Thực trạng diễn biến, cơ cấu, tính chất tội phạm của người chưa thành niên ở thành phố Hồ Chí Minh từ những năm 1992 – 1996 - Pdf 34

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 2
B. NỘI DUNG......................................................................................................................... 2
1. Các vấn đề chung về tình hình tội phạm.........................................................................2
a. Khái niệm, phân loại tình hình tội phạm.......................................................................2
b. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tình hình tội phạm..........................................................3
2. Tóm tắt luận án thạc sĩ nói về tình hình tội phạm............................................................4
a. Thực trạng diễn biến, cơ cấu, tính chất tội phạm của người chưa thành niên ở thành
phố Hồ Chí Minh từ những năm 1992 – 1996.................................................................4
a.1 Về diễn biến........................................................................................................... 4
a.2 Về cơ cấu............................................................................................................. 6
a.3 Về tính chất, hậu quả của hành vi.........................................................................6
a.4 Về nhân thân người phạm tội...............................................................................8
b. Dự báo tình hình tội phạm chưa thành niên..............................................................10
3. Đánh giá....................................................................................................................... 13
a. Những điểm đạt được...............................................................................................13
b. Những mặt hạn chế...................................................................................................14
C. KẾT LUẬN....................................................................................................................... 15


A. MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu
quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao... Cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội được đẩy mạnh; an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội được đảm bảo, phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thế và lực của Việt Nam ngày càng được củng cố, vững mạnh hơn bao giờ hết, vị trí
Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường thế giới, hội nhập quốc tế sâu rộng,
toàn diện.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm ở nước ta vẫn còn diễn biến phức tạp. Những năm
gần đây, mỗi năm phát hiện trung bình trên 70 ngàn vụ phạm tội các loại, trong đó
khoảng 50 ngàn vụ phạm tội về trật tự xã hội, trên 10 ngàn vụ phạm tội về kinh tế và

tế có thể đạt các tỉ lệ khác nhau ở các phạm vi tội danh, phạm vi không gian và phạm
vi thời gian khác nhau nhưng luôn có ý nghĩa đặc biệt vì vừa phản ánh thực trạng đấu
tranh chống tội phạm của Nhà nước và xã hội vừa là cơ sở cần thiết để nghiên cứu
phần còn lại của tội phạm – Phần ẩn hay tội phạm ẩn.
Nghiên cứu tình hình tội phạm là nghiên cứu tình hình tội phạm thực bao gồm cả
tội phạm rõ và tội phạm ẩn. “Bức tranh” thực của tội phạm phải là “bức tranh” tổng
hợp của cả tội phạm rõ và tội phạm ẩn.
b. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tình hình tội phạm

Kết quả nghiên cứu của tình hình tội phạm cho chúng ta “bức tranh” toàn cảnh về
tội phạm đã xảy ra. “Bức tranh” toàn cảnh này không chỉ thể hiện đặc điểm định
lượng (tổng số tội phạm cũng như tổng số người phạm tội – con số phản ánh mức độ
nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra) mà còn thể hiện cả đặc điểm định tính (các cơ
cấu bên trong của tội phạm và của người phạm tội mà những cơ cấu này phản ánh tính
chất nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra).
“Bức tranh” này, bản thân nó là sự cảnh báo cho xã hội về khía cạnh của tình
hình xã hội. Để có được “bức tranh” như vậy đòi hỏi việc nghiên cứu tình hình tội

3


phạm phải thực hiện các nội dung nghiên cứu cụ thể và cần sử dụng các phương pháp
nghiên cứu phù hợp với các nội dung nghiên cứu cụ thể đó.
Nghiên cứu tình hình tội phạm không chỉ dừng lại ở mô tả “bức tranh tội phạm”
mà đòi hỏi còn phải phân tích “bức tranh”, so sánh “các bức tranh” với nhau để qua
đó có được sự đánh giá đầy đủ và toàn diện tính nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra
– nghiêm trọng về mức độ cũng như nghiêm trọng về tính chất. Ở đây, đòi hỏi việc
nghiên cứu phải sử dụng đến phương pháp phân tích, so sánh để đánh giá.
Mô tả và phân tích “bức tranh tội phạm” trong nghiên cứu tình hình tội phạm
không phải chỉ để “biết” những gì đã xảy ra mà quan trọng hơn là để giải thích, phát

