1
2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan
trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Gia đình luôn được thành lập với hai thành viên đầu tiên là vợ và chồng.
Dần dần, các con được sinh ra. Cũng do hiệu lực của hôn nhân mà vợ, chồng trở
thành người có quan hệ với người thân thuộc của chồng (vợ) mình. Sự kiện kết hôn
đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng. Nội dung của quan hệ pháp luật
giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và các nghĩa vụ về
quyền tài sản. Và một vấn đề quan trọng trong số đó là quyền bình đẳng của vợ
chồng đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Liệu rằng hiện nay vợ chồng có
thực sự bình đẳng? Người vợ thực sự có quyền đối với tài sản chung của vợ chồng
hay không? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin đi vào phân tích quyền bình đẳng
của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề chung
1, Quy định của pháp luật về tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.
Điều 219 Bộ luật dân sự quy định: Sở hữu chung của vợ chồng: Sở hữu chung
của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
Theo quy định tại khoản 1 điều 27 luật HN&GĐ 2000: Tài sản chung của vợ
chồng là một thuật ngữ để chỉ định những tài sản thuộc ít nhất một trong sáu nguồn
như sau:
1- tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: tài sản chung của vợ
chồng có thể do công sức của cả hai vợ chồng tạo ra hoặc chỉ do vợ (chồng) tạo ra
trong thời kỳ hôn nhân, bằng cách trực tiếp (lao động sản xuất, tiền lương…) hoặc
chuyển nhượng, thừa kế để gọi là “tài sản chung của vợ chồng” thì giấy chứng nhận
QSD đất phải ghi tên của cả vợ và chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng
chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Căn cứ pháp luật là thoả thuận có
công chứng.
4
Mặt khác, khoản 1 Điều 32 đã quy định cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng. Để
bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có
được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu,
nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không
có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng
thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản
này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này
có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32. Trong trường hợp
không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy
định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.
2. Khái quát quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài
sản chung hợp nhất.
Bình đẳng là một trong những nguyên tắc chung, xuyên xuốt được
quy định trong Luật HN&GĐ Việt Nam thể hiện trong việc vợ chồng
có quyền cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận, quyết định các vấn đề
liên quan đến nhân thân và tài sản của bản thân vợ chồng. Việc quy
định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật phải đăng
ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải gi tên cả hai vợ chồng
là quy định mới khẳng định quyền bình đẳng của vợ chồng trong quan hệ tài sản.
Thực tiễn cho thấy chỉ có tài sản rất lớn, rất quan trọng đối với đời sống gia đình thì
trong giấy chứng nhận quyền sở hữu mới ghi tên của cả vợ chồng (như: nhà ở, quyền
sử dụng đất...), song cũng không phải trong mọi trường hợp. Đối với các tài sản khác
mình, là quyền kiểm soát, làm chủ, chi phối tài sản đó theo ý chí
của mình. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm giữ tài
sản chung. Nhưng điều đó có nghĩa cả hai bên phải là người trực
tiếp nắm giữ, tài sản mà cho dù chỉ một bên nắm giữ tài sản (do
người kia đi công tác xa hoặc do một trong hai người cất giữ) thì cả
hai bên đều có quyền định đoạt, sử dụng đối với khối tài sản chung
đó. Quyền sử dụng là “quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi
6
tức từ tài sản”, quyền định đoạt là “quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu
tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó”. Với tư cách là đồng sở
hữu tài sản chung, vợ, chồng bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản
chung. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm bảo đảm đời
sống chung của gia đình, sao cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung đem lại lợi
ích nhiều nhất cho cuộc sống chung của vợ chồng; bảo đảm nghĩa vụ nuôi dưỡng,
giáo dục các con, cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình.
Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung khi thực hiện quyền sở hữu
(quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) không bị phụ thuộc bởi công sức
đóng góp của vợ chồng. Trong điều kiện thực tế của từng cặp vợ chồng, kể từ khi kết
hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân, do điều kiện về sức khỏe, nghề nghiệp chuyên
môn… đã dẫn tới thu nhập thực tế của mỗi bên vợ, chồng nhiều, ít, cao, thấp khác
nhau, và như vậy xét về “công sức đóng góp” nhằm tạo ra tài sản chung của vợ chồng
cũng có sự chênh lệch nhiều, ít khác nhau, nhưng không phải như vậy mà có sự
“chênh lệch” giữa vợ chồng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung.
1.2. Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc xác lập, thực
hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia
đình.
Do tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và cuộc sống chung của vợ chồng đòi hỏi
trò, vị trí ngườ phụ nữ trong gia đình và xã hội, được tự do lên tiếng
và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài
sản không lớn nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày
của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ, chồng khi định đoạt tài sản
chung đó luôn được coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của vợ và
chồng (dù chỉ có một trong hai bên định đoạt. Ví dụ, vợ, chồng dùng
8
tiền bạc, tài sản chung đảm bảo các nhu cầu về ăn, ở, học hành,
chữa bệnh,.. thì giao dịch này luôn được coi là đã có sự thỏa thuận
đương nhiên của vợ, chồng. Người chồng (hoặc vợ) không được
“nại” rằng giao dịch đó không có giá trị vì chưa được sự đồng ý của
mình.
