức ảnh đó được tạo nên qua sức sáng tạo của Đặng Minh Tùng từ
góc chụp, độ sáng, tối, khoảng cách chụp…để tạo nên các bức ảnh đẹp. Theo quy
định tại điểm h khoản 1 điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ thì tác phẩm nhiếp ảnh thuộc
loại tác phẩm nghệ thuật là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tác phẩm
nhiếp ảnh theo nghị định số 100/2006/N Đ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số
điều của luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan tại điều 16 có quy

tín của tác giả.
Đây là quyền nhân thân không thể chuyển giao theo quy định của LSHTT, theo
đó, quyền được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm là quyền chỉ dành cho tác giả sáng
tạo ra tác phẩm, việc cắt xén, sửa chữa tác phẩm phải được sự chấp thuận của tác giả.
Theo LSHTT thì hành vi sửa chữa, cắt xén tác phẩm phải gây phương hại đến danh
dự và uy tín của tác giả nhưng theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 22 Nghị định số
100/2006/NĐ-CP thì quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác
sửa chữa, cắt xén tác phẩm là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm,
trừ trường hợp có thỏa thuận của tác giả. Điều này có nghĩa là chỉ cần có hành vi sửa
chữa, cắt xén mà không có sự đồng ý của tác giả mà không cần xác định yếu tố có
gây phương hại cho danh dự, uy tín của tác giả hay không là hành vi xâm phạm
quyền nhân thân của tác giả.
Theo đó, Hãng phim Việt muốn sử dụng hình ảnh của Đặng Minh Tùng chụp
thì được nhưng nếu sửa chữa, cắt xén tác phẩm thì phải được sự đồng ý của Đặng
10
10


Minh Tùng vì đây là quyền nhân thân gắn chặt với Đặng Minh Tùng. Hành vi sửa
chữa, cắt xén các bức ảnh mà không được sự đồng ý của Đặng Minh Tùng làm thay
đổi tác phẩm không, phản ánh đúng ý tưởng, tính chất cũng như toàn vẹn sự sáng tạo
nghệ thuật của Đặng Minh Tùng. Có các bức ảnh quảng cáo sử dụng ba bức ảnh do
Đặng Minh Tùng chụp nhưng mỗi bức ảnh được cắt sửa và chỉ sử dụng một phần tác
phẩm để ghép với các phần của bức ảnh khác để tạo thành các bức ảnh quảng cáo. Do
vậy, Hãng phim Việt sử dụng các bức ảnh do Đặng Minh Tùng chụp để làm ảnh
quảng cáo cho phim theo hợp đồng đã kí thì không trái pháp luật nhưng sửa chữa, cắt
xén các tác phẩm đó mà không được sự đồng ý của Đặng Minh Tùng là trái pháp luật,
xâm phạm quyền được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm của Đặng Minh Tùng.
Thứ hai, Trên các bức ảnh quảng cáo cho phim không có tên Đặng Minh Tùng
mà chỉ có tên Trần Huy Hoan với tư cách nhiếp ảnh gia. Ta cần xác định rõ, Trần