100% số những người được hỏi là cán bộ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán đề
khẳng định rằng tội phạm do chúng ta phát hiện, truy tố, điều tra, xét xử còn có
khoảng cách rất xa so với tình hình tội phạm diễn ra trong cuộc sống. Số liệu thống kê
tội phạm của một số cơ quan chức năng chỉ là số liệu theo thống kê những người
phạm tội đã bị phát hiện để truy tố, điều tra, xét xử - tức là phần đã rõ. Còn một phần
trong tổng số tội phạm đã xảy ra, trong một khoảng thời gian và trên một địa bàn nhất
định chưa được các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện hoặc chưa nhận biết được sự
kiện, hành vi đã phát hiện là tội phạm, do vậy vẫn chưa bị truy tố, điều tra, xét xử nên
chưa có trong thống kê tội phạm. Đây chính là phần tội phạm bị bỏ lọt hay còn gọi là
tội phạm ẩn. Thứ hai, căn cứ vào quy định tại Điều 58 BLHS thì người chưa thành
niên phạm tội từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm
hình sự về những tội nghiêm trọng do cố ý. Do vậy, đối với hành vi nguy hiểm do vô
ý thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải là tội phạm.
Cho nên, trong thực tiễn những hành vi nguy hiểm thuộc dạng này của người chưa
thành niên còn có một phần trong tổng số tội phạm đã xảy ra trong một khoảng thời
gian và trên một địa bàn nhất định đã được cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện nhưng
không được khởi tố, điều tra và xét xử. Đối với những người này, được áp dụng biện
pháp xử lý khác. Vì vậy, không đưa vào thống kê tội phạm hình sự.
Từ những phân tích trên, tác giả nhận xét rằng thống kê về tình hình tội phạm của
người chưa thành niên là chưa phản ánh đúng thực tế diễn biến tội phạm của lứa tuổi
5


này. Số liệu về diễn biến tội phạm của người chưa thành niên vì thế mà chưa đầy đủ.
Tuy nhiên, những con số trên đây cũng đã được dựa trên những căn cứ và cơ sở nhất
định và phản ánh được phần nào diễn biến tình hình người chưa thành niên phạm tội
trên địa bàn TP. HCM để làm cơ sở nghiên cứu. Tuy nhiên, sự thiếu đầy đủ và chính
xác đó sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá, việc phân tích tình hình cũng như việc dự báo
và xây dựng kế hoạch đấu tranh phòng chống tội phạm của người chưa thành niên.
a.2 Về cơ cấu

người chưa thành niên còn thể hiện cả ý đồ phạm tội có chuẩn bị trước. Người chưa
thành niên cũng đã biết “biến” hoàn cảnh “bất lợi” thành thuận lợi cho hành vi phạm
tội của mình, biết sử dụng những kinh nghiệm có được từ những vụ phạm tội, nhất là
những vụ đồng phạm với người đã thành niên. Tính chất phạm tội có tổ chức ở người
chưa thành niên được thể hiện khá rõ là tội phạm theo nhóm. Ở các loại tội phạm khác
nhau tính chất phạm tội theo nhóm cũng có sự khác nhau. Nếu thống kê số người chưa
thành niên đồng phạm với người đã thành niên từ năm 1992 đến năm 1996 bị VKSND
quận, huyện và VKSND TP. HCM truy tố, ta thấy: số người chưa thành niên thường
tụ tập theo nhóm để phạm tội xảy ra nhiều ở các tội Trộm cắp tài sản công dân (160
người); cướp tài sản công dân (93 người); Cướp giật tài sản công dân (72 người). Còn
tội phạm ít tụ tập theo nhóm để thực hiện là tội giết người. Sở dĩ như vậy vì người
chưa thành niên phạm tội giết người thường do bột phát, không kìm chế được tính
hung hang tuổi trẻ nên họ thường không có sự bàn bạc, dự mưu trước, họ ít tổ chức
thành những nhóm để phạm tội.
Khi nghiên cứu hậu quả do người chưa thành niên phạm tội gây ra trong những
năm gần đây ta thấy so với những năm trước có tính chết nguy hiểm hơn như chết
người, tỷ lệ thương tật của nạn nhân cao, gây tàn phế suốt đời.
Mặc dù có những biến đổi về tính chất, về hậu quả của hành vi phạm tội do
người chưa thành niên thực hiện nhưng đều phản ánh đặc điểm về lứa tuổi của người
chưa thành niên là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấp hơn so với
người đã thành niên.
7


