Lý luận, những hạn chế và hướng hoàn thiện đảm bảo công bằng của chế độ Ưu đãi xã hội trong hệ thống pháp luật An sinh xã hội Việt Nam - Pdf 34

Đề tài: Lý luận, những hạn chế và hướng hoàn thiện đảm bảo công bằng của
chế độ Ưu đãi xã hội trong hệ thống pháp luật An sinh xã hội Việt Nam
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước bên cạnh việc chú
trọng đẩy mạnh về kinh tế thì cần phải quan tâm giải quyết các vấn đề xã
hội, đảm bảo bình ổn xã hội trong đó chăm lo đến lực lượng lớn những
người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, bảo vệ tổ quốc là
vấn đề cấp thiết hiện nay. Ưu đãi xã hội là một vấn đề quan trọng thu hút sự
quan tâm của Đảng và nhà nước ta, nó không những đã thể hiện trách nhiệm
của các cấp các ngành mà còn phản ánh truyền thống đạo lý cao đẹp của
nhân dân ta đối với những người có công đóng góp cho đất nước
Hiện nay vấn đề ưu đãi trợ cấp và các ưu đãi khác còn tồn tại nhiều bất cập
đòi hỏi Đảng, nhà nước mà trực tiếp là các cơ quan nhà nước thực hiện chế
độ trợ cấp phải kịp thời xử lý để đảm bảo sự công bằng trong việc chi trả trợ
cấp ưu đãi xã hội, góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội đối với đối tượng
này. Từ thực tế đó mà em chọn đề tài này nhằm đưa ra hướng hoàn thiện,
giải pháp đảm bảo sự công bằng hơn trong chế độ Ưu đãi xã hội hiện nay.
2. Thực trạng, ý nghĩa nghiên cứu đề tài
Hiện nay, thu nhập bình quân tính theo đầu người nước ta còn thấp, hơn nữa
lại thường xuyên phải gánh chịu hậu quả hết sức khốc liệt của thiên tai, bão
lụt, hạn hán và chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu
vực… Điều đó đã ảnh hưởng khá gay gắt đến việc thực hiện các chính sách
trong hệ thống an sinh xã hội. Vì vậy sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng
kinh tế với phát triển xã hội trên nguyên tắc công bằng và tiến bộ xã hội là
mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước
Khi chúng ta đánh giá đúng tình hình phát triển của mạng lưới an sinh xã
hội, các yếu tố căn bản của hệ thống, các mối quan hệ qua lại của nó, từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng chiến lược, một cơ chế hoạt
động phù hợp, đầu tư một cách thoả đáng, cân đối và khoa học với đầu tư
phát triển kinh tế xã hội là điều rất quan trọng và cần thiết. Vấn đề trợ cấp ưu

Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp,
phương pháp lịch sử, phương pháp liệt kê…
Kết cấu đề tài
Mở đầu
Nội dung
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI XÃ HỘI
1. Khái niệm pháp luật ưu đãi xã hội
1.1 Khái niệm ưu đãi xã hội
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì đối tượng ưu đãi người có công bao gồm các
nhóm: Người tham gia cách mạng, giúp đỡ cách mạng hoặc hy sinh vì sự
nghiệp cách mạng; Người có những đóng góp tài năng, trí tuệ trong văn hoá
5.
A.
B.
C.
D.


nghệ thuật, lao động, sản xuất xây dựng và bảo vệ đất nước như: anh hùng lao
động, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân, nghệ sỹ nhân dân…
Theo nghĩa hẹp, người có công là người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng,
dân tộc, nam nữ… có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ
trước cách mạng tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân
tộc và bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo
quy định của pháp luật.
Như vậy, đối tượng người có công dù tiếp cận theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì
họ đều là những người có thành tích xuất sắc đóng góp hoặc cống hiến cho đất

