Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường cao đẳng kĩ thuật - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


PHẠM THỊ KIM LIÊN

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở CÁC TRƢỜNG
CAO ĐẲNG KỸ THUẬT (QUA THỰC TẾ TỈNH HÀ NAM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


PHẠM THỊ KIM LIÊN

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở CÁC TRƢỜNG
CAO ĐẲNG KỸ THUẬT (QUA THỰC TẾ TỈNH HÀ NAM)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 80

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Văn Phòng


Hà Nam ................................................................................................ 33
2.1.1. Sự phù hợp giữa chương trình, nội dung môn học với đối tượng
sinh viên cao đẳng và yêu cầu đào tạo................................................. 33


2.1.2. Việc gắn nội dung giảng dạy với thực tiễn đất nước, thời đại và
ngành nghề đào tạo .............................................................................. 38
2.1.3. Hạn chế trong vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường cao đẳng (Qua thực
tế tỉnh Hà Nam) ................................................................................... 42
2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị cho sinh viên
cao đẳng khối kỹ thuật ......................................................................... 52
2.2.1. Đổi mới, nâng cao nhận thức về môn học, điều chỉnh nội dung
chương trình cho phù hợp đối tượng sinh viên cao đẳng ...................... 52
2.2.2. Có cơ chế gắn giảng dạy lý luận chính trị với thực tiễn đất nước .... 58
2.2.3. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng
viên, khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều trong giảng dạy lý
luận chính trị ........................................................................................ 62
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 72
PHỤ LỤC.............................................................................................................. 75


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu thì
vừa tạo thời cơ lớn nhưng cũng đặt ra không ít những khó khăn, thách thức
cho con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Muốn tận dụng được
thời cơ, vượt qua thách thức chúng ta cần xây dựng một nền tảng vững chắc

Tuy nhiên, thực tế việc giảng dạy lý luận chính trị hiện nay cho thấy,
do nhiều nguyên nhân mà trình độ hiểu biết thực tiễn của một số giảng viên
còn hạn chế, giảng viên trong giảng dạy lý luận chính trị vẫn mắc bệnh kinh
nghiệm, giáo điều; bản thân sinh viên chưa có thái độ đúng đắn và hiểu biết
đầy đủ về vị trí, vai trò của môn học, còn lúng túng trong phương pháp học
tập, nghiên cứu khoa học… Nguyên nhân đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết
quả giảng dạy và học tập, nhất là ảnh hưởng đến hiệu quả của việc gắn lý luận
với thực tiễn trong giảng dạy và học tập lý luận chính trị.
Từ những lý do vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn nêu trên,
là một giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị ở trường cao đẳng kỹ
thuật, tác giả nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị, tác giả đã lựa chọn vấn đề
“Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các
trường cao đẳng kỹ thuật (Qua thực tế tỉnh Hà Nam)” là đề tài luận văn thạc
sĩ của mình. Sau khi hoàn thành đề tài, tác giả mong muốn sẽ đóng góp một
phần nhỏ bé vào việc làm phong phú, sâu sắc hơn về vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong thời gian qua đã được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Tiêu biểu
một số công trình sau:
- Đề tài “Đổi mới tư duy lý luận ứng dụng vào việc đổi mới nội dung,
chương trình bài giảng và giáo trình giảng dạy lý luận Mác - Lênin, theo yêu cầu

2


đổi mới về giáo dục lý luận Mác - Lênin trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ V” Giáo sư Nguyễn Đức Bình - chủ nhiệm đề tài cấp bộ, năm 1991.
Nội dung của đề tài khẳng định tính cấp thiết của việc thực hiện nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới nội dung, chương

trường đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước ở các tỉnh, thành phố năm 1995
thành công. Ngay sau đó ông tiếp tục nghiên cứu, khảo sát thực trạng tình
hình đội ngũ cán bộ giảng viên ở các trường chính trị tỉnh, thành phố nhằm
tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng nội dung,
chương trình đào tạo, bồi dưỡng trung cấp lý luận chính trị ở các trường chính
trị tỉnh, thành phố trước những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó.
Qua đây cho chúng ta thấy quan điểm quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn thể hiện nhất quán trong việc tổ chức thực hiện của hệ thống
các trường chính trị tỉnh, thành phố.
- “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học Hồ Chí
Minh” PGS.TS Trần Văn Phòng trong sách “Tư tưởng triết học Hồ Chí
Minh”, Nxb Lao động, Hà Nội 2002.
Tác giả đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt là về tư tưởng
triết học trong hệ thống tư tưởng của Người. Một trong những nội dung quan
trọng và có ý nghĩa sâu sắc liên quan trực tiếp công tác giáo dục và đào tạo
cán bộ đó chính là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Tác giả đã
tìm hiểu và hệ thống lại những quan điểm của Hồ Chí Minh nhìn nhận dưới
góc độ triết học về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một giải pháp
cơ bản nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Đây được coi là
một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta.
- “Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn” của Vi Thái
Lang, Tạp chí Triết học, số 1/1999.
Quan điểm mà tác giả đưa ra trong bài viết này về mối quan hệ biện
chứng giữa lý luận và thực tiễn được vạch rõ trên cả bình diện bản thể luận và
nhận thức luận. Quan hệ này là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội cụ
thể; nên khi nắm được tính chất biện chứng của quá trình này để nhận thức và

