Tìm hiểu về nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước theo Luật Ngân sách và thực tế áp dụng - Pdf 34

Mục lục

MỞ ĐẦU
Cân đối ngân sách nhà nước là một vấn đề quan trọng được đặt ra đối với
mỗi Nhà nước, nó đảm bảo cho Nhà nước đó thực hiện tốt chức năng và nhiệm
vụ của mình. Cân đối ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng vì ngân sách
nhà nước là một công cụ tài chính cốt yếu đề Nhà nước điều phối toàn bộ xã
hội, giải quyết những vấn đề khó khăn của đất nước, đem lại cuộc sống đầy đủ
hơn cho người dân…Và để đảm bảo tốt vai trò của Nhà nước nói trên thì ngân
sách nhà nước phải được cân đối. Do đó, trong bài viết này em xin đi nghiên cứu
vấn đề: “Tìm hiểu về nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước
theo Luật Ngân sách và thực tế áp dụng”.
NỘI DUNG
I. Những lý luận chung về nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước
1. Khái niệm về cân đối ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước ( NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Điều 1 Luật
ngân sách 2002). NSNN là một phạm trù vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang
tính chất pháp lý. Dưới góc độ kinh tế, ngân sách nhà nước được hiểu là bản dự
toán các khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền
của nhà nước quyết định để thực hiện trong thời hạn thất định, thường là một
năm. Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, NSNN lại được hiểu là một đạo luật đặc
biệt do quốc hội ban hành để cho phép chính phủ thực hiện trong thời hạn xác
định.

1


Thu và chi ngân sách là hai vấn đề quan trọng để đảm bải cho ngân sách nhà
nước được cân đối, hai vấn đề này lại nằm trong mối tương quan giữa tài chính

2. Đặc điểm của nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước
Thứ nhất, cân đối NSNN phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi
NSNN nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tài khóa. Nó vừa là công cụ
thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, vừa bị ảnh hưởng
bởi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội.
Thứ hai, cân đối NSNN bao gồm cân đối giữa tổng thu và tổng chi, cân
đối giữa các khoản thu và các khoản chi NSNN, cân đối về phân bổ chuyển giao
nguồn lực giữa các các cấp trong hệ thống NSNN, đồng thời phải kiểm soát
được tình trạng NSNN để qua đó thực hiện được các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô và từng lĩnh vực, địa bàn.
Thứ ba, cân đối NSNN mang tính định lượng và tính tiên liệu. Trong quá
trình cân đối ngân sách nhà nước, người quản lý phải xác định các con số thu,
chi ngân sách nhà nước so với tình hình thu nhập trong nước, chi tiết hóa từng
khoản thu, chi nhằm đưa ra cơ chế sử dụng và quản lý nguồn thu phù hợp với
hoạt động chi, từ đó để làm cơ sở phân bổ và chuyển giao nguồn lực giữa các
cấp ngân sách. Cân đối ngân sách nhà nước phải dự đoán được các khoản thu,
chi ngân sách. Cân đối ngân sách nhà nước phải dự đoán được các khoản thu,
chi ngân sách một cách tổng thể để đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh
tế - xã hội.
3. Vai trò của việc thực hiện nguyên tắc cấn đối trong hoạt động ngân sách
nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Cân đối ngân sách nhà nước là một công cụ quan trọng để Nhà nước can
thiệp vào hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước, với vai trò quyết định đó thì
cân đối ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường có các vai trò sau:
Thứ nhất, việc thực hiện nguyên tắc cân đối trong hoạt động NSNN góp
phần ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà nước thực hiện cân đối NSNN thông qua chính
sách thuế, chính sách chi tiêu hàng năm và quyết định mức bội chi cụ thể nên có
nhiều tác động đến hoạt động kinh tế cũng như cán cân thương mại quốc tế. Từ
đó góp phần ổn định việc thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô
3

nhau, có những vùng đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, do đó cân đối
4


NSNN, đặc biệt cân đối trong ngân sách giữa các vùng miền với nhau sẽ đảm
bảo được sự công bằng và giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa người dân giữa các
vùng miền đó.
II. Nguyên tắc cân đối trong hoạt động NSNN theo Luật ngân sách
nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước là vấn đề rất quan trọng và cần thiết để Nhà
nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình. Luật NSNN năm 2002 (có
hiệu lực từ năm ngân sách 2004) được Quốc hội ban hành với mục đích “quản
lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN, củng cố
kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả NSNN và tài sản của nhà nước,
tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao
đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại”1.
Luật NSNN 2002 đưa ra các quy định về lập, chấp hành, kiểm tra, thanh
tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước và về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ
quan nhà nước các cấp trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, trong đó có nhiều nội
dung thể hiện nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước. Cụ thể,
Theo Luật ngân sách nhà nước 2002 thì nội dung của nguyên tắc cân đối trong
hoạt động NSNN bao gồm:
Thứ nhất: “NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu về thuế, phí,
lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng
cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ
hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu chi ngân sách”2. Nguyên tắc
này phân định ranh giới giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, thể hiện
sự thận trọng trong chính sách tài khóa của Việt Nam. Quy định trên của Luật