a.4 Về nhân thân người phạm tội
Nghiên cứu tình hình người chưa thành niên phạm tội không thể không xem xét
nhân thân của loại chủ thể này. Có thể nói kết quả của việc nghiên cứu nhân thân của
người chưa thành niên phạm tội là cơ sở để chúng ta lý giải được hàng loạt vấn đề
khác. Sự biến động của tình hình người chưa thành niên phạm tội trong những năm
gần đây đòi hỏi chúng ta phải tìm được nguyên nhân, điều kiện và các giải pháp tích

chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng. Đây cũng là một yếu tố có ảnh
hưởng không nhỏ đến tình trạng phạm tội của người chưa thành niên. Một bộ phận
không nhỏ trẻ em thất học, bỏ học, trên một phương diện nào đó là đội quân “dự bị”
của đội ngũ thanh thiếu niên hư phạm pháp. Trong tổng số 2.383 người chưa thành
niên phạm tội bị truy tố từ 1992 đến 1996 tại TP.HCM có 30.08% các em đã bỏ học.
Con số này phần lớn tập trung vào số dân nhập cư và nó cũng phản ánh đặc điểm
chung của nhóm dân cư này. Trình độ văn hóa thấp, không có nơi cư trú ổn định, lao
động không có tay nghề… vì thế số người chưa thành niên phạm tội trước khi phạm
tội đi lang thang chiếm tỉ lệ trung bình hàng năm trên dưới 10% trong tổng số bị can
là người chưa thành niên. Những đối tượng này thường cấu kết với nhau, nhóm của họ
không chỉ gắn bó để “hành nghề” mà còn tồn tại như một gia đình, có thái độ coi
thường pháp luật, phản ứng một cách lì lợm trước những tác động tích cực của xã hội.
Một đặc điểm nữa có ảnh hưởng, thậm chí chi phối hành vi của người chưa thành
niên phạm tội đó là hoàn cảnh gia đình của họ. Nhìn chung, người chưa thành niên
phạm tội là con em của các gia đình buôn bán, gia đình có người làm ăn phi pháp, có
tiền án tiền sử, đang thi hành hình phạt hay đang bị tạm giam hoặc có cấu trúc gia
đình không hoàn hảo vẫn chiếm tỉ lệ lớn. Ở những gia đình này thường không có sự
quan tâm giáo dục đúng mức đối với người chưa thành niên, thậm chí xúi giục lôi kéo
người chưa thành niên phạm tội. Điều đáng lo ngại là thời gian gần đây số người chưa
thành niên phạm tội xuất thân từ các gia đình trí thức, cán bộ viên chức nhà nước,
công nhân lao động đang có chiều hướng gia tăng. Ở những gia đình này, các em có
điều kiện sống đầy đủ hơn so với các gia đình khác. Chính vì thế mà nhu cầu sinh
hoạt khá cao, có khi vượt qua khỏi mức chu cấp của gia đình. Trong khi đó, cha mẹ lo
9


bươn chải kiếm sống, ít có thời gian quan tâm, chia sẻ tình cảm với con cái. Các em
đua đòi với bạn bè, tụ tập ăn chơi và phạm pháp.
Cuối cùng xét về giới tính, qua nghiên cứu chúng tôi thấy từ trước tới nay, người
chưa thành niên phạm tội là nam bao giờ cũng chiếm tỉ lệ cao, khoảng trên 90%. Còn

