MỤC LỤC
Chương 1. Một số vấn đề về công tác hộ tịch
1.1. Khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch và quản lý hộ tịch
1.1.1. Khái niệm về hộ tịch
1.1.2. Khái niệm đăng ký hộ tịch
1.1.3. Khái niệm quản lý hộ tịch
1.2. Vị trí, vai trò của hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch
1.3. Quản lý nhà nước về hộ tịch
1.3.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong quản lý hộ tịch
1.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Ngoại giao trong quản lý hộ tịch
1.3.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND Tỉnh trong quản lý hộ tịch
1.3.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND Huyện trong quản lý hộ tịch
1.3.5. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND Xã trong quản lý hộ tịch
1.3.6. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Ngoại giao Lãnh sự Việt Nam trong quản
lý hộ tịch
1.4. Việc ghi chép sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch, lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ
tịch
1.4.1. Việc quản lý và sử dụng sổ sách, biểu mẫu hộ tịch
1.4.2. Ghi chép sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch
1.4.3. Việc lưu trữ sổ sách, hồ sơ hộ tịch
1.5. Thống kê, báo cáo về hộ tịch
1.6. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại liên quan đến việc đăng ký và quản lý hộ
tịch
1.6.1. Quyền khiếu nại của cá nhân, tổ chức
1.6.2. Thẩm quyền, trình tự và thủ tục giải quyết khiếu nại
1.7. Tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi VPPL trong đăng ký và quản lý
hộ tịch
1.7.1. Quyền tố cáo của công dân
1.7.2. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo
1.8. Xử lý vi phạm trong đăng ký và quản lý hộ tịch
1.8.1. Xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức có thẩm quyền đăng ký và quản lý
10
10
10
10
11
11
11
12
13
13
13
14
14
14
15
15
15
15
15
16
17
18
18
19
19
19
20
2.3.3. Thủ tục đăng ký khai tử
2.8. Đăng ký quá hạn, đăng ký lại
2.8.1. Đăng ký quá hạn
2.8.2. Đăng ký lại
Chương 3. Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài
3.1. Thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài
3.2. Trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài
3.2.1. Đăng ký khai sinh
3.2.2. Đăng ký khai tử
3.2.3. Đăng ký giám hộ
3.2.4. Ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài
3.2.5. Đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi
Chương 4. Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch , cấp lại bản chính giấy
khai sinh
4.1. Bản sao và thẩm quuyền cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch
4.2. Nguyên tắc ghi bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch
4.3. Cấp lại bản chính giấy khai sinh và thẩm quyền cấp lại bản chính giấy
2
20
21
22
22
23
23
25
25
26
26
26
khai sinh
4.4. Thủ tục cấp lại bản chính giấy khai sinh
4.5. Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch và cấp lại bản chính giấy khai sinh cho người
nước ngoài và Việt Nam định cư ở nước ngoài
Bài tập
Phụ lục
3
41
41
45
46
CHƯƠNG1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HỘ TỊCH
* Đặt vấn đề:
Quản lý Nhà nước về hộ tịch là lĩnh vực thể hiện chức năng xã hội của Nhà nước, là cơ sở
để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, quốc
phòng; là một trong những phương thức để Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân; đồng thời góp phần bảo đảm trật tự xã hội. Nhận thức tầm quan trọng ấy, Đảng và Nhà
nước ta đã dành sự quan tâm đến công tác này ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Giữa bộn bề công việc của những ngày đầu cách mạng nước ta mới giành
được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ngày 10/10/1945 tạm thời quản lý hộ
tịch không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa; sau đó, bản
Điều lệ hộ tịch đầu tiên được ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTg ngay 8/5/1956 của Thủ
tướng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa được coi là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng... và tổ chức thực hiện có hiệu quả các
chính sách đó. Một hệ thống quản lý dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác, được cập nhật kịp thời,
thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quí giá luôn sẵn sàng hỗ trợ đắc lực cho việc
hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội.
Một hệ thống quản lý hộ tịch đầy đủ, chính xác, kịp thời có thể cung cấp những thông tin cơ bản
về tình hình dân số (cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi cư trú, tỷ suất
sinh, chết và phát triển dân số; tình hình hôn nhân...) vào bất cứ thời điểm nào.
Trên địa bàn một đơn vị cấp xã, khi cần triển khai chính sách cộng đồng liên quan đến
dân cư: bảo vệ sức khỏe nhân dân, chăm sóc y tế đối với bà mẹ và trẻ em, phổ cập giáo dục, hôn
nhân và gia đình... chính quyền thường căn cứ vào các sổ hộ tịch đăng ký khai sinh, khai tử, kết
hôn... để xác định đối tượng và triển khai các biện pháp phù hợp với đặc điểm dân cư trong xã.
