LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế Việt Nam đang từng bước thực hiện công cuộc công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước, lấy phát triển kinh tế bền vững làm bàn đạp vững chắc để
phát triển đất nước. Để đạt được mục tiêu đó, nếu chỉ các hoạt động kinh tế trong
nước sẽ không thực hiện được mà còn phải có sự kết hợp với các hoạt động kinh
tế đối ngoại: xuất nhập khẩu. Đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay, hoạt động xuất nhập khẩu càng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
kinh tế đất nước, trong đó có Việt Nam.
Ở nước ta, hoạt động xuất nhập khẩu đã diễn ra từ lâu, và có từng bước
phát triển khác nhau qua các thời kì. Hiện nay, hoạt động ngoại thương đang
phát triển mạnh mẽ, có đóng góp rất lớn vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân.
Bên cạnh đó, cũng mang lại không ít khó khăn, thử thách đối với nền kinh tế còn
kém phát triển như nước ta. Với ý nghĩa, tác động của hoạt động xuất nhập khẩu
như vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: Tình hình xuất nhập khẩu của
nước ta trong những năm gần đây với mục đích là trình bày thực trạng, nguyên
nhân và một số giải pháp chủ yếu để cải thiện tình hình nhằm tăng GDP. Trong
bài viết này chúng em xin nêu lên các vấn đề được nghiên cứu, những kết quả
khái quát nhất từ việc phân tích, thống kê số liệu, những giải pháp của Nhà nước
và các chuyên gia kinh tế mà chúng em thu thập được.
Do hạn chế về sự am hiểu nên không tránh khỏi những sai sót, chúng em
mong nhận được những ý kiến đánh giá của thầy, cô để bài viết hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
NỘI DUNG
I. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
trong những năm gần đây.
1. Nhân tố khách quan
Những biến động kinh tế - chính trị trên thế giới có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động ngoại thương của nước ta. Nổi bật trong những năm gần đây là loạt sự
kiện diễn ra gây sự chú ý của toàn thế giới: Bắt đầu từ sự phá sản của WorldCom
năm 2003, Mardoff với vụ lừa đảo lịch sử 65 tỷ USD năm 2005, và lớn nhất là
b, Về nhập khẩu:
Tỷ lệ nhập khẩu so với GDP cao và tăng nhanh dẫn đến nhập siêu ngày
càng gia tăng.
Từ 2006, kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng rất nhanh và cao hơn mức tăng
trưởng xuất khẩu. Kim ngạch nhập khẩu năm 2006 là 44,41 tỷ USD (so với kim
ngạch nhập khẩu là 39,6 tỷ USD). Tới năm 2010 kim ngạch nhập khẩu là 82,8 tỷ
USD (so với 70,8 tỷ USD của xuất khẩu). Như vậy, trong giai đoạn 2006-2010 thì
kim ngạch nhập khẩu tăng xấp xỉ 1,9 lần, thâm hụt thương mại tăng từ 10,8% (năm
2006) lên 14,5% (năm 2010). Như vậy nước ta vẫn là nước nhập siêu và tỷ lệ nhập
siêu đang gia tăng.
2
Biểu đồ : Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006-2010
2. Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu
a. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
Một số mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao trong giai đoạn 2006 - 2010
là: Hàng dệt may đứng đầu với bình quân 8,6 tỷ USD/năm, tăng mạnh so với 3,5
tỷ USD của giai đoạn trước. Giày dép đạt 4,3 tỷ USD/năm, tăng so với 2,3 tỷ
USD/năm của thời kỳ trước. Hải sản đạt 4,2 tỷ USD/năm, giai đoạn trước là 2,2
tỷ USD/năm. Kim ngạch gạo xuất khẩu tăng mạnh với mức tăng 17,9%/năm.
Riêng dầu thô xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010 giảm đáng kể do tăng tăng nguồn
nguyên liệu cung cấp cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, thay thế dần hàng nhập
khẩu. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô giai đoạn này chiếm 13,7% tổng kim ngạch
xuất khẩu, giảm nhiều so với 21% của thời kỳ trước.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng công nghệ thấp và sản phẩm
nông nghiệp có giá trị thấp. Việt Nam chỉ có lợi thế cạnh tranh trong nhóm hàng
xuất khẩu có công nghệ thấp, thâm dụng nhiều lao động và xuất khẩu tài nguyên
dùng cũng đang tăng lên. Điều đó chho thấy nước ta phụ thuộc lớn vào nguồn
nguyên vật liệu và thiết bị nhập khẩu để phục vụ ngành công nghệp chế tạo.
3. Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu
Về thị trường xuất khẩu giai đoạn 2006-2010. Phân theo châu lục: Thị
trường châu Á đứng đầu với 45,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, Châu Mỹ tiếp tục
tăng mạnh và ở vị trí thứ hai với 23%; châu Âu chiếm 20,8%; châu Đại Dương
chiếm 6,2%; châu Phi tuy chiếm tỷ lệ nhỏ với 2,7% nhưng đã gấp 3,8 lần so với
thời kỳ 5 năm trước. Theo quốc gia, Mĩ và Nhật Bản luôn là thị trường xuất khẩu
hàng hóa lớn của nước ta.
Về thị trường nhập khẩu: nước ta nhập khẩu hàng hóa chủ yếu từ các nước
Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia,
Hồng Kông… ( chủ yếu là các nước Châu Á do chi phí vận chuyển ít, giá cả
hàng hóa phù hợp với điều kiện của nước ta trong khi chất lượng hàng hóa tốt và
ngày càng được nâng cao).
4
4. Xuất nhập khẩu theo khu vực kinh tế và theo nhóm hàng
Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng
Đơn vị: triệu USD
2006
2007
2008
Tỷ
trọng
100.0 62685.1 100.0
57096.3
100.0
72191.9
100.0
20786.8
42.8
28162.3
44.9
32918.8
57.7
38063.0
52.7
57.9
27774.6
27.2
16382.4
41.2
20693.6
42.6
24896.4
39.8
24445.0(*)
42.8(*)
46.0
Hàng nông sản
5352.4
13.4
7032.8
14.5
7.2
4251.3(*)
7.4(*)
6,9
0.6
( )
( )
Giá trị
TỔNG SỐ
Phân theo khu
vực kinh tế
Khu vực kinh tế
trong nước
Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài
Phân theo nhóm
hàng
Hàng công
nghiệp nặng và
khoáng sản
Hàng CN nhẹ
và TTCN
Theo nhóm hàng
(1) Xuất khẩu: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006-2010
nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công
nghiệp, hàng nông, lâm, thủy sản lần lượt là 26.9%; 42.48% và 15,2%. Như vậy,
nhóm hàng Công nghiệp nhẹ và Tiểu thủ công nghiệp gia tăng nhanh về giá trị
5
4
và chiếm vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu quốc gia. Vai trò
của nhóm hàng nông, lâm thủy sản giảm đáng kể.
(2) Nhập khẩu: Tốc độ tăng trƣởng nhập khẩu bình quân của ba nhóm hàng: máy
móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; nguyên, nhiên vật liệu; hàng tiêu dùng trong
giai đoạn 2006-2010 lần lƣợt là 27.6%; 62,8% và 8.2%. Sau 5 năm 2001-2005,
cơ cấu nhập khẩu đã có thay đổi theo hướng tăng dần tỉ trọng nhóm hàng
nguyên, nhiên vật liệu, giảm tỉ trọng hai nhóm hàng máy móc,
thiết bị và hàng tiêu dùng.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng
Đơn vị: triệu USD
( )
* Số liệu sơ bộ
2006
TỔNG SỐ
Phân theo khu
vực kinh tế
Khu vực kinh
Giá trị
Tỷ
trọng
100.0
62764.
7
28401.7
63.3
16489.
4
2009
Giá trị
Tỷ
trọng
100.0
80713.8
41052.3
100
84801.2
100
52831.7
65.5
43882.1
62.7
47833.3
56.4
34.6
27882.1
34.5
26066.7
38,2
36967.9
63.4
38822.4
61.9
49149.2
60.9
42621.0(*)
60.9(*)
3508.4
7.2
1238.9
598.8
1663.5
1878.6
7.8
0.0
2.8
1.3
3.7
4.2
4660.1
2.5
6
90.2
44.6
1097.0(*)
1.56(*)
327.0(*)
0.5(*)
8.6
0
1.2
5. Tình trạng nhập siêu
Trước tình hình khả quan về nhập siêu giai đoạn 2001-2005, Việt Nam đã
đặt mục tiêu chiến lược của giai đoạn 2006-2010 là: "Tiến tới cân bằng xuất
khẩu - nhập khẩu vào những năm đầu sau năm 2010".
Tuy vậy 5 năm qua, nhập khẩu luôn tăng trưởng vượt mặt xuất khẩu, đẩy
nền kinh tế rơi vào tình trạng nhập siêu triền miên. Cụ thể, thời kỳ 2006-2010 là
thời kỳ mức nhập siêu tăng mạnh, bình quân 12,5 tỷ USD/năm, bằng 3,3 lần thời
kỳ trước và chiếm 22,3% kim ngạch xuất khẩu bình quân năm, cao hơn mức
17,3% của thời kỳ 2001-2005.
