Đề 2:Pháp luật qui định về chào bán chứng khoán của các tổ chức tín dụng,thực
trạng và đề xuất pháp lý của người nghiên cứu.
BÀI LÀM:
A.MỞ BÀI.
Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm
thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán. Chủ thể chào bán chứng khoán rất đa
dạng, có thể là chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp.
Vậy với tư cách là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt,thì TCTD sẽ thực hiên hoạt
động chào bán chứng khoán như thế nào? Pháp luật qui định về chào bán chứng khoán
của các tổ chức tín dụng ra làm sao?Và để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này,sau đây em sẽ đi
vào nội dung chính.
B.NỘI DUNG.
I.Khái quát về chào bán chứng khoán (CBCK).
1.Khái niệm.
CBCK là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu
về vốn của chủ thể chào bán.
Chào bán chứng khoán có một số đặc điểm sau:
- Chủ thể chào bán chứng khoán rất đa dạng, có thể là chính phủ, chính quyền địa phương
và các doanh nghiệp.
- Đối tượng của chào bán chứng khoán là chứng khoán. Chứng khoán là bằng chứng xác
nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ
chức phát hành. Chứng khoán là hàng hóa không thể thiếu của thị trường chứng khoán.
Vì vậy, muốn thị trường chứng khoán đi vào hoạt động thì phải đưa hàng hóa là chứng
khoán vào lưu thông tại thị trường này.
- Chào bán chứng khoán chỉ được thực hiện trên thị trường sơ cấp. Thị trường này là nơi
diễn ra giao dịch trực tiếp giữa tổ chức chào bán và nhà đầu tư. Theo đó, chứng khoán
được bán lần đầu cho nhà đầu tư. Điều đó có nghĩa là thông qua thị trường sơ cấp, những
nguồn đầu tư mới thực sự chuyển cho tổ chức chào bán.
2.Phương thức CBCK.
3.Vai trò của CBCK
Chào bán chứng khoán có vai trò quan trọng không chỉ với chủ thể chào bán mà
còn đối với cả nền kinh tế nói chung.
Đối với chính phủ thì việc chào bán chứng khoán có khả năng giúp chính phủ thu
hút được nguốn vốn lớn, thường là để bù đắp thâm hụt ngân sách và thực hiện các dự án
xây dựng hạ tầng cơ sở cho đất nước.
Đối với các doanh nghiệp, chào bán chứng khoán là kênh huy động vốn rất quan
trọng, giúp các doanh nghiệp giải quyết được những khó khăn về vốn mà không bị phụ
thuộc quá nhiều vào vốn tín dụng ngân hàng, tiết kiệm được chi phí. Hơn nữa, chào bán
chứng khoán có khả năng đem lại cho doanh nghiệp các nguồn vốn dài hạn và ổn định
hơn so với nguồn vốn vay từ ngân hàng.
2
Đối với nền kinh tế, chào bán chứng khoán sẽ đem lại nguồn vốn cần thiết để thúc
đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
II.Pháp luật qui định về CBCK của các tổ chức tín dụng (TCTD).
1.Tổ chức tín dụng được CBCK.
Theo qui định tại khoản 1 Điều 4 Luật các TCTD 2010 thì: “Tổ chức tín dụng là
doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín
dụng gồm:ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín
dụng nhân dân”.
Như vậy ta thấy, TCTD là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, đồng thời phải
chịu sự điều chỉnh của 3 luật (Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp và Luật
Chứng khoán).Theo qui định của pháp luật thì không phải tất cả các doanh nghiệp đều
được CBCK mà quyền chào bán thường chỉ dành cho công ty cổ phần (chào bán dưới
dạng cổ phiếu,trái phiếu ) và công ty trách nhiệm hữu hạn (chào bán dưới dạng trái
phiếu).Chính vì vậy mà,các TCTD không thành lập và tổ chức dưới hình thức công ty cổ
phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thì không được quyền chào bán.