- Thứ hai, hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch thể hiện tập trung nhất, sinh động
nhất sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của
công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và Bộ luật dân sự như: quyền đối với họ tên,
quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền
được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi... Ở phương diện này, đăng ký hộ tịch chính là
phương tiện để người dân thực hiện, hưởng thụ các quyền nhân thân đó. Các dữ liệu về căn cước
của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng thư hộ tịch (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn...) là sự
khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, mà qua đó, các cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng, điều kiện để tham gia vào các quan hệ
pháp luật nhất định hay không. Quản lý hộ tịch là một lĩnh vực hoạt động thể hiện sâu sắc chức
năng xã hội của Nhà nước.
5
Với ý nghĩa như vậy, việc Nhà nước tổ chức quản lý, đăng ký hộ tịch chính là sự bảo hộ
đối với việc thực hiện các quyền con người. Điều này chỉ có trong các xã hội mà nền dân chủ
được mở rộng và phát huy, khi mà các giá trị quyền con người được Nhà nước tôn trọng và có
trách nhiệm bảo hộ.
- Thứ ba, quản lý hộ tịch có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm trật tự xã hội. Hệ thống
Việc thanh tra, kiểm tra về việc đăng ký và quản lý hộ tịch nhằm mục đích bảo đảm việc
tuân thủ của các cơ quan quản lý và đăng ký hộ tịch trong quá trình thực hiện các văn bản pháp
luật của Nhà nước về hộ tịch. Mục đích của việc thanh tra, kiểm tra nhằm:
+ Bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa;
+ Uốn nắn kịp thời các sai phạm của cơ quan quản lý về đăng ký hộ tịch;
+ Nâng cao hiệu quả quản lý và đăng ký hộ tịch, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của
quản lý Nhà nước và yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân.
e. Tổng hợp tình hình và số liệu thống kê hộ tịch báo cáo Chính phủ theo định kỳ hằng
năm;
f. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về hộ tịch theo thẩm quyền
g. Nghiên cứu việc áp dụng công nghệ tin học trong đăng ký, quản lý hộ tịch
h. Hợp tác quốc tế về hộ tịch.
6
1.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Ngoại giao trong quản lý hộ tịch
Điều 76 Nghị định 158/NĐ-CP qui định rõ:
Bộ Ngoại Giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý Nhà nước về hộ tịch đối với
công dân Việt nam ở nước ngoài, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra. Thanh tra việc thực
hiện đăng ký và quản lý hộ tịch của các Cơ quan Ngoại giao, lãnh sự Việt Nam;
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho viên chức Lãnh sự của các cơ quan Ngoại
giao, Lãnh sự Việt Nam;
- Lưu trữ sổ hộ tịch do các cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam chuyển về;
- Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch;
- Tổng hợp tình hình và số liệu thống kê hộ tịch của Cơ quan Ngoại giao. Lãnh sự Việt
Nam giữ cho Bộ Tư pháp theo định kỳ 6 tháng và hàng năm;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về hộ tịch theo thẩm quyền.
1.3.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND Tỉnh trong quản lý hộ tịch (Điều 77)
* UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là UBND cấp tỉnh) thực hiện
* UBND cấp huyện thực hiện quản lý Nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình, có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
7
- Chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức, thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đối với
UBND cấp xã;
- Thực hiện giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên và
xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường
hợp, không phân biệt độ tuổi;
- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho cán bộ Tư pháp hộ tịch;
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hộ tịch;
- Quản lý, sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định của Bộ Tư pháp;
- Lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch;
- Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch;
- Tổng hợp tình hình và số liệu thống kê hộ tịch, báo cáo UBND cấp tỉnh theo định kỳ 6
tháng và hàng năm;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền;
- Quyết định việc thu hồi, huỷ bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy
định tại nghị định này (trừ việc đăng ký kết hôn vi phạm về điều kiện kết hôn theo quy định của
pháp luật về hôn nhân và gia đình).
* Phòng Tư pháp giúp UBND cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý
Nhà nước về hộ tịch theo quy định tại khoản 1 Điều này (riêng việc giải quyết tố cáo tại điểm i
khoản 1 chỉ thực hiện khi được giao). Đối với việc giải quyết khiếu nại quy định tại điểm i khoản
1 Điều này do UBND cấp huyện thực hiện.
* Chủ tịch Uỷ ban nhân cấp huyện chịu trách nhiệm về tình hình đăng ký và quản lý hộ
tịch của địa phương. Trong trường hợp do buông lỏng quản lý mà dẫn đến những sai phạm, tiêu
cực của cán bộ, công chức trong đăng ký và quản lý hộ tịch ở tại địa phương mình, thì Chủ tịch
UBND cấp huyện phải chịu trách nhiệm.
1.3.5. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND Xã trong quản lý hộ tịch
- Được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác hộ tịch;
- Chữ viết rõ ràng.
* Nhiệm vụ của cán bộ Tư pháp hộ tịch trong đăng ký và quản lý hộ tịch (Điều 82).