do tổng số chi ngân sách lớn hơn tổng số thu ngân sách. Vay bù bộ chi ngân sách
nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc không sự dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử
dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết hợ
khi đến hạn. Về mặt lí thuyết, vay bù đắp bội chi ngân sách là cần thiết để đảm
bảo năng lực chi ngân sách, đặc biệt là những khoản chi để phát triển kinh tế, từ
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, Nxb. CAND, Hà Nội, 2005, tr.35.

6


đó nâng cao năng lực ngân sách trong tương lai. Tuy nhiên, để đảm bảo khả
năng trả nợ, các khoản vay bù đắp bội chi thường cần được giới hạn ở một mức
nhất định (thông thường là khoản 5% GDP)4.
Vay bù đắp bội chi ngân sách bao gồm các khoản vay trong nước và ngoài
nước. Vay trong nước là các khoản vay từ các cá nhân, tổ chức trong nước thông
qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó có phương thức phổ biến nhất là
phát hành trái phiếu chính phủ; Vay nước ngoài là các khoản vay huy động từ
các chính phủ, tổ chức phi chính phủ hoặc tổ chức tài chính quốc tế theo các
hiệp định được kí kết giữa chính phủ nước ta với các tổ chức này hoặc phát hành
trái phiếu chính phủ ra nước ngoài. Các khoản vay này được sử dụng và hoàn trả
theo quy chế vay và trả nợ nước ngoài do Chính phủ ban hành.
Theo quy định của Luật ngân sách 2002, Vay bù đắp bội chi NSNN phải
đảm bảo nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục
đích phát triển và bảo đảm bố trí NSNN chủ động trả nợ khi hết hạn. Trong điều
kiện kinh tế thị trường như hiện nay thì vấn đề bội chi NSNN không thể tránh
khỏi với các quốc gia. Nhưng chưa hẳn bội chi NSNN là biểu hiện sự yếu kém
của nền kinh tế mà nó còn là một trong các cách thức tạo ra sự cân đối của
NSNN trong dài hạn, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Nguyên tắc
vay bù đắp bội chi nên dành cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân
sách để chủ động trả nợ khi hết hạn là rất cần thiết để đảm bảo ngân sách nhà

tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh.
Việc huy động vốn có thể được thực hiện dưới hình thức phát hành trái
phiếu chính quyền địa phương hoặc thông qua hợp đồng tín dụng, hợp đồng đầu
tư…
Việc huy động vốn trong nước của ngân sách địa phương không phải là
vay bù đắp bội chi ngân sách vì ngân sách địa phương được đảm bảo cân bằng
thu, chi. Tuy nhiên, việc cho phép huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng là để địa
phương phát huy tính chủ động trong việc tìm kiếm nguồn lực phát triển kinh tế
- xã hội trên cơ sở bảo đảm khả năng trả nợ khi đến hạn.
Như vậy, thông qua việc phan cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp
ngân sách đã tạo ra những thuận lợi đáng kể, góp phần vào việc ổn định và cân
8


đối ngân sách Nhà nước ở nước ta, nguồn thu ở ngân sách địa phương đã tăng
lên đáng kể, nhiều địa phương đã tự đảm bảo được vấn đề cân đối ngân sách ở
địa phương mình, mỗi địa phương đã có trách nhiệm hơn trong việc thu chi ở địa
phương mình. Trong cân đối ngân sách nhà nước, đặt ra vấn đề phải phân định
rõ ràng nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách là hoàn toàn hợp lý,
vì nhiều nhiệm vụ của mỗi cấp ngân sách là khác nhau: Ngân sách trung ương
phải nắm giữ các nguồn thu cơ bản, quan trọng của đất nước để từ đó thực hiện
vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế và thực hiện những nhiệm vụ chi cần thiết để
đảm bảo cho sự phát triển chung của đất nước.
III. Thực tế áp dụng nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà
nước hiện nay
Nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước có ý nghĩa hết
sức quan trọng. Kể từ khi luật ngân sách nhà nước chính thức được ban hành
đến nay, nguyên tắc này ngày càng thể hiện được vai trò và ý nghĩa của mình
trong các hoạt động ngân sách nhà nước ở Việt Nam. Thực tiễn áp dụng nguyên
tắc này kể từ khi luật ngân sách nhà nước được ban hành (năm 1996, sửa đổi bổ

