TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
TIỂU LUẬN:
CHẾ ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ
NĂM 2005
TP HCM, tháng 10 năm 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
TIỂU LUẬN:
CHẾ ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ
NĂM 2005
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
1.
2.
3.
4.
5.
6.
TP HCM tháng 10 năm 2011
Điểm
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên chúng em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học
Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để sinh viên chúng em có
một môi trường học tập thoải mái về cơ sở hạ tầng cũng như cơ sở vật chất.
Chúng em xin cảm ơn khoa Lý luận chính trị đã giúp chúng em được mở mang
tri thức về môn Pháp Luật Đại Cương, Chúng em chân thành cảm ơn cô Lương Thị
Thùy Dương đã hướng dẫn để nhóm chúng em hoàn thành tiểu luận này. Hi vọng
thông qua những nỗ lực tìm hiểu của tất cả các thành viên, nhóm sẽ giúp các bạn
hiểu rõ hơn chế định quyền sở hữu trong bộ luật dân sự năm 2005.
Tuy nhiên, với những giới hạn về kiến thức và thời gian, trong quá trình tìm hiểu
Nhóm 5 không tránh khỏi thiếu sót, mong cô và các bạn tận tình góp ý để chúng em
hoàn thiện hơn nữa những kiến thức của mình.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Mục Lục
PHẦN 1 MỞ ĐẦU..................................................................................................................................... 1
1) Giới thiệu............................................................................................................................................ 1
2) Mục đích- yêu cầu................................................................................................................................ 1
3) Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................................................... 1
4) Phương pháp nghiên cứu.................................................................................................................... 1
5) Phạm vi nghiên cứu............................................................................................................................. 1
6) Kết quả nghiên cứu.............................................................................................................................. 1
Nhận thấy được một số điểm mới trong chế định quyền sở hữu trong bộ luật dân sự năm 2005 so với bộ
luật dân sự năm 1995............................................................................................................................... 1
PHẦN HAI: NỘI DUNG.............................................................................................................................. 2
Phải dựa trên những lý luận thực tiễn để nghiên cứu, căn cứ trên nguồn dữ liệu đáng
tin cậy. Sau khi nghiên cứu phải nắm vững và hiểu rõ nội dung chế định quyền sở
hữu trong bộ luật dân sự năm 2005
3) Đối tượng nghiên cứu
Chế định quyền sở hữu trong bộ luật dân sự năm 2005
4) Phương pháp nghiên cứu
Lô-gic, lịch sử, duy vật biện chứng.
5) Phạm vi nghiên cứu
Bài tiểu luận được tiến hành nghiên cứu tại trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí
Minh, tháng 10/ 2011, tìm hiểu về những chế định quyền sở hữu trong bộ luật dân
sự năm 2005
6) Kết quả nghiên cứu
Nhận thấy được một số điểm mới trong chế định quyền sở hữu trong bộ luật dân sự
năm 2005 so với bộ luật dân sự năm 1995.
1
PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chương 1: Tìm hiểu chung về chế định quyền sở hữu
1.1 Khái niệm
Sở hữu (quan hệ sở hữu) là mối quan hệ xã hội về việc chiếm hữu những của
cải vật chất trong xã hội. Đây là quan hệ giữa người với người mang nội dung tài
sản chứ không phải là quan hệ giữa người với tài sản. Tuy nhiên, quan hệ sở hữu
luôn luôn gắn liền với một tài sản nhất định và nó tồn tại trong xã hội có quan hệ xã
hội và có tài sản. Mỗi chế độ xã hội có quan hệ tài sản nhất định và nó tồn tại trong
mọi xã hội có quan hệ xã hội và có tài sản. Mỗi chế độ xã hội có một chế độ sở hữu
tương ứng làm cơ sở cho nền sản xuất của xã hội đó. Ở Việt Nam hiện nay, nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu
Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy
định của pháp luật.
Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải
tuân theo trình tự, thủ tục đó.
Ðiều 197. Quyền định đoạt của chủ sở hữu
Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực
hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài
sản.
Ðiều 198. Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy
quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Người được chủ sở hữu ủy quyền định đoạt tài sản phải thực hiện việc định đoạt
phù hợp với ý chí, lợi ích của chủ sở hữu.
Ðiều 199. Hạn chế quyền định đoạt
1. Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do pháp luật quy định.
2. Khi tài sản đem bán là di tích lịch sử, văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên
mua.
Trong trường hợp pháp nhân, cá nhân, chủ thể khác có quyền ưu tiên mua đối với
tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải
dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.