nhiên, có sự phân biệt về ưu đãi ( về cách thức và mức độ); Hình thức ưu đãi
khá phong phú, ban cấp ruộng đất dưới mọi hình thức như trao quyền sở hữu
vĩnh viễn, trao quyền sử dụng lâu dài hoặc có hạn định. Ngoài việc ưu đãi của
Vua, triều đình, các nhà nước phong kiến còn chú ý đến vai trò của cộng đồng
làng xã trong ưu đãi đối với người có công như cấp ruộng đất cho binh lính,
chăm lo vợ con cho người tử trận…
2.2 Pháp luật ưu đãi giai đoạn từ năm 1945 đến nay
* Giai đoạn từ 1945 đến 1954
Pháp luật giai đoạn này đưa ra khái niệm thương binh, tử sĩ; Quy định trợ cấp
hàng tháng đối với thương binh, thân nhân tử sĩ, quy định trợ cấp tạm thời, trợ
cấp đặc biệt đối với những trường hợp chưa được hưởng trợ cấp hàng tháng mà
có hoàn cảnh khó khăn; Quy định về việc huấn luyện nghề, sắp xếp việc làm,
chính sách ưu tiên chia ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn đi dân
công; Gia đình tử sĩ được nhà nước tặng “ Bằng Tổ quốc ghi ơn”; Thành lập hồ
sơ thương binh, hồ sơ tử sĩ; Tổ chức bộ máy Bộ thương binh, Cựu binh; Thành
lập mỗi khu kháng chiến một Sở thương binh - Cựu binh; thành lập trong mỗi
tỉnh một Ty thương binh - Cựu binh.
*Giai đoạn từ 1954 đến 1975:
Giai đoạn này pháp luật ưu đãi có một số đặc trưng cơ bản sau: Đối tượng
hưởng phụ cấp thương tật được mở rộng đến những dân quân, du kích đã tham
gia chiến đấu với địch, với những cảnh vệ vì chiến đấu với địch hay thừa hành
công vụ trong thời gian kháng chiến mà bị thương tật; Mức ưu đãi còn có sự
phân biệt: Thương binh được hưởng trợ cấp cao hơn dân quân, du kích, cảnh vệ,
thanh niên xung phong bị thương, mức phụ cấp thương tật khi đang công tác
thấp hơn mức phụ cấp thương tật khi về gia đình; Sửa đổi tiêu chuẩn liệt sĩ thay
tử sĩ, cấp bằng Tổ quốc ghi ơn, xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ; Quy định việc
tổ chức học văn hoá, học nghề, tổ chức sản xuất, sắp xếp việc làm cho thương
binh, thân nhân liệt sĩ.
* Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985: Giai đoạn này pháp luật quy định bổ
sung các trường hợp ưu đãi người có công giúp đỡ cách mạng; Quy định bổ

thiết thực đối với người được hưởng ưu đãi mà do còn được áp dụng đối với hầu
hết các đối tượng ưu đãi. Bên cạnh ý nghĩa giúp đỡ về vật chất, sự trợ cấp ưu
đãi cũng thể hiện long biết ơn, trách nhịêm và tình cảm của đảng, nhà nước và
nhân dân ta đối với người được ưu đãi.
1.1 Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước 01 tháng 01 năm
1945.
1.1.1 Khái niệm
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước
ngày 01 tháng 01 năm 1945.
1.1.2 Chế độ
Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01
năm 1945 theo điều 9 pháp lệnh ưu đãi người có công đã được sửa đổi bổ sung
năm 2012 bao gồm: “2. Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng
trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 bao gồm:
a) Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng;


b) Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; cấp phương tiện trợ
giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết;
c) Cấp tiền mua báo Nhân dân; được tạo điều kiện tham gia sinh hoạt văn hóa,
tinh thần phù hợp;
d) Được Nhà nước hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao và hoàn cảnh
của từng người”
Ngoài ra theo quy định tại pháp lệnh thì người hoạt động cách mạng trước ngày
01 tháng 01 năm 1945 chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản
trợ cấp và mai táng phí; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con được hưởng trợ cấp
tiền tuất hàng tháng theo quy định của Chính phủ.
Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 được ưu
tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo

này
1.3. Chế độ ưu đãi đối với liệt sĩ và gia đình liệt sĩ
1.3.1. Khái niệm liệt sĩ và gia đình liệt sỹ
Theo khoản 1 điều 11 Pháp lệnh ưu đãi người có công 2005 đã được sửa đổi bổ
sung năm 2012 thì:
“1. Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân
được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
b) Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch;
c) Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không
chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt
ngục mà hy sinh;
d) Làm nghĩa vụ quốc tế;
đ) Đấu tranh chống tội phạm;
e) Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an
ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
g) Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
h) Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan
có thẩm quyền giao;
i) Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc
phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm;
k) Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh này chết vì vết thương tái phát;
I) Người mất tin, mất tích trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d,
đ, e và g khoản này”
Gia đình liệt sĩ được hiểu là những thân nhân của liệt sĩ được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp “ Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” gồm vợ hoặc chồng, con,

nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế thuộc một
trong những trường hợp sau: + Có 2 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là
liệt sĩ + Có 2 con mà cả hai con là liệt sĩ hoặc chỉ có một con mà con đó là liệt
sĩ. + Có từ 3 con trở lên là liệt sĩ. Người con là liệt sĩ bao gồm con đẻ và con
nuôi của bà mẹ được pháp luật thừa nhận và được Chính Phủ tặng Bằng Tổ
quốc ghi công.
Bà mẹ có đủ một trong những trường hợp trên phải chịu đựng nỗi đau mất con,
mất chồng mà bị tâm thần, vẫn được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Bà mẹ có đủ một trong bốn trường hợp nêu trên có con tham gia hàng ngũ địch,
nhưng bà mẹ có thái độ chính trị tốt thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng
danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
1.4.2 Chế độ
Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ cấp hàng tháng là 1983000 đồng và
phụ cấp hàng tháng là 931000 đồng. Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ
cấp một lần bằng 22200000 đồng (gấp 20 lần mức chuẩn). (Theo nghị định số
47/2012/NĐ-CP)
1.5 Chế độ ưu đãi đối với anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng
lao động


1.5.1 Khái niệm
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là người được nhà nước tuyên dương
anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến
đấu. Anh hùng lao động là người có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động,
sản xuất phục vụ kháng chiến được nhà nước tuyên dương.
1.5.2 Chế độ
Các chế độ ưu đãi đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng
Lao động bao gồm: Trợ cấp hàng tháng; Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi
sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết;Ưu tiên trong
tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo; Ưu tiên giao hoặc

1.6.2 Chế độ
Các chế độ ưu đãi đối với thương binh bao gồm: + Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp
hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh;
+ Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động;
cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng
người và khả năng của Nhà nước; + Ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; căn
cứ vào thương tật và trình độ nghề nghiệp được tạo điều kiện làm việc trong cơ
quan nhà nước, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động; ưu đãi
trong giáo dục và đào tạo; + Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước
biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được miễn hoặc giảm thuế, miễn nghĩa vụ lao
động công ích theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ
vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước và địa phương.
Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được Nhà nước mua
bảo hiểm y tế cho con từ mười tám tuổi trở xuống hoặc trên mười tám tuổi nếu
còn tiếp tục đi học hoặc bị bệnh, tật nặng từ nhỏ khi hết thời hạn hưởng bảo
hiểm y tế vẫn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên an dưỡng ở gia đình
thì người phục vụ được Nhà nước mua bảo hiểm y tế và trợ cấp hàng tháng.
Khi thương binh chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp
và mai táng phí.Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết
do ốm đau, tai nạn thì thân nhân được trợ cấp tiền tuất theo quy định của Chính
phủ.
Con của thương binh được ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong
giáo dục và đào tạo.
Cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho thương binh, bệnh binh được Nhà
nước hỗ trợ cơ sở vật chất ban đầu, bao gồm nhà xưởng, trường, lớp, trang bị,
thiết bị, được miễn hoặc giảm thuế, vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật.
Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với thương binh, người hưởng chính sách như
thương binh được hưởng theo Nghị định số 47/2012/NĐ-CP.
1.7 Chế độ ưu đãi đối với bệnh binh