được lấy từ tác phẩm cánh đồng bất tận theo lí giải của Hãng phim Việt.
Thứ hai, về việc ai là người được đứng tên trong các bức ảnh. Hãng phim Việt
cho rằng các bức ảnh do Đặng Minh Tùng chụp là sáng tạo của tập thể, nói cách khác
các bộ ảnh này do đồng tác giả thực hiện. Tuy nhiên, đồng tác giả hiểu theo LSHTT
thì phải có sự bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất về ý chí khi thực hiện tác phẩm nhưng
khi Đặng Minh Tùng chụp hình không hề bàn bạc, thống nhất ý chí với diễn viên,
nhân viên đoàn phim là phải chụp như thế nào. Các bức ảnh hoàn toàn do Đặng Minh
Tùng quan sát, lựa chọn để sáng tạo ra các bức ảnh này.
Vì Hàng phim Việt chưa được sự chấp thuận của Đặng Minh Tùng về việc sửa
chữa, cắt xén các bức ảnh nên đã xâm phạm quyền nhân thân của Đặng Minh Tùng.
Hãng phim Việt có quyền làm tác phẩm phái sinh nhưng phải được sự đồng ý của
Đặng Minh Tùng về việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm để làm tác phẩm phái sinh.
Hãng phim Việt có thể thỏa thuận với Đặng Minh Tùng về vấn đề này nếu Đặng
Minh Tùng chấp nhận để giải quyết những tranh chấp thông qua hòa giải thương
lượng; nhưng nếu Đặng Minh Tùng không chấp nhận thì có thể khởi kiện ra để bảo
vệ quyền lợi của mình.
Nếu Đặng Minh Tùng chấp nhận để Hãng phim Việt được sửa chữa, cắt xén
các bức ảnh để làm tác phẩm phái sinh thì khi đó tác phẩm phái sinh mới được bảo
hộ. Theo khoản 2 Điều 14 LSHTT thì tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không
gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái
sinh. Khi tác phẩm phái sinh là các bức ảnh quảng cáo cho phim cánh đồng bất tận
12

12


được bảo hộ thì việc đứng tên trên tác phẩm phái sinh này được giải quyết bằng một
trong các cách như sau:
- Để Đặng Minh Tùng đứng tên trên bức ảnh quảng cáo với tư cách tác giả của tác
phẩm gốc còn Trần Huy Hoan là tác giả của tác phẩm phái sinh. Theo đó, Poster



Để tránh việc hiểu như vừa phân tích, Khoản 3 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
quy định chi tiết: “Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác
sửa chữa, cắt xén tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là
việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm trừ trường hợp có thoả thuận
của tác giả”. Ngoài việc những người soạn thảo Nghị định 100/2006/NĐ-CP đã tùy
tiện cắt xén cụm từ “xuyên tạc” trong Khoản 4 Điều 19, thì quy định này lại không
thể giải quyết được trường hợp nếu tác giả đã qua đời thì người sử dụng tác phẩm sẽ
“thỏa thuận” với ai? Tất nhiên không thể thỏa thuận với người thừa kế quyền tài sản
đối với tác phẩm vì cần nhớ rằng quyền nhân thân quy định tại các Khoản 1, 2, 4
Điều 19 của Luật là không thể chuyển giao.
Thứ hai: Khoản 2 Điều 30 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết: “Các cơ
quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan khi phát hiện các
hành vi xâm phạm quyền nhân thân quy định tại khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật Sở
hữu trí tuệ đối với các tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ thì có quyền yêu cầu
người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công
khai, bồi thường thiệt hại”. Một phần của quy định này không có khả năng thực thi,
bởi lẽ:
+ Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tài sản, do đó cụm từ “bồi thường thiệt
hại” chắc chắn không phải là bồi thường về vật chất;
+ Nếu bồi thường về uy tín và danh dự của tác giả thì tổ chức, cá nhân nào là chủ thể
nhận bồi thường? Hơn nữa, hành vi này chỉ xâm phạm các quyền nhân thân không
thể chuyển giao được quy định tại các khoản 1, 2 và 4 điều 19 của Luật (mà các
quyền này lại vĩnh viễn thuộc về tác giả – là người đã chết).
2. Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật.
Thứ nhất: Nên sửa đổi quyền nhân thân không thể chuyển giao tại Khoản 4 Điều 19
như d Khoản 2 Điều 738 Bộ Luật Dân sự 2005 đã quy định.

14


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật SHTT Việt Nam, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, 2009.
2. Lê Đình Nghị và Vũ Thị Hải Yến (chủ biên), Giáo trình luật SHTT, Nxb. Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.
3. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
4. Luật SHTT năm 2005.
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009
6.
Nghị định của Chính phủ số 47/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 quy định về
xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.
7.

16

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status