Trong đăng ký và quản lý hộ tịch, cán bộ Tư pháp hộ tịch giúp UBND cấp xã thực hiện
các nhiệm vụ sau đây:
- Thụ lý hồ sơ, kiểm tra, xác minh và đề xuất với Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết
định việc đăng ký hộ tịch theo qui định của Nghị định
- Thường xuyên kiểm tra và vận động nhân dân đi đăng ký kịp thời các sự kiện hộ tịch.
Đối với những khu vực người dân còn bị chi phối bởi phong tục, tập quán hoặc điều kiện đi lại
khó khăn, cán bộ Tư pháp hộ tịch phải có lịch định kỳ đến tận nhà dân để đăng ký những sự kiện
hộ tịch đã phát sinh.
Cán bộ hộ tịch phải chịu trách nhiệm trước UBND cấp xã về những sự kiện hộ tịch phát
sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn mà không được đăng ký
- Sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo qui định của Bộ Tư pháp;
- Tổng hợp tình hình và thống kê chính xác số liệu hộ tịch để UBND cấp xã báo cáo
UBND cấp huyện theo định kỳ 6 tháng và hàng năm;
- Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các qui định của pháp luật về hộ
tịch;
- Giữ gìn, bảo quản, lưu trũ sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch; khi thôi giữ phải bàn giao cho
người kế nhiệm.
* Những việc cán bộ Tư pháp hộ tịch không được làm:
- Cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
khi đăng ký hộ tịch;
- Nhận hối lộ;
- Thu lệ phí hộ tịch cao hơn mức qui định hoặc tự ý đặt ra các khoản thu khi đăng ký hộ
tịch;
- Làm sai lệch các nội dung đã được đăng ký trong sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch;
- Cố ý cấp các giấy tờ hộ tịch có nội dung không chính xác
Những qui định nói trên cũng được áp dụng đối với cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp
và cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp.
tịch trong tỉnh.
- Sổ sách hộ tịch đang sử dụng trong năm hoặc đã được đưa vào lưu trữ phải được giữ gìn
cẩn thận, không được để rách nát, hư hỏng; chỉ những người có trách nhiệm mới được khai thác
các nội dung của Sổ đăng ký hộ tịch.
1.4.2. Ghi chép sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch
a. Nguyên tắc ghi chép sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch (Điều 68)
- Khi đăng ký hộ tịch, cán bộ Tư pháp hộ tịch, cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp hoặc
cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp phải tự mình ghi vào sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch: nội dung ghi
phải chính xác: chữ viết phải rõ ràng, đủ nét, không viết tắt, không tẩy xoá.
- Sổ hộ tịch phải viết liên tiếp theo thứ tự từng trang, không được bỏ trống, phải đóng dấu
giáp lai từ trang đầu tiên đến trang cuối sổ.
- Sổ đăng ký trong sổ hộ tịch được ghi liên tục từ số 01 cho đến hết năm. Đối với sổ hộ
tịch được sử dụng tiếp cho năm sau, thì số thứ tự của năm sau sẽ bắt đầu từ số 01, không lấy thứ
tự tiếp theo của năm trước.
- Số ghi trong biểu mẫu hộ tịch là số tương ứng với số thứ tự ghi trong sổ hộ tịch
b. Sửa chữa sai sót do ghi chép (Điều 69)
- Trong khi đăng ký, nếu có sai sót do ghi chép trong sổ hộ tịch, thì cán bộ Tư pháp hộ
tịch, cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp hoặc cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp phải trực tiếp gạch
bỏ phần sai sót, viết lại xuống dòng phía dưới, không được chữa đè lên chổ cũ, không được tẩy
xoá để viết lại. Cột ghi chú của sổ hộ tịch phải ghi rõ nội dung sửa; họ, tên, chữ ký của người đã
sửa và ngày, tháng, năm sửa chữa. Cán bộ Tư pháp hộ tịch, cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp
hoặc cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp đóng dấu vào phần đã sửa chữa. Nếu có sai sót trong các
giấy tờ trong hộ tịch, thì huỷ giấy tờ hộ tịch đó và viết lại giấy tờ hộ tịch khác.
- Nghiêm cấm việc tự ý tẩy xoá, sửa chữa, bổ sung làm sai lệch nội dung đã ghi trong sổ
hộ tịch, giấy tờ hộ tịch.
1.4.3. Việc lưu trữ sổ sách, hồ sơ hộ tịch
Theo quy định của Nghị định, việc lưu trữ sổ sách, hồ sơ hộ tịch được đưa vào lưu trữ
theo từng năm. Cụ thể là:
a. Lưu trữ sổ sách hộ tịch (Điều 70)
Sổ đăng ký hộ tịch là tài liệu gốc, là căn cứ pháp lý để phục vụ cho việc tra cứu, sao lục,
Việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo hằng năm về hộ tịch là một trong những cơ sở để
đánh giá kết quả hoạt động về công tác hộ tịch trong 1 năm của các địa phương, ngoài ra nó còn
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các cơ quan Nhà nước ở Trung ương cũng như đối với cơ
quan Nhà nước ở từng cấp chính quyền ở địa phương; do vậy, việc thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo hằng năm là nhiệm vụ quan trọng của UBND các cấp. Theo quy định tại Điều 73 thì số
liệu thống kê hộ tịch phải được lập (theo mẫu quy định) theo định kỳ 6 tháng và 1 năm. Số liệu
thống kê hộ tịch phải bảo đảm chính xác và phải gửi báo cáo đúng thời hạn quy định. Thời hạn
gửi báo cáo số liệu thống kê hộ tịch được thực hiện như sau:
- Đối với UBND cấp xã, báo cáo số liệu thống kê hộ tịch 6 tháng đầu năm phải gửi cho
Phòng Tư pháp trước 10/7 hằng năm; báo cáo 1 năm phải gửi trước ngày 10/01 của năm sau.