riêng, tác giả đã nêu một số nhận xét có tính chất dự báo về xu hướng tội phạm của
người chưa thành niên đến năm 2000 vẫn diễn biến phức tạp và theo chiều hướng tăng
lên.
Hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ lại chịu sự cạnh tranh khốc liệt của
nền kinh tế thị trường…Điều này làm cho cơ cấu các tội phạm có phần thay đổi. Các
tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, gây rối trật tự công cộng…
tiếp tục phát triển cả về quy mô và tính chất trong đó người chưa thành niên có thể
trực tiếp tiến hành hoặc tham gia đồng phạm.
Do tác động của nhiều yếu tố, cơ cấu gia đình truyền thống bị phá vỡ, mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình ngày càng lỏng lẻo, rạn nứt dẫn đến sự xuất hiện
một số loại tội mà trước đây người chưa thành niên không thực hiện: ngược đãi
nghiêm trọng ông bà, cha mẹ…
Trước sự mở cửa của cơ chế thị trường và sự du nhập lối sống phương tây, nạn
ma túy từ sau giải phóng miền Nam đến khoảng năm 1985 đã tạm thời lắng xuống,thì
này đã trở lại và bùng nổ trong cả nước, Việt Nam đã trở thành một điểm trung
chuyển và là một thị trường khá quan trọng. Trong khi đó, việc trang bị kiểm soát ở
cửa khẩu và hàng không còn yếu kém. Vấn đề hợp tác lưu thông quốc tế để chống tội
phạm chỉ mới thực hiện trong thời gian gần đây. Điều này đã và sẽ dẫn tới sự gia tăng
của một số tội phạm về ma túy do người chưa thành niên thực hiện trong những năm
tới như : tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tội mua bán trái phép chất mà túy, tội
sử dụng trái phép chất mà túy.
Văn hóa phẩm độc hại,tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn xã hội còn nhiều
phức tập. Mặc dù đã được các cơ quan hữu quan và nhân dân thành phố tích cực tham
gia phòng chống và bài trừ nhưng chúng ta cần thấy rằng khó có thể đạt được kết quả
ngày một ngày hai. Hơn thế nữa các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm,đặc biệt là văn
11


hóa phẩm không lành mạnh để lại hậu quả cho chúng ta không chỉ thời gian nó tồn tại
mà nó còn để lại không ít những hậu quả lâu dài. Chính vì thế trong những năm tới

qua (1992 - 1996) có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Diễn biến tội phạm của người chưa thành niên có xu hướng ngày càng gia tăng
(cả về số lượng vụ việc, số người phạm tội và tính chất của hành vi).
- Khuynh hướng phạm tội có sử dụng bạo lực diễn ra trầm trọng đã góp phần làm
cho tình hình trật tự an toàn xã hội diễn ra phức tạp.
- Tội phạm của người chưa thành niên xảy ra đa số ở lứa tuổi từ 16 đến 18 tuổi
nhưng số người chưa thành niên phạm tội từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành
vi giết người, cướp tài sản công dân có chiều hướng gia tăng.
- Trình độ văn hóa của người chưa thành niên phạm tội rất thấp.
Tác giả đã phác thảo một bức tranh toàn cảnh về thực trạng người chưa thành
niên phạm tội trên địa bàn Tp HCM trong 5 năm (1992-1996) và xu hướng phát triển
trong những năm tới; phân tích tình hình tội phạm rõ và tội phạm ẩn trên địa bàn
TP.HCM.
Có sự thu thập dữ liệu thực tiễn phản ánh nội dung định lượng và định tính của
thực trạng, diễn biến của tội phạm trên địa bàn TP.HCM
Khi nghiên cứu về tình hình tội phạm chưa thành niên trên địa bàn
TP.HCM, tác giả đã so sánh các thông số của cả nước và thông số của TP.HCM để rút
ra những nhận xét.
Tác giả đã phân tích về cơ cấu, diễn biến, tính chất, và nhân thân của
người chưa thành niên phạm tội để đánh giá một cách khách quan, đầy đủ về thực
trạng của người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh để kịp thời đề ra
những biện pháp ngăn chặn.
13


b. Những mặt hạn chế

Trong bài viết, tác giả chưa nêu được các thông số về nạn nhân phản ánh thực
trạng của tội phạm người chưa thành niên. Để có được con số tổng chính xác cần phải
hiểu thống nhất “tội phạm đã xảy ra” và “người phạm tội”. Tội phạm đã xảy ra bao

2.

Vũ Thị Bích Hường – Đấu tranh phòng chống tội phạm của người

chưa thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội năm 1997.

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status