giáo dục và đào tạo.
Mức trợ cấp phụ cấp ưu đãi mà bệnh binh được hưởng theo quy định tại Nghị
định số 47/2012/NĐ-CP.
1.8 Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng
chiến bị địch bắt, tù đày
1.8.1. Khái niệm
Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày là
người trong thời gian ở tù không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng
chiến, không làm tay sai cho địch và được tổ chức, cơ quan có thẩm quyền công
nhận. Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù
đày được nhà nước tặng “Kỷ niệm chương”
1.8.2 Chế độ
Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng
chiến bị địch bắt tù, đày bao gồm: Tặng Kỷ niệm chương; Trợ cấp một lần; Bảo


hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ
chỉnh hình căn cứ vào tình trạng bệnh tật của từng người và khả năng của Nhà
nước.
Khi người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày
chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí.
Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày có
vết thương thực thể được hương trợ cấp hàng tháng như thương binh cùng loại.
Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi của người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng
chiến bị địch bắt, tù đày áp dụng theo quy định tại Nghị định số 47/2012/NĐCP hiện hành.
1.9 Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc,
bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
1.9.1 Khái niệm
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa
vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được nhà nước tặng thưởng Huân

người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Huy chương kháng
chiến được hưởng trợ cấp một lần; Nhà nước mua bảo hiểm y tế; khi chết thì
người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí.
4. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện hưởng chế độ ưu đãi đối với người có
công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc
ghi công", Bằng "Có công với nước", Huân chương kháng chiến hoặc Huy
chương kháng chiến.
5. Người đã được công nhận và hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 9,
Điều 10 hoặc Điều 30 thì không thuộc đối tượng áp dụng của Điều này”
Người có công giúp đỡ cách mạng được hưởng trợ cấp, phụ cấp ưư đãi theo quy
định tại Nghị định hiện hành
1.11. Chế độ ưu đãi đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị
nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam
1.11.1 Đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi
Những người được hưởng chế độ khi họ bị nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử
dụng trong chiến tranh Việt Nam gồm người bị hậu quả trực tiếp và người bị
hậu quả gián tiếp của chất độc hoá học.
Thứ nhất, người tham gia kháng chiến bị hậu quả trực tiếp của chất độc hoá học
khi tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng bị Mỹ sử dụng
chất độc hoá học gồm: Cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
viên quốc phòng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; Cán bộ chiến sĩ, công
nhân viên thuộc lực lượng công an nhân dân; Công an, dân quân du kích, tự vệ
địa phương; Cán bộ, công nhân viên chức các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội cách mạng; Cán bộ
thôn ấp, xã, phường trong hệ thống Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể chính
trị - xã hội, cách mạng; Thanh niên xung phong tập trung theo Quyết định số
104/1999/ QĐ-TTg ngày 14/4/1999 của Thủ tướng Chính Phủ + Dân công hoả
tuyến.
Thứ hai, người bị hậu quả gián tiếp của chất độc hoá học bao gồm con đẻ còn
sống của những đối tượng trên.

do điều kiện khách quan không đi được, ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động cách
mạng.); Quân nhân, cán bộ được Đảng cử đi làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, Cam
puchia sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
1.12.2 Chế độ ưu đãi đối với thanh niên xung phong trong chiến đấu
Thanh niên xung phong trong kháng chiến bao gồm các đối tượng sau: Thanh
niên xung phong tập trung tham gia kháng chiến trong thời gian từ ngày
15/7/1950 đến ngày 30/4/1975 kể cả thanh niên xung phong làm nhiệm vụ khắc
phục hậu quả chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thời kỳ 19551964, đã hoàn thành nhiệm vụ trở về gia đình hoặc đã hy sinh trong khi làm
nhiệm vụ.
Các trường hợp sau không được coi là thanh niên xung phong trong kháng
chiến: Dân công hoả tuyến, dân công thời chiến; Công nhân vận tải phục vụ
thời chiến; Người dân thực hiện nghĩa vụ lao động tại địa phương; Những thanh