- Đối với UBND cấp huyện, báo cáo số liệu thống kê hộ tịch 6 tháng đầu năm phải gửi
cho Sở Tư pháp trước 31/7 hằng năm; báo cáo 1 năm phải gửi trước ngày 31/01 của năm sau.
- Đối với Sở Tư pháp, báo cáo số liệu thống kê hộ tịch 6 tháng đầu năm phải gửi cho Bộ
Tư pháp trước 31/8 hằng năm; báo cáo 1 năm phải gửi trước ngày 01/03 của năm sau.
Số liệu thống kê hộ tịch 6 tháng đầu năm được tính từ ngày 01/01 hằng năm đến hết ngày
30/6 của năm đó; số liệu thống kê hộ tịch 1 năm được tính từ ngày 01/01 hằng năm đến hết ngày
31/12 của năm đó.
* Lưu ý: Các quy định về lưu trữ sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch; báo cáo số liệu thống kê hộ
tịch cũng được áp dụng đối với các Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam.
1.6. KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐĂNG
KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
1.6.1. Quyền khiếu nại của cá nhân, tổ chức (Điều 84).
11
Cá nhân, tổ chức (sau đây gọi là người khiếu nại) có quyền khiếu nại với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền về những quyết định hành chính của cơ quan đăng ký và quản lý hộ tịch
hoặc hành vi hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch của cán bộ, công chức làm công tác hộ
tịch khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình
hành vi hành chính của mình; hành vi hành chính của cán bộ Phòng Tư pháp trong đăng ký và
quản lý hộ tịch; giải quyết khiếu nại về hộ tịch mà Chủ tịch UBND cấp xã đã giải quyết, nhưng
còn có khiếu nại.
* Thời hạn, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu thực hiện tương tự theo quy định
tại Điều 85 của Nghi định này.
* Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần tiếp theo phải thực hiện theo quy định của pháp
luật về khiếu nại, cụ thể như sau:
- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết,
Chủ tịch UBND cấp huyện phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu
nại biết.
Trong trường hợp khiếu nại không được thụ lý thì phải thông báo bằng văn bản và nêu lý
do.
Việc giải quyết khiếu nại phải thể hiện bằng quyết định giải quyết khiếu nại.
12
Người giải quyết khiếu nại lần tiếp theo phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu
nại, người bị khiếu nại trong trường hợp cần thiết
* Thời hạn giải quyết khiếu nại lần tiếp theo không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý giải
quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60
ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết lần tiếp theo không quá 60
ngày; kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo
dài hơn, nhưng không quá 70 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
* Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 3
Điều 86 mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại lên người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo, trừ trường hợp đó là quyết định giải quyết khiếu nại cuối
cùng. Đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không
quá 45 ngày.
hoặc của người khác.
1.7.2. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo
a. Tiếp nhận tố cáo (Điều 91)
13
Người tố cáo phải gửi đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Trong đơn tố cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người tố cáo và người bị tố cáo, cơ quan bị tố
cáo, nội dung bị tố cáo. Trong trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người có trách
nhiệm tiếp nhận việc tố cáo phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ, tên, địa chỉ của người tố cáo và người
bị tố cáo, cơ quan bị tố cáo. Bản ghi nội dung tố cáo phải được người tố cáo ký xác nhận.
b. Thẩm quyền giải quyết tố cáo (Điều 92)
* Chủ tịch UBND cấp xã thụ lý và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật
trong đăng ký và quản lý hộ tịch của cán bộ Tư pháp hộ tịch.
* Chủ tịch UBND cấp huyện thụ lý và giải quyết đối với hành vi vi phạm pháp luật trong
đăng ký và quản lý hộ tịch của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã, cán bộ Phòng Tư pháp cấp
huyện được phân công phụ trách công tác hộ tịch.
* Giám đốc Sơ Tư pháp thụ lý và giải quyết việc tố cáo đối với những hành vi vi phạm
pháp luật trong đăng ký và quản lý hộ tịch của cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp.
* Chủ tịch UBND cấp tỉnh thụ lý và giải quyết tố việc cáo đối với những hành vi vi phạm
pháp luật trong đăng ký và quản lý hộ tịch của lãnh đạo Sở Tư pháp, lãnh đạo UBND cấp huyện
được giao phụ trách công tác hộ tịch.
* Thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo thụ lý giải
quyết tiếp theo trong trường hợp tố cáo đã được giải quyết nhưng người tố cáo có căn cứ cho
rằng việc giải quyết tố cáo đó không đúng pháp luật và tố cáo tiếp.
c. Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo (Điều 93)
Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo
và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.
1.8. XỬ LÝ VI PHẠM TRONG ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
1.8.1. Xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ
thì UBND cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.
* Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì
UBND cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.
* Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi cư trú
của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoăc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ
em đó.”
Khái niệm “nơi cư trú” nếu được hiểu theo nghĩa rộng (được quy định cụ thể tại điều 48 BLDS) thì nơi cư trú không chỉ được xác định tại nơi đượng sự có hộ khẩu thường trú mà còn
được xác định cả ở nơi đương sự có tài sản thậm chí là cả nơi đương sự đang sinh sống, làm việc
mà không có hộ khẩu thường trú và cũng không có hộ khẩu tạm trú.
Nhưng do việc đăng ký hộ tịch nói chung và đăng ký khai sinh nói riêng liên quan đến
quyền nhân thân của mỗi người nên đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan Nhà
nước. Do đó, khái niệm “nơi cư trú” nêu trong Nghị định về cơ bản được hiểu theo nghĩa hẹp là
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định pháp
luật về hộ khầu.
Và cũng để tạo điều kiện thuận lợi và thống nhất cho các cơ quan Nhà nước trong việc
quản lý hộ tịch, Nghị định 158 hướng việc đăng ký khai sinh tập trung chủ yếu vào nơi người mẹ
có hộ khẩu thường trú, chỉ trong trường hợp người mẹ không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú nhưng có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn theo quy định pháp luật về hộ
khẩu thì UBND cấp xã nơi người mẹ có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn thực hiện việc đăng
ký khai sinh cho trẻ. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì UBND xã, nơi
cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh. Nghị định cũng nêu rõ, trường hợp không
xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha thì UBND cấp xã, nơi trẻ đang sinh sống
trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.
2.1.2. Thời hạn đăng ký khai sinh
Thời hạn đăng ký khai sinh là 60 ngày kể từ ngày sinh con cha mẹ có trách nhiệm đi khai
sinh cho con, nếu cha mẹ không thể đi khai sinh thì ông bà hoặc những người thân thích khác đi
khai sinh cho trẻ.
2.1.3. Thủ tục đăng ký khai sinh
Điều 15 của Nghị định 158 quy định: Người đi đăng ký khai sinh phải nộp và xuất trình
một số giấy tờ sau đây:
con. Vì vậy đối với những trường hợp này, cán bộ Hộ tịch - Tư pháp phải trực tiếp nắm thông tin,
đến đăng ký tại gia đình của họ, nếu gia đình không có yêu cầu cấp Giấy khai sinh thì không cấp,
cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ: "Trẻ chết sơ sinh".
b. Khai sinh cho con ngoài giá thú
Thế nào là con ngoài giá thú?
Con ngoài giá thú là con mà cha mẹ sinh không có đăng ký kết hôn.
Và mặc dù cha mẹ không đăng ký kết hôn nhưng pháp luật quy định: Trẻ em sinh ra đều
có quyền đăng ký khai sinh, bất kể sinh trong giá thú hay ngoài giá thú.
Tuy nhiên, khai sinh cho con ngoài giá thú cũng là một trường hợp đặc biệt nên khi đăng
ký khai sinh, cán bộ Hộ tịch - Tư pháp cần lưu ý một số điểm sau đây:
- Không tìm hiểu kỹ về tình trạng hôn nhân của mẹ đứa trẻ (thực tế có nhiều trường hợp
khi người mẹ tới khai sinh cho con mình, cán bộ hộ tịch vì tò mò mà tìm hiểu quá sâu vào đời tư,
vào chuyện hôn nhân của người mẹ, vô tình gây khó chịu cho người đi đăng ký khai sinh, xâm
phạm tới đời tư của người khác).
- Phần kê khai về cha của đứa trẻ nếu chưa rõ, thì trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai
sinh bỏ trống. Tuyệt đối không gạch chéo, không viết gì khác vào phần khai này trong giấy khai
sinh và trong Sổ đăng ký khai sinh.
- Nếu khi đăng ký khai sinh có người nhận là cha đứa trẻ, thì không ghi ngay tên của
người đó vào Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh mà yêu cầu người này làm thủ tục nhận con
theo quy định của pháp luật. Sau khi có Quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công
nhận người đó là cha của đứa trẻ mới ghi tên của người được công nhận là cha trong Giấy khai
sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con.
- Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ: “Con ngoài giá thú”.
c. Khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi
UBND cấp xã nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ
chức đang tạm thời nuôi dưỡng đứa trẻ đó có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ sinh ra bị bỏ
rơi.
Điều 16 Nghị định 158 quy định:
16
nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh
của một trong hai bên nam, nữ.
