Mở bài
Pháp chế là một phạm trù rộng lớn không chỉ chứa đựng nội dung pháp luật mà còn
chứa đựng những nội dung chính trị, xã hội, con người. Vì vậy, bảo đảm pháp chế được
củng cố, tang cường và hoàn thiện là yêu cầu cần thiết trong quá trình xây dụng Nhà nước
xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong quá trình quản lý hành chính nhà nước. Các biện pháp bảo
đảm pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước rất nhiều nhưng quan trọng nhất là hoạt
động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước. Do đó, em chọn đề tài: “Phân tích vai trò
hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế
trong quản lý hành chính nhà nước”.
Nội dung
1. Pháp chế và bảo đảm pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước
“Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả
các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân
viên nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một
cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước,
quyền, lợi ích của tập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” (1)
Pháp chế xã hội chủ nghĩa có nội dung cơ bản nhất là sự triệt để tôn trọng pháp luật của
các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, là phương thức thực hiện dân chủ xã
hội chủ nghĩa. Nói đến pháp chế là nói đến pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước là
nhấn mạnh đến trật tự pháp luật nhằm bảo vệ và phát triển quyền và lợi ích của công dân,
củng cố và duy trì địa vị pháp lý hành chính của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội.
Bảo đảm pháp chế là phải củng cố việc xây dựng cơ chế, phương tiện, phương pháp và
cách thức nhằm làm cho pháp luật được thực hiện có hiệu quả trong thực tế, đem lại lợi ích
cho Nhà nước, cho xã hội và cho người lao động.
Bảo đảm pháp chế là tổng thể các biện pháp, phương tiện, tổ chức – pháp lý do các cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân áp dụng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan nhà nước và các tổ chức ấy cũng như việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của công dân.
Như vậy, bảo đảm pháp chế có thể hiểu như là những điều kiện, những phương tiện và
những khả năng thực hiện trên thực tế đối với pháp luật hiện hành nhằm xây dựng và củng
cố chính quyền của dân, do dân, vì dân, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của công dân trên tất
Giám sát là một trong những chức năng chủ yếu của Quốc hội được xác định xuyên
suốt tất cả các bản Hiến pháp của nước ta và cũng được cụ thể hoá trong các văn bản pháp
luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội bao gồm trước
hết và trực tiếp là Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân
tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Ngoài ra, mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang cũng đều là những đối tượng chịu sự giám sát của các cơ quan chuyên môn
của Quốc hội. Mục đích của hoạt động giám sát chính là bảo đảm việc thi hành nghiêm
chỉnh Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, của các cơ quan nhà nước và toàn xã hội.
2.2. Vai trò hoạt động giám sát của Quốc hội
2
Điều 83 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 của Luật tổ chức Quốc hội quy định: “Quốc
hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.
Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định: “Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội
và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân
chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.”
Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước
được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: nghe báo cáo của Chính phủ, các Bộ,
thông qua hoạt động giám sát thường xuyên của các tổ đại biểu hoặc các đại biểu đối với
hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước.
Quyền giám sát của Quốc hội đối với quản lý hành chính Nhà nước có phạm vi rất lớn,
thể hiện rõ tính quyền lực Nhà nước thành lập, bãi bỏ các cơ quan, các chức danh của bộ
máy hành chính Nhà nước... và cả trong hoạt động cụ thể của bộ máy hành chính Nhà
nước. Điều 84 Hiến pháp 1992 Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.
Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,
một hệ thống pháp luật hoàn thiện, có hiệu lực và tính khả thi cao, làm cơ sở và tiền đề
vững chắc cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Qua đó, góp phần quan trọng nâng
cao bảo đảm pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước.
Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội nắm bắt được những vấn đề thuộc về quản lý
hành chính nhà nước cần giải quyết, trong đó có những vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết
bằng cách quyết định của Quốc hội. Kết quả hoạt động giám sát là cơ sở thực tiễn quan
trọng nhằm bảo đảm cho các quyết định của Quốc hội thực sự khách quan, có cơ sở thực
tiễn và bảo đảm tính khả thi. Đồng thời, thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội nắm bắt
được việc triển khai thi hành các quyết định của Quốc hội trên thực tế như thế nào để có
biện pháp xử lý kịp thời và bảo đảm để các quyết định đó phải được các cơ quan nhà nước
có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh.
Vai trò của hoạt động giám sát của Quốc hội thể hiện rõ nét thông qua việc giám sát
trực tiếp các hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Xét báo cáo công tác và các báo cáo chuyên đề của Chính phủ.
Qua thực tế hoạt động của các nhiệm kỳ Quốc hội cho thấy một xu hướng chung là, để
đáp ứng đòi hỏi của tình hình cũng như nguyện vọng của cử tri cả nước, Quốc hội đã từng
bước quan tâm theo dõi sát sao hơn nữa các hoạt động của Chính phủ. Số lượng các báo
cáo của Chính phủ được yêu cầu báo cáo tại Quốc hội ngày càng gia tăng về số lượng và
chất lượng cũng đòi hỏi ngày một khắt khe hơn.
Thông qua việc xem xét các báo cáo của Chính phủ, Quốc hội thực hiện được sự giám
sát một cách toàn diện các hoạt động của Chính phủ và nắm bắt được tình hình kinh tế - xã
hội của đất nước. Từ đó, Quốc hội có cơ sở thực tiễn để tiếp tục đề ra những chủ trương,
định hướng mới để Chính phủ tổ chức thực hiện, điều chỉnh kịp thời những chủ trương,
biện pháp chưa phù hợp và uốn nắn những sai sót trong tổ chức thực hiện của Chính phủ.
Việc Quốc hội xem xét các báo cáo của Chính phủ thực sự có vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc không những tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ tổ chức triển khai các biện pháp
quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… mà
4
ban hành.