Và theo qui định tại Điều 6 Luật các TCTD 2010 thì:
TCTD (Điều 55,56 Luật các TCTD 2010);thứ hai,có thời gian hoạt động tối thiểu là 1
năm kể từ ngày TCTD chính thức đi vào hoạt động;thứ ba,hoạt động kinh doanh của năm
liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm
đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;thứ tư, Có
phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán;thứ
năm, Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều
kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các
điều kiện khác;thứ sau, Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc
phát hành trái phiếu ra công chúng của năm tài chính của tổ chức tín dụng.(khoản 2 Điều
12 LCK, Điều 22 QĐ 07/2008/QĐ-NHNN,sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 16/2009 của
Ngân hàng Nhà nước).
2.2.Thủ tục CBCK ra công chúng của các TCTD.
2.2.1.Đối với chào bán cổ phiếu ra công chúng của các TCTD.
Đầu tiên,lập hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có:Giấy đăng ký
chào bán cổ phiếu ra công chúng;Bản cáo bạch;Điều lệ của tổ chức phát hành;Quyết định
của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu
được và cam kết chứng khoán vào giao dịch trên TTGD chứng khoán có tổ chức;Cam kết
bảo lãnh phát hành (nếu có).Thứ hai,nộp hồ sơ tại UBCKNN,trong thời hạn 30 ngày
UBCKNN xem xét và cấp giấy chứng nhận CBCK.Sau khi nhận được giấy chứng nhận,
tổ chức chào bán phân phối chứng khoán trong thời hạn 90 ngày.
2.2.2.Đối với chào bán trái phiếu ra công chúng của các TCTD.
Đầu tiên,lập hồ sơ đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng gồm có: Giấy đăng
ký chào bán trái phiếu ra công chúng;Bản cáo bạch;Điều lệ của tổ chức phát hành; Cam
kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành,
thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác;
4
Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có); Các báo cáo tài chính của hai năm liên tục gần nhất
được kiểm toán và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành. Các tổ chức tín dụng có
tháng.Thứ năm,Đảm bảo tuân thủ các qui định về tỷ lệ góp vốn,hình thức đầu tư trong
5
trường hợp có sự tham gia của NĐT nước ngoài.Ngoài các điều kiện trên thì TCTD phải
đáp ứng được các điều kiện theo qui định tại Điều 55 và 56 Luật các TCTD 2010.
3.1.2.Điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ của các TCTD.
*Đối với chào bán trái phiếu không chuyển đổi.
Thứ nhất,có thời gian hoạt động tối thiểu là 1 năm kể từ ngày TCTD chính thức đi
vào hoạt động,thứ hai,kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm
phát hành phải có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán,thứ ba,phải đáp ứng yêu cầu
về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn trong hoạt động,thứ tư,có
phương án phát hành trái phiếu được Thống đốc NHNN phê duyệt và chấp thuận.(Điều
13 Nghị định 90/2011/N Đ-CP,Điều 22 QĐ 07/2008/QĐ-NHNN,sửa đổi, bổ sung bởi
Thông tư số 16/2009 của Ngân hàng Nhà nước)
*Đối với chào bán trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng quyền.
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện đối với chào bán trái phiếu không chuyển đổi
như:Tuân thủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động,có thời hạn hoạt động tối
thiểu là 1 năm kể từ ngày TCTD chính thức đi vào hoạt động thì còn phải đáp ứng các
điều kiện sau:Thứ nhất,có phương án tăng vốn điều lệ từ nguồn phát hành trái phiếu
chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính được Đại hội đồng cổ đông
thông qua và được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;Thứ hai, Kết quả
hoạt động, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành và tính đến thời điểm gần
nhất phải có lãi, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của năm liền kề trước năm phát hành và tính
đến thời điểm gần nhất dưới 5%;Thứ ba, Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
bình quân của 3 năm liên tiếp trước đó phải cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái
phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền. Đối với tổ chức tín dụng có thời gian hoạt
động từ 2 đến dưới 3 năm, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân của 2
năm liên tiếp trước đó phải cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu chuyển đổi,
trái phiếu kèm chứng quyền. Đối với tổ chức tín dụng có thời gian hoạt động dưới 2 năm,
lệ và Giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành lần đầu);Các thay đổi về
bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có). (Điều 23 QĐ 07/2008 của Ngân hàng Nhà
nước).