Đối với quy định tại khoản 1 Điều 17, cần lưu ý những điểm sau:
+ Nếu bên nam hoặc bên nữ có đăng ký hộ khẩu thường trú thì việc đăng ký kết hôn được
thực hiện tại UBND cấp xã nơi bên nam hoặc bên nữ có hộ khẩu thường trú.
+ Trong trường hợp cả hai bên nam nữ không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú, nhưng có nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn thì UBND cấp xã nơi bên nam
hoặc bên nữ có đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn thực hiện việc đăng ký kết hôn.
* Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan Nhà nước trong việc đăng ký kết
hôn, pháp luật về hộ tịch hướng việc đăng ký kết hôn tập trung chủ yếu vào nơi bên nam hay bên
nữ có đăng ký hộ khẩu thường trú. Chỉ khi cả hai bên nam nữ không có đăng ký hộ khẩu thường
trú mới đăng ký kết hôn tại nơi bên nam hay bên nữ đăng ký hộ khẩu tạm trú có thời hạn.
2.2.2. Thủ tục đăng ký kết hôn
Khi đến xin đăng ký kết hôn, để thể hiện ý chí tự nguyện, hai bên nam nữ phải cùng có
mặt để nộp hồ sơ, nếu 1 trong 2 bên không thể đến nộp hồ sơ được mà không có lý do chính đáng
(như ốm đau, công tác…) thì phải có đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đó nêu rõ lý do vắng mặt
và có xác nhận của UBND cấp xã nơi người đó cư trú.
a. Hồ sơ đăng ký kết hôn gồm những giấy tờ sau
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định 158 thì:
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình
giấy chứng minh nhân dân.
Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại
xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của UBND cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn
nhân của người đó.
Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về đăng ký
kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình
trạng hôn nhân của người đó.
Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng của đơn vị
của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký
trong thời gian ở nước ngoài, thì Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam ở nước mà người đó cư
trú, thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong tờ khai đăng ký kết hôn yêu cầu phải bảo đảm
tính xác thực là vào thời điểm xin đăng ký kết hôn, đương sự còn độc thân. Do đó, việc xác nhận
tình trạng hôn nhân trước hết phải do UBND cấp xã thực hiện, vì UBND cấp xã nơi đương sự
đang cư trú mới có thể nắm bắt được đúng thực trạng hôn nhân của đương sự trong quá trình
đương sự sống tại địa phương.
b. Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Theo qui định tại Điều 67 Nghị định 158 thì:
- Người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy
định).
Trong trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ, có
chồng, nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết, thì phải xuất trình trích lục Bản án/Quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án về việc ly hôn hoặc bản sao Giấy chứng tử. Quy định này cũng
được áp dụng đối với việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn theo quy
định tại khoản 1 Điều 18 của Nghị định này.
Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Chủ tịch UBND cấp xã hoặc viên chức Lãnh sự ký và cấp
cho đương sự Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định).
Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh là 5 ngày.
- Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải được ghi vào Sổ cấp Giấy xác nhận
tình trạng hôn nhân để theo dõi.
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận
2.3. ĐĂNG KÝ KHAI TỬ
Việc đăng ký khai tử được thực hiện theo các qui định từ Điều 19 đến Điều 24 của Nghị
định 158. Khi thực hiện đăng ký khai tử cần lưu ý một số điểm sau:
2.3.1. Thẩm quyền đăng ký khai tử
Điều 19 của Nghị định qui định:
19
thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc
công tác trước khi chết khai tử.
Thân nhân của người chết được hiểu là những người thân trong gia đình, quan hệ huyết
thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng đối với người chết (vợ, chồng, cha, mẹ, con cái, cháu chắt, anh
chị em, ông bà nội ngoại...)
2.3.3. Thủ tục đăng ký khai tử
Điều 21 Nghị định qui định rõ khi khai tử, người đi khai tử phải tuân theo những thủ tục
sau:
a. Người đi khai tử phải nộp Giấy báo tử (Theo mẫu Bộ Tư pháp ban hành số TP/HT1999-C1) hoặc giấy tờ thay cho Giấy báo tử
Giấy báo tử phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người chết; giờ, ngày, tháng, năm chết; địa
điểm chết và nguyên nhân chết.
