GẮN LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN TRONG GIẢNG DẠY
CÁC BỘ MƠN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY
Phạm Văn Bình*
Việc giảng dạy gắn lý luận với thực tiễn vốn là nội dung rất
quan trọng trong tồn bộ q trình dạy và học. Đối với các mơn
khoa học khác, vấn đề gắn lý luận và thực tiễn có thể khơng mấy
bức thiết, nhưng riêng các bộ mơn lý luận chính trị ở các trường đại
học, cao đẳng thì vấn đề gắn lý luận với thực tiễn là u cầu vơ
cùng quan trọng và cần thiết.
Sẽ khơng thể có một bài giảng sinh động, hấp dẫn, “có hồn”
khi giảng viên chỉ có lý luận sng mà khơng biết gắn lý luận này
với thực tiễn sinh động đang diễn ra. Một bài giảng sinh động, hấp
dẫn là bài giảng đảm bảo được tính thống nhất, gắn kết được một
cách hài hồ giữa lý luận và thực tiễn. u cầu thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong q trình giảng dạy đã được đề ra từ lâu, đặc
biệt là các bộ mơn lý luận chính trị. Vì vậy mà ở các trường thuộc
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ln khuyến khích tuyển
dụng các giảng viên là những người đã có q trình cơng tác thực
tiễn cũng như hàng năm đều có chương trình đưa giảng viên đi thực
tế ở cơ sở. Thế nhưng, vấn đề này ở các trường đại học, cao đẳng
khơng phải là bị xem nhẹ mà là chưa có một cơ chế, chính sách,
chưa có cách thức để thực hiện nên gần như nội dung này còn đang
bị bỏ ngỏ. Khơng khó để bắt gặp những giờ giảng mà cuốn giáo
trình trở thành “cẩm nang thần kỳ” của người giảng viên. Nói khác
*
Thạc sĩ, Học viện Chính trị khu vực II
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
khơng phải khơng có những nội dung “vênh” với nhau. Bộ mơn
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như vậy.
Giáo trình chỉ là “khung”, là định hướng “cứng” mà khơng liên hệ
với thực tiễn trong giảng dạy, bài học trở nên nhàm chán và khơ
cứng. Ví dụ, khi giảng về đường lối lãnh đạo văn hóa của Đảng
trong giáo trình hiện hành hiện nay, chắc chắn những nội dung ấy là
từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thế nhưng, ngay khi
giáo trình chưa thay đổi, thì đường lối văn hóa của Đảng đã được bổ
sung bằng Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI về xây dựng nền văn
hóa và con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện
92
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
đại hóa đất nước. Đó là chưa kể những nội dung về con người, trong
đó có quyền con người, văn hóa con người đã được cập nhật, bổ
sung, phát triển trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013. Do đó, nếu khơng liên hệ thực tiễn, làm sao
bài giảng đúng chứ chưa chưa nói là hấp dẫn, sinh động. Cũng vậy,
bộ mơn Tư tưởng Hồ Chí Minh, chắc chắn là giảng dạy theo những
chun đề tư tưởng Hồ Chí Minh đã được xác định trong giáo trình.
Tuy nhiên, ngay đến Tồn tập Hồ Chí Minh cũng đã được nâng từ
12 lên 15 tập. Có nghĩa là qua thời gian, càng ngày chúng ta càng
phát hiện, bổ sung và cập nhật thêm những nội dung, những tác
phẩm của Bác. Nhưng một nội dung quan trọng hơn nữa, đó là ngay
sáo rỗng, khơng thực tế. Cũng xuất phát từ quan niệm sai lầm này
mà trong thực tế nhiều sinh viên đến lớp mang tính đối phó, học để
thi, để “qua” là được còn bản chất vấn đề thì hầu như khơng hiểu
hoặc khơng cần hiểu (mà có muốn hiểu thày cũng có nói cho hiểu
đâu).Và, niềm đam mê hứng thú hầu như khơng có.
Đâu là những ngun nhân chính dẫn đến tình trạng này. Có
thể có nhiều, nhưng có lẽ những ngun nhân cơ bản phải kể tới, đó
là:
Một là, nhiều giảng viên, trong đó đa số các giảng viên trẻ
thiếu vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy mà trong thực tế rất
nhiều giảng viên trẻ rất giỏi và nắm vững lý thuyết, thuộc lòng lý
thuyết, thuộc làu giáo án, có khả năng sư phạm nhưng bài giảng vẫn
khơng được sinh viên đánh giá cao vì khơng có thực tiễn.
Hai là, các giáo viên lớn tuổi có vốn sống, có thực tiễn nên
về cơ bản giờ giảng của những giáo viên này sẽ phần nào thuyết
phục hơn, có sức sống hơn. Tuy nhiên lại có điểm khơng thuận là
các ví dụ minh họa thường lặp đi lặp lại cũng gây xơ cứng, nhàm
chán cho sinh viên.
Ba là, nhiều giảng viên chính trị khơng theo kịp với những
biến đổi của tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Kiến thức có
thể chỉ sâu ở một vài lĩnh vực mà khơng có kiến thức bao qt, tổng
hợp.
Bốn là, nhiều giảng viên vì trình độ và cả vấn đề “an tồn”
nên thường khơng dám đi sâu vào những vấn đề thực tiễn đặt ra vốn
“vênh” với lý luận vì sợ bị “chụp mũ”, bị soi mói v.v…vì sự “tế
nhị”, sự “nhạy cảm” trong lĩnh vực này. Đời sống thực tiễn bao giờ
cũng cực kỳ phong phú, rộng lớn, bao la. Trong đó lý luận khơng
thể nào “bao qt” hết. Và do tâm lý ngại “đụng chạm”, ngại “nói
sai” nên nhiều giáo viên đã áp dụng ln cái khn khổ cứ lý thuyết
sng diễn giải. Do đó bài giảng đã nặng nề lại càng thêm năng nề
Sau đó, là trách nhiệm của các cơ quan chủ quản quản lý giảng viên
cần có các cách thức khác nhau để bổ sung, nâng cao kiến thức thực
tiễn cho giảng viên như đưa giảng viên đi thực tế, ký kết quy chế
phối hợp với các địa phương để trao đổi thơng tin v.v…
Trong thực tiễn giảng dạy các mơn khoa học lý luận chính trị
hiện nay, việc đảm bảo tính gắn kết, thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn đang được đặt ra như một u cầu, một ngun tắc tối quan
trọng và mang tính tất yếu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả của
cơng tác giảng dạy.
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
95