4




- “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy môn triết học
Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh, thành phố (Qua thực tế Trường Đào
tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội)”, tác giả Tạ Ngọc Lan, Luận
văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội - 2011.
Tác giả của luận văn đã làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, thực trạng việc vận dụng nguyên
tắc này trong giảng dạy môn triết học Mác - Lênin đồng thời đã đề xuất một
số giải pháp nhằm quán triệt tốt hơn nguyên tắc này trong giảng dạy.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự thống
nhất giữ lý luận và thực tiễn, thực trạng vận dụng nguyên tắc này trong giảng
dạy các môn lý luận chính trị ở các trường cao đẳng kỹ thuật (qua thực tế tỉnh
Hà Nam), luận văn đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm vận
dụng hiệu quả hơn nguyên tắc này trong giảng dạy lý luận chính trị cho đối
tượng sinh viên cao đẳng khối kỹ thuật.
3.2. Nhiệm vụ:
+ Phân tích, làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn;
+ Phân tích, chỉ rõ thực trạng vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường cao
đẳng kỹ thuật (qua thực tế tỉnh Hà Nam);
+ Đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm vận dụng có
hiệu quả hơn nguyên tắc này trong giảng dạy lý luận chính trị cho đối tượng
sinh viên cao đẳng khối kỹ thuật.

6



8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn chia làm 2 chương, 4 tiết:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn và sự vận dụng nguyên tắc này trong giảng dạy lý luận chính trị.
Chương 2: Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
giảng dạy lý luận chính trị ở các trường Cao đẳng Kỹ thuật (qua thực tế tỉnh
Hà Nam) - Thực trạng và giải pháp.

8


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NÀY
TRONG GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
1.1. Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
giảng dạy lý luận chính trị
1.1.1. Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1.1.1.1. Phạm trù thực tiễn và phạm trù lý luận
* Phạm trù thực tiễn
Trước khi triết học Mác ra đời thì chưa một đại biểu triết học nào hiểu
được bản chất của thực tiễn cũng như vai trò của nó đối với nhận thức, lý
luận. Ở thời kỳ cận đại, Điđơrô - nhà triết học duy vật người Pháp đã đồng
nhất hoạt động thực nghiệm khoa học với hoạt động thực tiễn. Đây là quan
niệm đúng nhưng chưa đủ. Hêghen cho: giới tha hoá thành giới tự nhiên, xã
hội, lịch sử, con người là thực tiễn - tức hoạt động có ý chí của ý niệm, hoạt
động của tinh thần, như thế hoạt động tinh thần là hoạt động thực tiễn. Trong
“Bút ký triết học” V.I.Lênin đã chỉ ra hết sức đúng rằng, “Đối với Hêghen,

năm 1986: “Thực tiễn - đó là hoạt động của con người nhằm đảm bảo cho xã
hội tồn tại và phát triển, và trước hết nó là quá trình khách quan của sản xuất
vật chất - quá trình này là cơ sở của đời sống con người, đồng thời nó cũng là
hoạt động cải tạo - cách mạng của các giai cấp và tất cả các hình thức hoạt
động thực tiễn xã hội khác nhằm biến đổi thế giới. Thí nghiệm khoa học cũng
là một trong những hình thức của thực tiễn” [43, tr. 343].
Trong giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
của Bộ Giáo dục Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2009
thì “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”.
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh
thần. Thực tiễn là hoạt động vật chất - là hoạt động mà chủ thể sử dụng