niên xung phong bị kết án tù trên 5 năm; Những trường hợp tự bản thân thanh
niên xung phong gây nên bị thương hoặc chết; Thanh niên xung phong thời ký
sau 30/4/1975.
2. MỘT SỐ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI KHÁC
2.1. Chế độ ưu đãi về chăm sóc sức khoẻ
Chăm sóc sức khoẻ là một trong những nhu cầu thiết yếu và quan trọng đối với
người có công. Pháp luật quy định những người có công nếu không phải là
người hưởng lương, hưởng bảo hiểm xã hội thì được nhà nước mua bảo hiểm y
tế, bệnh viện dân y hoặc bệnh viện quân đội. Ngoài ra, nhà nước và xã hội còn
thực hiện các hoạt động khác để chăm sóc đời sống cho người có công như:
thành lập các trung tâm điều dưỡng, trung tâm chỉnh hình và phục hồi chức
năng cho thương binh…
2.2 Chế độ ưu đãi về giáo dục và đào tạo
Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chăm sóc đến đời sống người có công và thân
nhân của họ trên các lĩnh vực khác nhau đặc biệt là chế độ ưu đãi về giáo dục
đào tạo. Pháp luật ưu đãi người có công quy định đối tượng được hưởng trợ cấp,

đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên, trong đó có nhóm đối tượng
của hệ thống an sinh xã hội như người có công, người nghỉ hưu trí, người nghỉ
do mất sức lao động, người già cô đơn, người tàn tật….
Chính vì vậy ngay từ khi giành được độc lập, thiết lập nền dân chủ cộng hoà
cho tới nay, đặc biệt qua hơn 10 năm đổi mới, chúng ta đã từng bước hoàn thiện
mạng lưới an sinh xã hội, tạo môi trường pháp lý hành chính thuận lợi bằng việc
ban hành chính sách, cơ chế, giải pháp để để bảo đảm cuộc sống của các nhóm
đối tượng, đặc biệt là nhám đối tượng ưu đãi xã hội.
Trong 5 năm trở lại đây, thực hiện cam kết Hội nghị thượng đỉnh thế giới về
phát triển xã hội được tổ chức tại Copenhaghen năm 1995, Việt Nam tích cực
đẩy mạnh phát triển mạng lưới an sinh xã hội bằng việc ban hành các chính
sách, cơ chế, giải pháp và các chương trình Quốc gia nhằm “ tạo ra mạng lưới
an sinh xã hội”cho các đối tượng xã hội . Đúng như quan điểm của Chính phủ
Việt nam tại Hội nghị thế giới Côpenhaghen 1995: “Tăng trưởng kinh tế phải
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu… Không chờ đợi đến khi
đạt đến trình độ phát triển kinh tế cao mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội, càng không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển kinh tế đơn
thuần”. Mấy năm qua chi phí cho chương trình an sinh xã hội ở Việt Nam tăng
lên từ 8.000 nghìn tỷ đồng năm 1995 lên hơn 9.300 tỷ đồng năm 1997 và
12.000 tỷ đồng năm 2001. Hơn 90% nguồn chi cho lĩnh vực này chủ yếu là lấy
từ nguồn ngân sách Trung ương, chỉ 0,9% là lấy từ nguồn ngân sách địa
phương. Do ưu tiên đặc biệt nguồn chi hỗ trợ ưu đãi người có công với cách
mạng, nguồn chi này có lẽ vẫn được bảo đảm bằng ngân sách Nhà nước trong 5
năm tới.
Chế độ trợ cấp với người có công được thực hiện từ năm 1995 theo qui định của
Pháp lệnh ưu đãi ngươì có công với cách mạng và một số văn bản pháp qui đơn
hành khác của Chính phủ. Có thể phân ra các loại trợ cấp như: Trợ cấp một lần,
trợ cấp thường xuyên hàng tháng và một số chế độ trợ cấp khác. Những chế độ
trợ cấp được qui định khá cụ thể, chi tiết, theo từng mức khác nhau cho từng
diện đối tượng. Phải khẳng định rằng chế độ trợ cấp ưu đãi xã hội bước đầu phù