1.3. Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc thực
nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được “chi dùng để bảo đảm nhu cầu
của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”(Khoản 2
Điều 28). Đó là nghĩa vụ phát sinh khi một bên hoặc cả hai bên vợ
chồng thực hiện hành vi vì lợi ích của gia đình hoặc nghĩa vụ phát
sinh theo thỏa thuận của vợ chồng. Trên cơ sở chế độ tài sản chung
vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình, quyền bình đẳng trong
thực hiện nghĩa vụ chung được xác định:
- Nếu căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ chồng và nghĩa vụ liên đới
trong việc làm phát sinh các nghĩa vụ tài sản thì có những nghĩa vụ
chung sau: Nghĩa vụ phát sinh có liên quan đến những công việc do
hai vợ chồng cùng tiến hành, bao gồm cả các khoản nợ phát sinh
trước khi kết hôn; những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện
công việc không vì lợi ích gia đình, nhưng được bên kia đồng ý
hợp nhất.
Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc thực hiện các quyền
năng của chủ sở hữu với tài sản chung và khối tài sản đó là tài sản
chung hợp nhất có thể phân chia, việc phân chia tài sản chung
không dựa trên nguồn gốc tài sản hình thành do đâu. Bởi vậy vợ
chồng cũng có quyền bình đẳng với nhau trong việc phân chia khối
tài sản chung đó. Quyền bình đẳng vợ, chồng trong việc chia tài sản
chung thể hiện trong hai trường hợp: Chia tài sản chung trong thời
kì hôn nhân và chia tài sản chung do chấm dứt hôn nhân.
10
2.1. Quyền bình đẳng vợ, chồng trong việc chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân (Điều 29 Luật hôn nhân và gia
đình 2000).
Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân là việc chuyển
dịch một phần hay toàn bộ tài sản trong khối tài sản chung sang tài
sản riêng của vợ, chồng trong thời gian tồn tại quan hệ hôn nhân.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân khi có lý do chính
đáng được pháp luật thừa nhận và nó có thể thực hiện thông qua
thỏa thuận bằng văn bản của vợ, chồng hoặc quyết định của Tòa án
(Khoản 1). Quy định này thể hiên rõ quyền bình đẳng của vợ chồng
đối với quyền định đoạt tài sản chung, tạo điều kiện thuận lợi trong
việc chia tài sản chung để mỗi bên vợ, chồng tham gia các giao dịch
dân sự hợp pháp. Tuy nhiên, “việc chia tài sản chung của vợ chồng
nhằm trốn tránh việc thực hiên nghĩa vụ dân sự sẽ không được
pháp luật công nhận”(Khoản 2) và quy định này không phải là gián
tiếp quy định chế định ly thân. Luật hôn nhân gia đình 2000 không
có chế định ly thân.
vợ, chồng là như nhau, bằng nhau, lao động trong gia đình cũng
được tính là lao động có thu nhập và về nguyên tắc vợ, chồng có
quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung. Nhưng Tòa án chỉ quyết định chia đôi tài sản chung khi xét
thấy công sức tạo lập, phát triển của vợ, chồng là như nhau, mà
cũng có thể quyết định chia phần nhiều hơn hoặc ít hơn cho một
trong hai người khi xem xét đến công sức đóng góp thực tế, hoàn
cảnh cụ thể mỗi bên (điểm a).
- “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc
đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có
khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” (điểm b).
Nguyên tắc này nhằm xóa bỏ triệt để quan niệm chế độ hôn nhân
và gia đình dước chế độ phong kiến, coi rẻ quyền lợi của vợ và con.
Cần hiểu rằng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa
12
thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phải trên cơ sở
pháp luật, tránh tùy tiện. Trong gia đình, họ là những con người cần
được ưu tiên trong việc phân chia tài sản, phù hợp với tư tưởng
nhân đạo trong quan hệ gia đình và xã hội.
- Việc phân chia tài sản chung khi ly hôn phải “Bảo vệ lợi ích chính
đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để
các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” (điểm c). Tùy
theo khả năng, tính chất nghề nghiệp chuyên môn của vợ, chồng,
khi chia tài sản chung phải đảm bảo được công dụng, giá trị của tài
sản, phù hợp với công việc, nghề nghiệp, phát huy được công dụng
tài sản của vợ, chồng trong sản xuất, kinh doanh. Cần tránh việc
chia tài sản mà làm mất đi công dụng, giá trị của tài sản, gây tổn
giữa vợ và chồng có đạtt được hay không phụ thuộc rất lớn vào vấn
đề này.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình, 2009, Đại học Luật Hà Nội.
NXB Công an Nhân dân.
2. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
3. Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005.
4. Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000. Bộ Tư pháp- Viện khoa học pháp lý (Đinh Mai Hương chủ biên)
5. Chế độ tài sản chung cùa vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam. TS Nguyễn Văn Cừ. NXB Tư pháp
6. Trang tìm kiếm thông tin: www.google.com.vn.
14
15