10


phương tiện vật chất, công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất theo
hình thức và mức độ khác nhau nhằm cải tạo chúng theo mục đích của mình.
Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thỏa mãn nhu
cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn của con người luôn mang tính lịch sử cụ thể, nó chỉ
diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó, bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử
cụ thể. Nó có quá trình hình thành, phát triển, kết thúc hoặc chuyển hóa sang
giai đoạn khác. Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai
đoạn lịch sử cả về đối tượng, phương tiện và mục đích hoạt động.
Hoạt động thực tiễn phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm người,
nhưng không thể tách rời các quan hệ xã hội. Xã hội quy định mục đích, đối
tượng, phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn, do vậy, hoạt động
thực tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc. Hoạt động thực tiễn là hoạt
động mang tính tất yếu, nhưng là tất yếu có ý thức của con người. Đó là sự ý
thức về phương pháp, ý thức về đối tượng, nhất là sự ý thức về mục đích của

dựa trên trình độ, kết quả thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức, có
thể phân chia thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận. Đây là những tri
thức khác nhau về đối tượng, tính chất, chức năng, hình thức và trình độ phản
ánh cũng khác nhau.
Tri thức kinh nghiệm là những tri thức được chủ thể thu nhận từ sự
quan sát trực tiếp sự lặp đi, lặp lại diễn biến của các sự vật, hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học. Loại tri thức này có hai
loại: tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri
thức kinh nghiệm thông thường thu được thông quá quá trình sinh hoạt và
hoạt động hàng ngày của con người, nó giúp con người giải quyết nhanh một
số vấn đề đơn giản, cụ thể trong quá trình tác động trực tiếp với đối tượng. Tri
thức kinh ghiệm khoa học là kết quả của quá trình thực nghiệm khoa học, nó
đòi hỏi chủ thể phải tích lũy một lượng tri thức nhất định trong hoạt động sản
xuất cũng như hoạt động khoa học. Có thể thấy tri thức kinh nghiệm mới chỉ
mang lại những tri thức bên ngoài, chưa phải là bản chất của sự vật, hiện

12


tượng, tri thức đó có thể đúng ở hoàn cảnh này nhưng chưa chắc đúng ở hoàn
cảnh khác. Đây là những tri thức riêng lẻ, rời rạc về vẻ bề ngoài sự vật do vậy
ở trình độ tri thức kinh nghiệm tri thức chưa thể nắm được mối liên hệ bản
chất, tất yếu, bên trong của sự vật, hiện tượng dẫn đến độ chính xác, tin cậy
chưa cao. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm cũng có vai trò hết sức quan trọng,
cần thiết, giúp con người có thể điều chỉnh những hoạt động của mình, đưa ra
những quyết định, hành động kịp thời trong những hoàn cảnh nhất định, góp
phần mang lại hiệu quả trong nhiều hoàn cảnh. Đồng thời tri thức kinh
nghiệm còn là cơ sở để hình thành nên tri thức lý luận.
Tri thức lý luận là tri thức phản ánh gián tiếp, khái quát về bản chất và
quy luật của các sự vật, hiện tượng. Tri thức lý luận có những cấp độ khác

được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của
con người. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như
thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các
yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận. Quá
trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận
đã được khái quát. Mặt khác hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh
những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết, thông
qua đó lý luận được bổ sung và mở rộng. Chính vì vậy, theo Lênin, "Nhận
thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những
quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì
nó" [22, tr. 227].
Thực tiễn là động lực của lý luận. Hoạt động của con người không chỉ
là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối
quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội. Lý luận được vận dụng làm
phương pháp cho hoạt động thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng
kích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận. Quá trình đó
diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày
càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn.

14


Thực tiễn là mục đích của lý luận. Mặc dù lý luận cung cấp những tri
thức khái quát về thế giới để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của con người,
nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con
người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu
cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không thể tạo nên
những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người, nhu cầu đó chỉ được thực
hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã
hội theo mục đích của con người, đó thực chất là mục đích của lý luận. Tức lý

định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện.
Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như như các mối quan hệ
của thực tiễn, những hạn chế, thất bại có thể có trong quá trình hoạt động.
Như vậy, lý luận không chỉ giúp con người hoạt động có hiệu quả mà còn là
cơ sở khắc phục những hạn chế trong hoạt động thực tiễn của con người. Mặt
khác, lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng của con người...
Chính vì vậy, C.Mác đã cho rằng, vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể
thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ
bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất,
một khi nó thâm nhập vào quần chúng.
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn có tính lịch sử, cụ
thể. Do đó khi vận dụng lý luận, chúng ta cần phân tích cụ thể mỗi tình hình
cụ thể để tránh giáo điều, máy móc. Lý luận có thể lạc hậu so với thực tiễn,
khi vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của
thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận,
hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận dụng lý luận
vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả hoặc không, hoặc kết quả chưa
rõ ràng, trong trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy định.
Tính năng động của lý luận đòi hỏi phải điều chỉnh lý luận cho phù hợp với
thực tiễn.