2.1. Những vấn đề bất hợp lý trong công tác xác nhận người có công,
*Chế độ ưu đãi được thực hiện sau khi hoàn thiện công tác xác nhận người có
công. Nói khác đi, công tác xác nhận bao giờ cũng đi trước để thực hiện chế độ
ưu đãi. Hiện tại, công tác xác nhận còn nhiều vấn đề bất hợp lý.
Đơn cử như việc xác nhận bệnh binh và người hoạt động kháng chiến bị nhiễm
chất độc hoá học, hai diện đối tượng này suy cho cùng họ đều là người hoạt
động kháng chiến bị bệnh tật. Tuy vậy, điều kiện xác nhận lại hoàn toàn khác
nhau, thậm chí còn có yếu tố trái ngược nhau. Tại Điều 17, Nghị định
54/2006/NĐ-CP) quy định, bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân bị mắc
bệnh thuộc một trong các trường hợp sau:
- Chiến đấu, tiễu phỉ, trừ gian, trấn áp phản cách mạng, truy bắt gián điệp, biệt
kích, tội phạm.
- Trực tiếp phục vụ chiến đấu: tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm bảo giao
thông liên lạc, tiếp tế lương thực, thực phẩm, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng
hoá khi bị địch bắn phá.
- Trong khi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sỹ ở vùng rừng núi, hải đảo và ở
nước ngoài hoặc đã xuất ngũ dưới một năm mà bệnh cũ tái phát phải điều trị tại
bệnh viện.
- Hoạt động từ ba năm trở lên ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn. Hoạt động chưa đủ ba năm ở địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc
biệt khó khăn nhưng có đủ mười năm trở lên công tác trong quân đội nhân dân,


công an nhân dân.
- Đã có đủ mười lăm năm công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân
nhưng không đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng chế độ hưu trí. Trong thời gian
được tổ chức phân công đi làm nhiệm vụ quốc tế.
- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng an
ninh.
- Mắc bệnh do một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6

Mức trợ cấp sẽ chưa thể coi đã là ưu đãi bởi chưa đảm bảo nhu cầu tối thiểu
nhất cho bản thân, thực tế họ còn phải gánh vác việc nuôi con, phụ giúp gia
đình.
Một yếu tố khẳng định khác, là mức trợ cấp còn phụ thuộc vào chính sách tiền
lương, điều chỉnh theo mức lương tối thiểu là không hợp lý, chính sách tiền
lương tạo động lực thúc đẩy năng suất lao động , chất lượng và hiệu quả công


việc, chuyển việc phân phối bằng hiện vật là chủ y ếu sang phân phối theo giá
trị thông qua tiền lương, trong khi chính sách ưu đãi thông qua trợ cấp phải phù
hợp với tình hình kinh tế xã hội, được đảm bảo bằng ngân sách nhà nước và tính
chất xã hội hóa ngày càng cao.
2.2.2 Một số chế độ bất hợp lý chưa đạt sự công bằng còn biểu hiện cụ thể ở
chế độ ưu đãi:
Trước hết, là chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho người có công. Theo Pháp
lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (Điều 4): Chính phủ quy định mức
trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng đối với người có công với cách mạng và
thân nhân của họ bảo đảm tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã
hội. Thời gian qua, với lộ trình cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp
ưu đãi người có công, Chính phủ đã ban hành các nghị định điều chỉnh chế độ
trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công. Song một điều lưu ý là chế độ trợ cấp ưu
đãi chưa tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội. Còn chế độ
trợ cấp ưu đãi một lần cũng tồn tại nhiều điểm bất hợp lý. Người hoạt động cách
mạng trước năm 1945, người hoạt động cách mạng từ 01/1/1945 đến trước Tổng
khởi nghĩa 19/8/1945 chết, thân nhân hưởng trợ cấp ưu đãi một lần. Trong khi
đó người hoạt động kháng chiến được khen tặng Huân, Huy chương kháng
chiến chết; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị tù đày chết;
người có công giúp đỡ cách mạng chết và người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm chất độc hoá học chết nay đủ điều kiện xác nhận thì thân nhân của họ lại
không được hưởng trợ cấp ưu đãi một lần.