* Thẩm quyền cấp Giấy báo tử:
- Đối với người chết tại bệnh viện hoặc tại cơ quan y tế, thì Giám đốc bệnh viện hoặc
người phụ trách cơ sở y tế đó cấp Giấy báo tử;
- Đối với người cư trú ở một nơi, nhưng chết một nơi khác, ngoài cơ sở y tế, thì UBND
cấp xã, nơi người đó chết cấp Giấy báo tử;
20
- Đối với người chết là quân nhân tại ngũ, công chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong
thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và
những người được tập trung làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý, thì
thủ trưởng đơn vị đó cấp Giấy báo tử;
- Đối với người chết trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giam hoặc tại nơi tạm giữ, thì
Thủ trưởng các cơ quan đó cấp Giấy báo tử;
- Đối với người chết tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục do ngành Công an quản lý, thì
Thủ trưởng các cơ quan đó cấp Giấy báo tử;
- Đối với người chết do thi hành án tử hình, thì Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình cấp
Giấy báo tử;
- Trường hợp một người bị Toà án tuyên bố là đã chết, thì quyết định của Toà án đã có
đăng ký khai tử căn cứ vào quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, xoá tên người đó
trong Sổ đăng ký khai tử và thu hồi lại Giấy chứng tử đã cấp.
c. Đăng ký khai tử cho trường hợp chết có nghi vấn, chết do bệnh dịch
Những trường hợp chết có nghi vấn là những trường hợp sau đây:
- Chết đột ngột không rõ nguyên nhân;
- Chết do tai nạn
- Chết do bị giết, do tự tử hoặc nghi là bị giết, bị bức tử;
21
- Các trường hợp khác do pháp luật qui định.
Đối với những trường hợp chết có nghi vấn, chết do bệnh dịch, thì UBND cấp xã chỉ thực
hiện việc đăng ký khai tử khi có văn bản xác định nguyên nhân chết của Công an có thẩm quyền
(nếu chết có nghi vấn) hoặc văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền (nếu chết do bệnh dịch).
d. Đăng ký khai tử cho người chết không rõ tung tích
Thẩm quyền đăng ký khai tử thuộc về UBND cấp xã nơi phát hiện người chết không rõ
tung tích
- UBND cấp xã khi nhận được tin báo phát hiện người chết không rõ tung tích, phải làm
ngay những việc sau đây:
* Phải lập biên bản xác nhận tình trạng người chết không rõ tung tích. Biên bản phải bao
gồm những nội dung sau:
Ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện;
+ Giới tính, đặc điểm nhận dạng, tài sản và các đồ vật khác (nếu có);
+ Họ tên, địa chỉ, CMND của người phát hiện.
Biên bản phải có chữ ký của người phát hiện ra người chết không rõ tung tích, đại diện
của Công an xã, đại diện UBND và hai người làm chứng
* Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm người thân thích của người
chết không rõ tung tích. Lưu ý, khi thông báo phải có đầy đủ những thông tin liên quan đến người
chết được ghi trong Biên bản xác nhận người chết không rõ tung tích.
* Thực hiện việc mai táng và lưu giữ hình ảnh, dấu tích, đồ vật của người chết.
lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi đăng ký việc nuôi con nuôi; nếu trẻ em đó đã được
đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng đăng
ký việc nuôi con nuôi.
2.4.2. Điều kiện xin con nuôi và điều kiện trở thành con nuôi
a. Điều kiện xin con nuôi
Người muốn xin nhận trẻ làm con nuôi phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Là công dân Việt Nam, hiện đang thường trú ở trong nước;
- Có tư cách đạo đức tốt;
- Có mục đích nuôi con nuôi rõ ràng, nhằm đem lại tình cảm tốt đẹp giữa người nuôi và
con nuôi;
- Không mắc bệnh tâm thần mà không có khả năng nhận thức được hành vi của mình (Có
đầy đủ năng lực hành vi dân sự);
- Có đủ điều kiện về kinh tế để đảm bảo việc nuôi dưỡng con nuôi;
- Phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
- Không bị Tòa án tước quyền làm cha, mẹ
Các điều kiện nêu trên được xác định như sau:
- Nghiên cứu Đơn xin nhận trẻ làm con nuôi cũng như quá trình tiếp xúc với đương sự để
tìm hiểu mục đích xin nhận trẻ làm con nuôi.
- Căn cứ vào Sổ hộ khẩu gia đình, Chứng minh nhân dân hay các giấy tờ hợp lệ thay thế
của người xin nhận con nuôi và của người được nhận làm con nuôi để xác định người đó là công
dân Việt Nam, đang thường trú ở trong nước và xác định độ tuổi chênh lệch giữa cha, mẹ nuôi và
con nuôi.
- Qua quá trình tiếp nhận hồ sơ và xem xét, nếu thấy có nghi ngờ người xin nhận nuôi con
nuôi mắc bệnh tâm thần, thì yêu cầu người đó phải nộp Giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế có
thẩm quyền về việc người đó có đủ sức khỏe để nuôi con nuôi.
- Đối với người xin nhận nuôi con nuôi là cán bộ, công chức Nhà nước thì phải có xác
nhận của cơ quan, đơn vị nơi người đó hiện đang công tác về việc người đó có tư cách đạo đức
tốt và đủ điều kiện kinh tế để có thể nuôi dạy con cái.
Trường hợp người xin con nuôi không làm việc tại các cơ quan đơn vị của Nhà nước, thì
việc xác nhận này do UBND cấp xã nơi người đó hiện đang thường trú hoặc tạm trú thực hiện.
- Bản sao Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi.