16


1.1.2. Biểu hiện của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
giảng dạy lý luận chính trị
Thứ nhất, thực tiễn giảng dạy lý luận chính trị phải được hướng dẫn
bởi một lý luận khoa học nếu không sẽ rơi vào thực tiễn mù quáng, vòng vo.
Trong công tác giảng dạy lý luận chính trị thì nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thực tiễn công tác

thừa, bổ sung và phát triển một cách sáng tạo, trở thành nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, lý luận khoa
học của môn học khi được giảng dạy vừa phải đảm bảo tính hệ thống, đầy đủ,
chính xác, với những tri thức trừu tượng nhưng cũng cần giải thích rõ từng
nội dung để làm giàu tính khoa học của nó.
Môn tư tưởng Hồ Chí Minh là lý luận khoa học về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam như lý luận về dân tộc thuộc địa, cách mạng
giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam; lý luận về Đảng cộng sản Việt Nam; lý luận về đại đoàn kết dân tộc, về
nhà nước của dân, do dân, vì dân; lý luận về văn hóa, đạo đức và xây dựng
con người mới. Đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh nước ta, là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại.
Chính vì vậy, khi giảng dạy môn học này, đòi hỏi người giảng viên phải nắm
vững tri thức môn học, đồng thời phải tìm hiểu sâu sắc cuộc đời hoạt động
cách mạng cũng như tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đảm
bảo tính hệ thống, chính xác của tri thức, tránh giải thích lý luận suông, giải
thích vòng vo hoặc kể chuyện, dẫn chứng lan man.
Với môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, là những
lý luận khoa học về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong cách
mạng giải phóng dân tộc từ khi Đảng ra đời năm 1930 đến năm 1975, đồng
thời là lý luận khoa học về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
trên một số lĩnh vực: công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đường lối xây dựng nền
kinh tế thị thường định hướng xã hội chủ nghĩa; đường lối xây dựng hệ thống

18


chính trị; đường lối xây dựng, phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề
xã hội; đường lối đối ngoại. Đây là những tri thức khoa học mang tính lôgic
và tính lịch sử sâu sắc, vì vậy đòi hỏi người giảng viên trong quá trình giảng
dạy phải đảm bảo tính hệ thống, chính xác cũng như tính lịch sử của tri thức

luận dạy học, những nguyên lý giáo dục một cách khoa học, hợp lý, phù hợp
đối tượng.
Đối với sinh viên, cũng cần nêu cao sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong quá trình học tập, tiếp thu tri thức các môn lý luận chính trị. Về
điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Học lý luận không phải để nói
mép… Học để áp dụng vào việc làm. Làm mà không có lý luận thì không
khác nào đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp, vừa vấp váp. Có lý luận thì
mới hiểu được mọi chuyện trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho
đúng, làm cho đúng” [29, tr. 47]. Người chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác Lênin là học tập tinh thần xử trí mọi việc đối với mọi người và đối với bản
thân mình; là học tập những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để
áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta. Học để làm, lý
luận đi đôi với thực tiễn” [32 tr. 292]. Đây là những câu nói ngắn gọn mà sâu
sắc, thông qua đó, Người đã yêu cầu giáo dục lý luận chính trị phải biết gắn lý
luận với thực tiễn cuộc sống, công tác. Để làm được điều này, đòi hỏi sinh
viên phải nắm vững tri thức môn học, đồng thời phải vận dụng một cách sáng
tạo tri thức môn lý luận chính trị vào thực tiễn cuộc sống, vận dụng phương
pháp tư duy biện chứng vào học tập các môn học khác. Thông qua học tập lý
luận chính trị giúp sinh viên tin tưởng hơn vào chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức công dân. Để làm
được điều này vai trò của người giảng viên là hết sức quan trọng, họ phải
thấm nhuần những lý luận dạy học khoa học, tích cực, từ đó đem áp dụng,
định hướng cho hoạt động giảng dạy của mình. Điều này cũng sẽ lan tỏa tới
sinh viên, tạo nên một sự thống nhất trong toàn bộ hoạt động giảng dạy, học
tập các môn lý luận chính trị.

20


Thực tiễn giảng dạy cũng không ngừng vận động, biến đổi, do vậy,
cũng luôn đặt ra yêu cầu phải bổ sung, phát triển lý luận giảng dạy và cả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status