2003; 0,45% GDP năm 2004; năm 2005 là 0,49% GDP.
3. Đối với vấn đề bội chi ngân sách và vay bù đắp chi
Bội chi NSNN chỉ tính đến bội chi ngân sách trung ương, còn ngân sách
địa phương phải đảm bảo cân bằng thu – chi. Trong giai đoạn 1997 – 2006, bội
chi NSNN vẫn nằm trong phạm vi an toàn, có thể kiểm soát và tôn trọng được
giới hạn mà quốc hội đề ra (mức bội chi bao gồm các khoản trả nợ gốc < 5%
GDP). Tuy nhiên, Theo Quyết toán Thu, Chi cân đối ngân sách nhà nước năm
2008 thì bội chi NSNN ở mức là 67,677 tỷ đồng bằng khoảng 4.58% GDP; năm
2010 mức bội chi là 120,500 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP. Những con số trên thực
sự đáng lo ngại đối với nước ta.
Với kết quả bội chi như trên, ta thấy chính phủ cũng cã có nhiều nỗ lực
trong việc duy trì và đảm bảo bội chi NSNN ở mức chấp nhận được. Trong xử lý
bội chi NSNN, các nguyên tắc cân đối NSNN được tuân thủ một cách triệt để,
10


các biện pháp bù đắp bội chi theo quy định của pháp luật được vận dụng một
cách linh hoạt, Nhà nước đã chấm dứt hoàn toàn việc phải phát hành tiền trực
tiếp để bù đắp bội chi, thay vào đó là tăng cường phát hành trái phiếu chính phủ
và tận dụng nguồn vốn vay nước ngoài dưới hình thức ODA nhằm đảm bảo đủ
nguồn lực tài chính để cân đối NSNN.
Theo cách tính bội chi NSNN của Việt Nam, hàng năm mức bội chi
NSNN được công bố không vượt quá 5% (trừ năm 2010) GDP nhưng có những
khoản chi như: chi cho công trình giao thông thủy lợi, chi kiên cố hóa trường
học thông qua trái phiếu chính phủ, công trái giáo dục lại để ngoài cân đối
NSNN, vì vậy thực tế con số bội chi NSNN còn lớn hơn 5%. Qua đó, tính minh
bạch trong cân đối NSNN chưa vận dụng triệt để khi xác định tỷ lệ bội chi
NSNN. Bên cạnh đó, vấn đề bội chi NSNN trong thời gian qua cũng tồn tại một
số vấn đề đáng quan tâm, cân nhắc để có những giải pháp tốt hơn trong xử lý bội
chi NSNN trong những năm tới như: số tiền vay đặc biệt là vay nước ngoài cho

vững. Để đảm bảo điều này, thời gian tới cần phải chuyển dịch cơ cấu thu
NSNN theo hướng giảm mức độ phụ thuộc vào các nguồn thu có liên quan đến
hoạtđộng ngoại thương và dầu khí. Tăng tỉ trọng các nguồn thu từ hoạt động
kinh tế trong nước, nâng tỷ trọng từ khu vực kinh tế tư nhân / GDP.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế và cải cách công tác quản lý
thu. Hệ thóng chính sách thuế cần được hoàn thiện theo hướng mở rộng diện
chịu thuế đồng thời với việc xác định hợp lý các mức thuế suất để đảm bảo được
tính công bằng và hiệu quả của hệ thống thuế, đáp ứng yêu cầu của quá trinhfh
ội nhập và đảm bảo nguồn thu cho NSNN.
Tôn trọng kỷ luật tài khóa, đổi mới chính sách phân bổ và sử dụng nguồn
lực tài chính của NSNN.
3. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện biện pháp bù đắp bội chi NSNNH đảm
bảo cân đối NSNN

12


Nghiên cứu và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến bội chi NSNN để từ đó lựa
chọn những giải pháp cho phù hợp. Chính phủ có thể linh hoạt xử lý bội chi
NSNN bằng cách cắt giảm những chi tiêu bất hợp lý, không hiệu quả.
Hoàn thiện các cách thức đo lường bội chi và biện pháp bù đắp bội chi
NSNN.
4. Mở rộng phân cấp quản lý NSNN để đảm bảo cân đối trong hệ
thống NSNN
Qua thực trạng phân cấp quản lý NSNN, vấn đề đáng chú ý gây nhiều bất
cập làm ảnh hưởng đến sự cân đối tổng thể trong NSNN là ngân sách trung
ương thực hiện cân đối thay cho ngân sách địa phương khi có thiếu hụt xảy ra.
Sau những ưu điểm, cơ chế này đã tại cho địa phương quá bị động và không
đảm bảo tính trách nhiệm cũng như tính minh bạch trong quá trình sử dụng và
quản lý nguồn lực tài chính ở địa phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status