Thống đốc NHNN ra quyết định về việc phát hành trái phiếu của năm tài chính của
tổ chức tín dụng.Thời hạn xem xét và ra quyết định về việc phát hành trái phiếu của năm
tài chính của tổ chức tín dụng không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ
hồ sơ đề nghị phát hành của tổ chức tín dụng.
*Đối với chào bán trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng quyền.
Đầu tiên,lập hồ sơ gồm: Các báo cáo tài chính của 2 năm liên tục gần nhất
được kiểm toán và tính đến thời điểm có đơn đề nghị phát hành;cam kết bảo lãnh phát
hành (nếu có);kế hoạch kinh doanh,kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn của năm tài
chính;điều lệ và Giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành lần đầu);Các
thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác (nếu có);Đề nghị phát hành trái phiếu
chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính; Phương án tăng vốn điều lệ
7
từ nguồn phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của năm tài chính
được Đại hội đồng cổ đông thông qua trong đó nêu rõ các nội dung theo quy định hiện
hành của Ngân hàng Nhà nước về hồ sơ đề nghị chấp thuận thay đổi mức vốn điều lệ của
tổ chức tín dụng; Phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền
của năm tài chính, trong đó nêu rõ:
- Mục đích phát hành, phương án sử dụng vốn thu được từ phát hành trái phiếu
chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền; Tổng mệnh giá phát hành, mệnh giá, địa điểm
phát hành, phương thức phát hành, hình thức phát hành, thời hạn, lãi suất, phương thức
trả lãi, địa điểm trả gốc và lãi, người mua trái phiếu, số lượng và thời gian dự kiến của
từng đợt phát hành; Các điều kiện và điều khoản về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín
dụng và người mua. Phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng
quyền phải được Hội đồng quản trị thông qua.
- Đối với phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi phải nêu rõ: Điều kiện, thời
được từ đợt chào bán theo đúng phương án đã được thông qua; Nộp cho NHNN và công
khai báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán; Tổ chức chào bán khi công
bố thông tin đồng thời phải báo cáo NHNN về nội dung thông tin được công bố. Sau khi
chào bán cổ phần riêng lẻ mà trở thành công ty đại chúng, tổ chức chào bán có nghĩa vụ
đăng ký công ty đại chúng theo quy định tại Luật Chứng khoán (Điều 11 Nghị định
01/2010 về chào bán cổ phần riêng lẻ).
3.3.2. Nghĩa vụ của TCTD khi chào bán trái phiếu riêng lẻ.
* Đối với chào bán trái phiếu không chuyển đổi.
Gửi 1 bộ hồ sơ đề nghị phát hành trái phiếu không chuyển đổi đến Ngân hàng Nhà
nước (Vụ Chính sách tiền tệ); Công bố công khai tại thời điểm phát hành các thông tin về
việc phát hành trái phiếu không chuyển đổi : Tên tổ chức tín dụng phát hành;Tên
gọi;Tổng mệnh giá của đợt phát hành.;Phương thức phát hành;Hình thức phát hành ;Địa
điểm phát hành;Thời hạn ;Thời hạn phát hành;Lãi suất, Phương thước trả lãi, Thời điểm,
địa điểm trả lãi;Địa điểm thanh toán tiền gốc;Các nội dung thông báo khác của tổ chức
tín dụng phát hành;Chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các thông tin được
công bố;Tổ chức phát hành trái phiếu;Thanh toán tiền gốc, lãi đúng hạn và đầy đủ cho
người mua ;Chậm nhất sau 10 ngày làm việc kể từ khi kết thúc đợt phát hành, tổ chức tín
dụng báo cáo bằng văn bản kết quả phát hành về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách
tiền tệ) và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ
chức tín dụng đóng trụ sở chính. .( Điều 40 và khoàn 4 Điều 25 QĐ 07/2008 được sửa
đổi,bổ sung bởi Thông tư số 16/2009 của Ngân hàng Nhà nước).
*Đối với chào bán trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng quyền.