3
c) Sở hữu tập thể
Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể
khác do cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức, hợp tác sản xuất,
kinh doanh nhằm mục đích thực hiện mục tiêu chung được quy định trong Điều lệ
theo nguyên tắc tự nguyên, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi. Tài
sản thuộc sở hữu tập thể được hình thành từ các nguồn: Vốn góp của các thành
f) Sở hữu chung
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Tài sản thuộc sở
hữu chung là tài sản chung.Tài sản chung là một tài sản hoặc một tập hợp tài sản
không thể phân chia thành các phần khác nhau và các chủ sở hữu chỉ có thể khai
thác được công dụng vốn có của tài sản nếu giữ nguyên kết cấu ban đầu của nó. Sở
hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Sở hữu
chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở
hữu được xác định đối với tài sản chung. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung
mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với
tài sản chung. Sở hữu chung hợp nhất lại chia thành sở hữu chung hợp nhất có thể
phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.
5
Chương 2: Nội dung cơ bản của chế định quyền sở hữu
Quyền sử hữu là chế định trung tâm của Luật dân sự, là tổng hợp các quyền năng
của chủ sở hữu đối với tài sản của mình theo quy định của pháp luật.Quyền quyền
sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự, cho nên nó cũng bao gồm ba thành phần:
chủ thể, khác thể, nội dung.
2.1 chủ thể của quyền sở hữu
Còn gọi là chủ sở hữu, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác (hộ gia đình,
tổ hợp tác…) có đủ ba quyền năng pháp lý là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt tài sản.
2.2 khách thể của quyền sở hữu
Là tài sản bao gồm:
- Vật có thực: chính là đói tượng của thế giới vật chất: Động vật, thực vật, vật với ý
nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí) có thể đáp ứng được nhu cầu nào đó
của con người. Như vậy, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự
chiếm hữu, kiểm soát của con người và có thể xác định được giá trị thì mới trở
4. Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở
hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều
kiện do pháp luật quy định;
5. Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp
với các điều kiện do pháp luật quy định;
6. Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Ðiều 184. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu
Trong trường hợp chủ sở hữu chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở
hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản
nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường
hợp chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy
định khác.
Ðiều 185. Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản
1. Khi chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản cho người khác thì người được ủy quyền
thực hiện quyền chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do
chủ sở hữu xác định.
2. Người được ủy quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài
sản được giao theo căn cứ về thời hiệu quy định tại khoản 1 Ðiều 247 của Bộ luật
7
này.
Ðiều 186. Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự
1. Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội
dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải
thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch.
2. Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền
chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác, nếu được chủ sở hữu đồng ý.
Trong đời sống thường ngày xảy rs trường hợp có những người không phải là chủ
sở hữu tài sản nhưng vẫn chiếm hữu tài sản.vấn đề cần phải xem xét là sự chiếm
hữu của người đó có hợp pháp hay không? Vì vậy, cần phải phân biệt 2 loại chiếm
hữu tài sản:
+ chiếm hữu hợp pháp: là hình thức chiếm hữu có căn cứ pháp luật.Đó là sự chiếm
hữu tài sản của chủ sở hữu.NGười không phải là chủ sở hữu chỉ được coi là chiếm
hữu hợp pháp khi có sự chuyển giao tài sản của chủ sở hữu thông qua hợp đồng dân
sự và một số trường hợp khác do pháp luật quy định như: người phát hiện và giữ tài
sản vô chủ, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, bị chìm đắm,, chôn giấu…
Như vậy người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong
trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao tài sản hoặc do pháp luật quy định
+ chiếm hữu bất hợp pháp: là việc chiếm hữu của một người đối với một tài sản mà
không dựa trên những cơ sở của pháp luật. Cụ thể đó là những trường hợp người
chiếm hữu tài sản vơi tư cách không phải là chủ sở hữu nhưng cũng không được
chủ sở hữu chuyển giao tài sản và pháp luật cũng không quy định người đó được
quyền chiếm hữu tài sản.
Trong việc chiếm hữu bất hợp pháp thường xảy ra hai khả năng sau:
Chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình: là người chiếm ữu kông có căn cứ pháp luật,
nhưng họ không thể biết và pháp luật không buộc người đó phải biết việc chiếm
hữu của mình là bất hợp pháp. Ví dụ:A trộm chiếc điện thoại di động rồi bán chiếc
điện thoại di động đó cho B, nhưng B không biết tài sản là do A trộm cắp mà có nên
vẫn mua nó.
Chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình: là người chếm hữu không có căn cứ pháp
luật biết đó là chiếm hữu bất hợp pháp hoặc tuy không biết nhưng pháp luật quy
định cần phải biết rằng việc chiếm hữu của mình là bất hợp pháp. Ví dụ: anh C mua
một chiếc xe máy không có giấy tờ ở cửa hàng D(xe máy là tài sản phải có giấy
chứng nhận đăng kí sở hữu).
9
tế của chủ sở hữu. Chủ sở hữu có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi,
lợi tức của tài sản theo ý chí của mình. Thông thường chủ sở hữu trực tiếp sử dụng
10
tài sản của mình nhưng cũng có thể chuyển giao cho người khác trên cơ sở một hợp
đồng được thỏa thuận giữa hai bên chủ thể.Như vậy, người không phải là chủ sở
hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển
giao quyền sử dụng hoặc các trường hợp do pháp luật quy định. Kể cả trường hợp
người chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình ũng có quyền sử dụng tài sản thưo quy
định của pháp luật.
Với sự phát triển không ngừng của khoa hoc – kỹ thuật nên có trường hợp chủ sở
hữu không đủ trình độ chuyên môn để sử dụng tài sản là những phương tiện kỹ
thuật hiện đại. Ví dụ: việc sử dụng máy vi tính, xe ô tô, tàu thuyền…Trong trường
hợp này, chủ sở hữu phải thông qua người thứ ba đẻ thực hiện quyền sử dụng tài
sản thì mới khai thác được các lợi ích vật chất, tính năng công dụng của tài sản.
2.3.3 Quyền định đoạt
Đó là quyền năng của chủ sở hữu quyết định số phận của tài sản. Chủ sở hữu
thực hiện quyền định đoạt biểu hiện ở hai góc độ:
+ Định đoạt về số phận thực tế của vật như: tiêu dùng hết, hủy bỏ, từ bỏ quyền sở
hữu đối với vật.
+ Định đoạt về số phận pháp lý của vật là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với
vật từ người này sang người khác. Thông thường định đoạt về số phận pháp lý của
vật phải thông qua các giao dịch phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như: trao đổi,
tặng, cho, cho vay, để lại thừa kế tài sản…
Ðiều 196. Ðiều kiện định đoạt
Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy
định của pháp luật.
Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải
đem đi làm vật bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự như: tài sản đặt cọc,
cầm cố, thế chấp…
Trong ba quyền năng nêu trên, mỗi quyền năng có một ý nghĩa nhất định như:
quyền chiếm hữu là tiên đề quan trọng cho hai quyền kia; quyền sử dụng mang ý
nghĩa thực tiễn, ý nghĩa kinh tế, tạo cho chủ sở hữu khai thác lợi ích, công dụng của
tài sản; quyền định đoạt lại có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với chủ sở hữu tài
sản.
Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi (thuộc 3 quyền trên) theo ý chí của mình
đối với tài sản, nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của
Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Ví dụ : một người có máy nghe nhạc, anh ta có quyền nghe nhạc, nhưng nếu anh ta
mở nhạc quá lớn – thì dù là đang thực hiện “quyền sử dụng” hành vi này vẫn có thể
12
bị xem là vi phạm pháp luật vi gây tiếng ồn quá lớn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe,
tinh thần của người khác.
Đối với các lại tài sản có đăng ký như nhà cửa, đất đai, ô tô, xe máy ... – để xác lập
quyền sở hữu của mình – người chủ phải thực hiện việc đăng ký quyền tài sản. Ví
dụ : ông A mua một chiếc xe máy ở cửa hàng, tuy đã trả tiền đây đủ nhưng theo qui
định, ông A phải làm giấy tờ xe và chỉ khi được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy
đăng ký xe thì ông A mới chính thức xác lập xong quyền sở hữu đối với chiếc xe
mà mình mua.
Như vậy, có thể thấy nếu người nào có tài sản thuộc lại phải đăng ký, nhưng vì lý
do nào đó mà không hoặc chưa đăng ký – thì về mặt pháp lý, họ vẫn chưa được
pháp luật thừa nhận là “chủ sở hữu” của tài sản đó.
Ví dụ : ông A được cha mẹ để lại (qua di chúc) căn nhà mà mình đang ở. Lẽ ra sau
khi cha mẹ qua đời ông A phải làm thủ tục kê khai di sản thừa kế để làm thủ tục cấp
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà - nhưng ông A đã không thực hiện việc đó. Sau
đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu
có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác
bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.
Ðiều 258. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động
sản từ người chiếm hữu ngay tình
Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản,
trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua
bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là
chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
Ðiều 259. Quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải
chấm dứt hành vi đó; nếu không có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu
Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi
phạm.
14
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải
chấm dứt hành vi đó; nếu không có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu
Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi
phạm.
15