những căn cứ sau đây để tính trợ cấp ưu đãi xã hội:
· Mức chi phí tối thiểu cho nhu cầu cá nhân bình quân trong cả nước
· Mức thu nhập bình quân tính theo đầu người trong cả nước
· Mức sống trung bình của người dân trên cả nước
Việc đưa ra những căn cứ để tính để tính mức trợ cấp ưu đãi xã hội cần hết sức
cụ thể khách quan, hài hoà và hợp lý so với đời sống xã hội nói chung.
Thứ ba: Mức trợ cấp cho người có công phải được điều chỉnh phù hợp với tình
hình kinh tế xã hội, với đặc điểm của từng diện đối tượng và góp phần quan
trọng vào việc ổn định và nâng cao đời sống của đối tượng.
Đặc biệt ở nước ta số lượng người có công lớn, đời sống của họ còn gặp không
ít khó khăn vì vậy cần phải cải cách chế độ trợ cấp ưu đãi. Trình tự tiến hành
cần được quan tâm, phải có bước đi nhanh và phù hợp hơn. Cũng cần phải quan
tâm đến việc cải cách thể chế- chính sách ưu đãi xã hội hiện nay. Một vấn đề đặt
ra là ở một nước đặc thù, có nhiều đối tượng chính sách, có nhiều diện khác
nhau như vậy có cần thiết Nhà nước ban hành Luật ưu đãi xã hội hay không?
3.2 Giải pháp hoàn thiện chế độ ưu đãi để ngày càng đạt được sự công
bằng
Một là, hoàn thiện chế độ trợ cấp ưu đãi: Theo lộ trình cải cách tiền lương theo
đúng quy định của pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và triển khai
Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá X), trợ cấp ưu đãi
người có công tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội. Có
những yếu tố cần lưu ý khi thực hiện vấn đề này: ưu đãi xã hội đối với người có
công ở Việt Nam nằm trong chiến lược an sinh xã hội. An sinh xã hội được đề
cập, phổ quát từ sau Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng. Lộ trình cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có
công cũng là một trong những nội dung thực hiện chiến lược an sinh xã hội.
Mặt khác, trợ cấp ưu đãi người có công được thực hiện với nguồn ngân sách khá
lớn ( năm 2010 là gần 20.000 tỷ đồng) cho gần 1,5 triệu người hưởng thường
xuyên. Chúng ta có một sự lựa chọn là điều chỉnh trợ cấp ưu đãi xã hội tương
ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội với cách thức lấy mức tiêu

đã mất, người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc hoá học đã mất… nay đủ
điều kiện xác nhận thì thân nhân của họ cũng phải được giải quyết chế độ ưu đãi
một lần. Đây là một công tác lớn về hai mặt: xác nhận và bảo đảm ngân sách để
thực hiện chế độ. Không chỉ cần với hoạt động quản lý mà còn cần phải huy
động một nguồn ngân sách lớn để thực hiện.
KẾT LUẬN
Tóm lại, trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, ưu đãi xã hội chiếm một vị
trí rất lớn và đặc biệt. Đây là một nét đặc thù ở một đất nước có ngót 1/2 thế
kỷ kháng chiến chống xâm lược. Trong ưu đãi xã hội thì trợ cấp ưu đãi là
một vấn đề mà nhiều năm nay, Chính phủ, các nhà quản lý, cơ quan quản
lý…quan tâm. Bởi đây là một vấn đề rất quan trọng và mang ý nghĩa tri ân,
lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến
thương binh, liệt sỹ, vì họ là những người đã cống hiến xương máu, hy sinh
tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân.
Ngày nay, khi xã hội phát triển, nhưng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa không làm triệt tiêu hoặc kìm hãm tiến bộ và công bằng xã
hội. Ưu đãi xã hội được quan tâm càng góp phần làm ổn định, phát triển kinh
C.


tế xã hội, thực hiện an sinh xã hội, góp phần ổn định và ngày một nâng cao
đời sống của các đối tượng chính sách.
D.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ngày 29 tháng 6 năm 2005;
2. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công
với cách mạng năm 2012;
3. Nghị định số 47/2012/N Đ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status