Việc giám sát tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản do Chính phủ ban
hành được giao cho Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội. Tuy nhiên, đối với những vấn đề có
liên quan, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội cũng có thể tiến hành giám sát và
có ý kiến. Trong quá trình giám sát việc ban hành văn bản của Chính phủ, đối với những
trường hợp phát hiện văn bản được ban hành chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp,
5
luật, pháp lệnh hoặc nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Uỷ ban
thường vụ Quốc hội có văn bản yêu cầu Chính phủ xem xét lại để có biện pháp xử lý phù
hợp.
- Giám sát trực tiếp việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Chính phủ.
Hàng năm, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội
thường xuyên tổ chức các cuộc giám sát trực tiếp việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh
tế - xã hội của Chính phủ tại các Bộ, ngành và địa phương trong cả nước.
Để đảm bảo chất lượng các cuộc giám sát, các đoàn giám sát thường chuẩn bị kế hoạch
giám sát cụ thể (bao gồm mục đích, chương trình, nội dung giám sát; đối tượng giám sát;
yêu cầu giám sát; thời gian giám sát…) và gửi trước cho lãnh đạo các Bộ, ngành, chính
quyền địa phương, cho các cơ quan, tổ chức là đối tượng giám sát và các cơ quan, tổ chức
hữu quan khác để phối hợp tham gia vào hoạt động giám sát của đoàn.
Trong quá trình tiến hành giám sát thực tế, đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan,
đơn vị, tổ chức chịu sự giám sát cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám
sát; yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc cá nhân trả lời trực tiếp về vấn đề mà đoàn quan
tâm; kiểm tra thực tiễn tại cơ quan, đơn vị, tổ chức mà đoàn giám sát. Nếu phát hiện có vi
phạm pháp luật, đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức có hành vi vi
phạm pháp luật phải chấm dứt ngay hành vi vi phạm pháp luật đó.
Qua công tác giám sát trực tiếp việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Chính
phủ, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội
đã góp phần rất quan trọng trong việc kiểm tra, đôn đốc các hoạt động nhằm tổ chức thi
đối với công việc của các thành viên Chính phủ trên cương vị được giao.
2.3. Vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của uỷ ban nhân dân và
các cơ quan quản lý chuyên môn ở địa phương. Hội đồng nhân dân giám sát bằng cách
nghe báo cáo, đánh giá báo cáo của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân có quyền bãi
miễn các chức danh của các cơ quan hành chính địa phương. Có quyền bãi bỏ quyết định
sai trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước nhưng hoạt động của nó mang tính
đặc thù của chính quyền địa phương chấp hành hiến pháp, pháp luât, pháp lệnh. Hội đồng
nhân dân nằm dứơi sự kiểm tra hướng dẫn của pháp luật. Hoạt động giám sát của các cơ
quan nhà nước ở địa phương do Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành trong phạm vi đơn vị
hành chính - lãnh thổ của mình.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (các Điều 120, 121, 122), Hội đồng nhân dân
với tư cách là cơ quan đại biểu của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
có quyền ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và
pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc
phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định thực hiện các nghị quyết đó. Hội đồng
nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc thực thi Hiến pháp, pháp luật bằng cách
xét báo cáo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, của Chánh án Toà án nhân dân, của Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và của thủ trưởng các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân
dân.
7
Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có quyền trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Hiến pháp, pháp luật thông qua mối liên hệ với cử tri, chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân
dân, Chủ tịch và các thành viên Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân và Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp...
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân góp phần tích cực vào việc phát hiện các sai
trái của cơ quan, tổ chức cơ sở trong việc chấp hành pháp luật. Trên cơ sở đó kiến nghị cấp
ngay cả việc quyết định những công việc quan trọng của đất nước cũng có thêm cơ sở để
lượng giá, để xem xét một cách thấu đáo.
4. Phương hướng tăng cường hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước
Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước là một trong những hoạt động nhà
nước quan trọng. Cùng với các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ
chức khác, hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đã góp phần quan trọng
vào việc bảo đảm cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước tuân thủ đúng các quy định
của pháp luật và không ngừng nâng cao hiệu quả.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà
nước vẫn còn nhiều vướng mắc và hạn chế. So với yêu cầu, đòi hỏi khách quan của quản lý
hành chính nhà nước và yêu cầu phát triển đất nước thì hoạt động giám sát của cơ quan
quyền lực nhà nước vẫn là “điểm yếu” và còn cần phải cố gắng rất nhiều mới có thể tương
xứng với vai trò của cơ quan đại biểu của nhân dân. Điều này do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan.
Để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà
nước, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giám sát của cơ quan quyền lực nhà
nước, tiếp tục đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động.
- Hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan đảng, nhà nước và tổ
chức chính trị - xã hội có chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm sát và giám sát hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước.
Hiện nay, trong việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức
chính trị - xã hội có chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm sát, giám sát còn có những điểm
chưa rõ ràng, ăn nhịp. Do đó, hiệu quả của việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nói
chung và hiệu quả thanh tra, kiểm tra, kiểm sát và giám sát của từng cơ quan, tổ chức nói
riêng còn rất mức độ, chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới. Do đó cần tiếp tục
nghiên cứu, cụ thể hoá, thể chế hoá và tổ chức thực hiện tốt việc đổi mới nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới
và nâng cao chất lượng cơ chế phân công, phối hợp hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sat,
giám sát của các cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội.
hoạt động của bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, 2010
2. Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Đại
học quốc gia, Hà Nội, 2005.
Văn bản quy phạm pháp luật
1. Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
2. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
10
3. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
năm 2004
Các website
1.
2.
3.
4.
/> /> />
11