Tóm lại, tình trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm gần
đây đang đi theo hướng tích cực, kim ngạch xuất khẩu tăng, các mặt hàng xuất
khẩu những nghành này đang tăng lên nhanh. Trong đó, nhập khẩu nguyên phụ
liệu nghành dệt may chiếm 70% , nguyên liệu gỗ cũng gần như hoàn toàn nhập
khẩu từ nước ngoài. Ở các nghành này, Việt Nam chỉ tham gia vào giai đoạn
cuối là gia công nên giá trị gia tăng thu về là không nhiều.
Cơn sốt giá dầu trên thị trường thế giới cũng có tác động không nhỏ, Việt
Nam hiện phải nhập gần như 100% nhiên liệu, nhưng đồng thời cũng là nước
xuất khẩu dầu thô. Sự kiện giá dầu tăng tuy không tác động trực tiếp đến nhập
siêu nhưng lại tác động gián tiếp thông qua những nguyên liệu phụ thuộc vào giá
dầu mà Việt Nam có nhu cầu nhập lớn.
Thực tế cho thấy rằng, càng ở những nước kém phát triển thuế nhập khẩu
càng cao và nước ta cũng không phải ngoại lệ, bởi thuế đánh vào hàng nhập khẩu
phục vụ cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước của nước ta vẫn còn là
một khoản thu lớn của ngân sách Nhà nước. Cho nên, đây cũng chính là một
trong những nguyên nhân dẫn đến nhập siêu.
IV. Giải pháp chủ yếu để cải thiện tình hình xuất nhập khẩu trong những năm
gần đây để tăng GDP của nước ta
Trong phương pháp xác định GDP theo luồng chi tiêu, GDP được tính như sau:
GDP = C + I + G + NX
Trong đó, NX là giá trị xuất khẩu ròng tức là giá trị chênh lệch giữa giá trị
xuất khẩu và nhập khẩu. C là chi tiêu của hộ gia đình. I là đầu tư và G là chi tiêu
của Chính phủ.
• Khi NX=0, ta có cán cân thương mại cân bằng hay giá trị xuất khẩu bằng giá
trị nhập khẩu.
• Khi NX>0, ta có thặng dư trong cán cân thương mại hay tình trạng xuất siêu.
• Khi NX
nhập khẩu ở nước ta cho thấy, thị trường xuất nhập khẩu ở nước ta tập trung
cao độ vào một số thị trường trọng điểm đã chịu ảnh hưởng của cơn bão
khủng hoảng tài chính thế giới. Do vậy, cần huy động các cơ quan ngoại giao
và mạng lưới doanh nghiệp Việt Nam trên toàn thế giới để phát triển, mở
rộng thi trường mới như Trung Đông, châu Phi, châu Đại Dương và Mỹ
Latinh, đồng thời khôi phục lại những thị trường cũ như Đông Âu và cộng
đồng các quốc gia, dân tộc độc lập…
o Cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu: Việc cải thiện cơ cấu mặt hàng
xuất nhập khẩu không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, cần xây
dựng lộ trình cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa sản xuất trong nước,
đặc biệt là các sản phẩm xuất khẩu truyền thống, đồng thời tìm thị trường cho
các sản phẩm xuất khẩu mới. Hàng hóa nhập khẩu cần tiếp tục điều chỉnh
theo hướng giảm tỷ trọng nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu thô.
o Khai thác thị trường trong nước: Cần khai thác tối đa thị trường trong nước
để giảm quy mô nhập khẩu, nhằm giảm mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào
9
các thị trường trong nguyên, nhiên, vật liệu đối với các nước trong khu vực.
Nghiên cứu, điều chỉnh công nghệ, nâng cao phần giá trị gia tăng sản xuất
trong nước thong qua việc khai thác các nguồn nguyên, nhiên, vật liệu sẵn có
trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu đặc biệt là dệt
may, giày dép, thiết bị điện tử đã đáp ứng được nhu cầu của các thị trường
khó tính như: Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, cần nỗ lực khai thác thị trường nội địa
để duy trì quy mô hoạt động trong thời kỳ khó khăn, đồng thời đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của người dân trong nước, giảm áp lực nhập khẩu hàng tiêu
dùng của người dân trong nước, giảm áp lực nhập khẩu hàng tiêu dùng, góp
phần cân bằng cán cân thương mại, nhất là hỗ trợ cho các nhà sản xuất lúc thị
trường xuất khẩu có biến động xấu.
1. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình kinh tế học vĩ mô, Nxb. Giáo dục Việt
Nam, Hà Nội, 2009, tr.36-50, 51-57.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình kinh tế học đại cương, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr.180-190, 204-205.
3. Website: www.customs.gov.vn
4. Website: www.docstoc.com
5. Website: www.gso.gov.vn
6. Website: www.nciec.gov.vn
7. Website: www.vietnamnet.com.vn
11