Gửi 01 bộ hồ sơ đề nghị phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo
chứng quyền; Thông báo phát hành giấy tờ có giá từng đợt qua đường bưu điện hoặc nộp
trực tiếp đến Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ); Nếu phương án tăng vốn điều
lệ từ nguồn phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền đã được Đại hội
9
đồng cổ đông thông qua có sự thay đổi, tổ chức tín dụng phải báo cáo Ngân hàng Nhà
không sửa đổi, bổ sung hồ sơ khi phát hiện thông tin không chính xác hoặc bỏ sót nội
dung quan trọng theo quy định phải có trong hồ sơ. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến
70.000.000 đồng đối với tổ chức phát hành Không thực hiện công bố bản thông báo phát
10
hành theo quy định; thông báo phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng
không đúng nội dung và thời gian theo quy định;
Sẽ bị xử phạt nếu vi phạm qui định về báo cáo và công bố thông tin. Ví dụ: Phạt
tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức phát hành tổ chức công bố
thông tin trên các phương tiện công bố thông tin không đúng với quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức phát hành Báo cáo
không đầy đủ, không đúng thời hạn theo quy định.
III.Thực trạng và đề xuất pháp lý.
1. Đối với CBCK ra công chúng của các TCTD.
Qua thực tiễn hoạt động thì có đề nghị cho rằng, không áp dụng điểm b khoản 1
điều 12 Luật Chứng khoán hiện hành quy định một trong các điều kiện chào bán cổ phiếu
ra công chúng là doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh có lãi tại năm liền trước năm
đăng ký chào bán đối với các tổ chức tín dụng trong trường hợp tổ chức tín dụng phát
hành cổ phiếu để tăng vốn theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm
quyền.Bởi hoạt động của tổ chức tín dụng mang tính chất đặc thù cao, nhu cầu tăng vốn
của tổ chức tín dụng nhiều khi không phải vì mục tiêu mở rộng hoạt động, mà có khi do
các yếu tố phát sinh từ bên ngoài làm thay đổi cơ cấu tài sản, cơ cấu vốn đã buộc tổ chức
tín dụng cần phải tăng vốn vì mục tiêu đảm bảo an toàn của hoạt động cho tổ chức tín
dụng đó, cũng như bảo đảm an toàn hoạt động cho cả hệ thống ngân hàng và cho nền
kinh tế nói chung.
Và lãi, lỗ của tổ chức tín dụng trong vòng 1 năm cũng không phản ánh một cách rõ
thực chất chất lượng hoạt động của tổ chức tín dụng đó vào thời điểm đó.Các cơ quan
quản lý Nhà nước không phải chờ đến khi tổ chức tín dụng phát hành cổ phiếu ra công
chúng mới giám sát mà phải giám sát hoạt động của tổ chức tín dụng đó hàng ngày và
chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước như một giấy phép kinh doanh, còn giấy chứng
nhận chào bán chứng khoán ra công chúng của Ủy ban Chứng khoán như giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.Nếu xét về ý nghĩa pháp lý, giấy chứng nhận của cơ quan hành
chính công và việc cấp giấy chứng nhận của Ủy ban Chứng khoán là nghĩa vụ của Nhà
nước bảo hộ quyền phát hành chứng khoán của công ty đại chúng chứ không phải là sự
cho phép của cơ quan quản lý.
2. Đối với CBCK riêng lẻ của các TCTD.
*Đối với chào bán cổ phần riêng lẻ: Nghị định 01/2011/NĐ-CP (Nghị định 01) về chào
bán cổ phần riêng lẻ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 25/02/2010. Tuy nhiên, đến thời
điểm này dường như vẫn chưa thực sự đi vào thực tiễn bởi những nguyên nhân như:
phạm vi, đối tượng áp dụng quá rộng không trọng điểm vào vấn đề pháp lý cần điều
chỉnh, thiếu tương thích với Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn, nhiều quy
định thiếu thực tế đã gây ra nhiều khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng.