Đây là cơ sở để xác định tuổi của người được nhận làm con nuôi, nhằm tránh tình trạng
lợi dụng việc nuôi con nuôi để phục vụ, che dấu những động cơ, mục đích khác
- Biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi, nếu người được nhận làm con nuôi là trẻ bị bỏ
rơi.
Trong thời hạn 5 ngày, sau khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã nơi đã thụ lý
hồ sơ nghiên cứu, xem xét, nếu thấy người xin nhận, người giao hoặc người được nhận làm con
nuôi không đủ điều kiện để nhận nuôi con nuôi thì có quyền từ chối.
UBND mời người xin nhận con nuôi và người cho con nuôi đến để thông báo việc từ chối
và giải thích rõ lý do từ chối cho đương sự bằng văn bản, không hoàn trả lệ phí cho đương sự.
b. Trình tự đăng ký việc nuôi con nuôi
Trình tự đăng ký nuôi con nuôi được qui định cụ thể tại Điều 27, cụ thể trải qua các bước
sau:
- Người nhận con nuôi phải trực tiếp nộp hồ sơ nhận con nuôi cho UBND cấp xã, nơi
đăng ký việc nuôi con nuôi.
- Trước khi đăng ký việc nuôi con nuôi, cán bộ Tư pháp - hộ tịch phải kiểm tra, xác minh
kỹ các nội dung sau đây: Tính tự nguyện của việc cho và nhận con nuôi; Tư cách của người nhận
con nuôi; Mục đích nhận con nuôi.
Thời hạn kiểm tra, xác minh các nội dung trên không quá 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ. Trường hợp cần phải xác minh thêm, thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 5 ngày.
Sau thời hạn nói trên, nếu xét thấy việc cho và nhận con nuôi có đủ điều kiện theo quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nuôi con nuôi.
* Thủ tục bàn giao:
Khi đăng ký việc nuôi con nuôi, bên cho, bên nhận con nuôi phải có mặt; nếu người được
nhận làm con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, thì cũng phải có mặt. Bên giao, bên nhận con nuôi phải
cùng ký tên vào Sổ đăng ký nhận nuôi con nuôi và Biên bản giao nhận con nuôi theo mẫu TP/HT
- 1999-D4. Cán bộ Tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi và Quyết định công
nhận việc nuôi con nuôi. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính
Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi.
Bản sao Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi được cấp theo yêu cầu của các bên cho
Giấy khai sinh cũ phải thu hồi.
Việc thay đổi phần khai về cha, mẹ như đã nói trên phải được sự đồng ý của con nuôi,
nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên.
2.4.5.Một số điểm cần lưu ý trong khi đăng ký nuôi con nuôi
Ngoài những nội dung đã nêu trên, khi tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi, cần chú ý
một số điểm sau đây:
a. Việc những người có quan hệ họ hàng nhận nhau là cha, mẹ nuôi:
Vấn đề này, pháp luật về hộ tịch không qui định cụ thể việc ông, bà, cô, dì, chú bác, anh
chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hay anh chị em cùng mẹ khác cha hoặc anh chị em họ
trong phạm vi ba đời có thể được nhận nhau là con nuôi. Nhưng trên thực tế nếu có xảy ra thì
xem xét như sau:
Xét về mặt đạo lý của người phương Đông và phong tục tập quán của người Việt Nam, thì
nếu việc nhận con nuôi không làm thay đổi thứ bậc trong quan hệ họ hàng như cô, dì, chú bác
bên nội hay bên ngoại xin nhận cháu làm con nuôi, thì có thể xem xét giải quyết.
Trong trường hợp xin nhận con nuôi mà làm thay đổi thứ bậc hay làm đảo lộn mối quan
hệ trong gia đình, họ hàng, không phù hợp với thuần phong mỹ tục như việc ông bà bên nội hay
bên ngoại xin nhận cháu làm con nuôi hoặc anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc
cùng mẹ khác cha nhận nhau làm con nuôi ....thì không xem xét, giải quyết.
b. Vấn đề nuôi con nuôi thực tế.
Đăng ký việc nuôi con nuôi là việc Nhà nước xác nhận mối quan hệ giữa người nuôi và
con nuôi có quan hệ cha mẹ và con kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thầm quyền công nhận.
Trong đăng ký việc nuôi con nuôi không có đăng ký quá hạn, do vậy những người trước đây đã
nhận nuôi con nuôi trên thực tế, nhưng không làm thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi thì không
được Nhà nước công nhận về mặt pháp lý.
Nếu như trên thực tế có trường hợp xin đăng ký việc nuôi tương tự như trên, thì UBND
cấp xã từ chối và không thụ lý hồ sơ.
c. Việc từ bỏ ý định xin con nuôi sau khi đã nộp đầy đủ hồ sơ hợp lệ:
Khi đương sự đã nộp hồ sơ và lệ phí đầy đủ và UBND cấp xã đã ấn định về ngày đăng ký
mà một trong các bên muốn thay đổi ý định thì có quyền xin rút lui không làm thủ tục đăng ký
25