Nghị định 01 đã vi phạm quyền tự do kinh doanh khi quy định các đợt chào bán
phải cách nhau ít nhất 06 tháng. Như vậy, công ty cổ phần muốn huy động 20% vốn điều
lệ ban đầu của các cổ đông sáng lập sẽ phải chờ 06 tháng kể từ này huy động lần trước
12
mặc dù ngay lúc đó có người muốn mua. Trong khi đó, huy động vốn là nhu cầu thực tế
của hoạt động sản xuất kinh doanh.Có thể nói Nghị định 01 mang nặng tư duy bao cấp,
sự ra đời của Nghị định này là vi phạm quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, làm mất đi
khả năng huy động vốn nhanh chóng và giảm đi lợi thế của công ty cổ phần, mặc dù đây
chính là lợi thế lớn nhất của mô hình công ty cổ phần
Nghị định 01 là trái với Bộ Luật Dân sự về quyền sở hữu cổ phần và trái với những
quy định trong Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán.
Theo Khoản 5 – Điều 10 của Nghị định này, số tiền mua chứng khoán không được
đầu tư sinh lợi ngay mà sẽ phải chuyển vào tài khoản phong tỏa mở tại ngân hàng cho
đến khi hoàn tất đợt chào bán.Quy định này không những cản trở việc phát huy hiệu quả
số tiền mua chứng khoán mà còn gây khó khăn và thiệt hại lớn cho doanh nghiệp và nhà
trình, dự án đầu tư của DN; tăng quy mô vốn hoạt động của DN; cơ cấu lại các khoản nợ
của DN”. Nhiều quy định trên sẽ khó đáp ứng được mục tiêu. Ví dụ, một trong những
quy định mới là không được phát hành TP ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng
đồng Việt Nam. Quy định này nhằm hạn chế việc chuyển nợ trong nước thành nợ nước
ngoài, gây áp lực lên tỷ giá, cán cân ngoại hối. Thế nhưng, trong tình hình khó khăn về
nguồn vốn như hiện nay thì việc cấm đoán nói trên lại gây khó khăn cho DN. Thực tế,
nhiều DN kinh doanh bất động sản đang phải trả lãi vay tiền đồng với lãi suất là trên
20%/năm nên họ rất mong muốn đi vay nước ngoài hoặc phát hành TP bằng đôla cho
nước ngoài với lãi suất chỉ khoảng 11-12%/năm để có tiền trả nợ trước hạn khoản vay
tiền đồng.
Một quy định khác có thể gây khó khăn cho mục tiêu cơ cấu lại các khoản nợ của
DN là yêu cầu phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% trong tổng mức
đầu tư khi phát hành TP để đầu tư cho các chương trình, dự án. Quy định này chỉ nên áp
dụng với DNNN, còn áp dụng với các DN khác là can thiệp vào quyền tự chủ của DN.
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, việc phát hành TP là nhằm bổ sung vốn lưu động hoặc
công ty mẹ huy động vốn nhằm thực hiện dự án của công ty con. Nghị định không đề cập
tới các trường hợp này và không rõ là tỷ lệ vốn chủ sở hữu sẽ áp dụng như thế nào.
Bên cạnh đó, theo Nghị định 90 muốn phát hành TP trong nước DN phải đảm bảo điều
kiện hoạt động kinh doanh của năm liền kề có lãi (tương tự quy định hiện hành). Còn đối
với phát hành TP quốc tế thì DN phải đảm bảo ba năm có lãi liên tục (các nghị định trước
không quy định). Các quy định nói trên hoàn toàn trái với điều 88 của Luật DN về quyền
phát hành TP và đã tước đi quyền chủ động huy động vốn của DN tư nhân. Trên thực tế
một công ty có thể thực hiện nhiều dự án và họ thường lập một công ty con để thực hiện
một dự án cụ thể. Quy định về số năm có lãi sẽ không cho các công ty dự án hoặc công ty
con được phát hành TP.Vì thế trong thời gian tới cần có những qui định sửa đổi sao cho
phù hợp.
Mặt khác, Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt,các TCTD phải chịu sự điều
chỉnh của 3 luật (Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán)
14
vực hoạt động tiền tệ theo Nghị quyết về đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi
chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ban hành .
8. Nghị định 85/2010 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán.
9.Giáo trình Luật chứng khoán,Trường Đại học Luật HN,NXB CAND,HN-2008.
10.Các trang web:
16
MỤC LỤC
17