Câu 11: Phân tích vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước
đối với việc bảo đảm pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước.
MỞ ĐẦU
Bảo đảm cho pháp chế được củng cố, tăng cường và hoàn thiện là yêu cầu khách
quan của quá trình xây dựng Nhà nước của dân do dân và vì dân và cũng là yêu cầu
của quá trình hoàn thiện con người và các quyền của họ trong xã hội đặc biệt là
trong quá trình quản lí hành chính nhà nước. Vì vậy quá bảo đảm pháp chế trong
quản lí hành chính nhà nước là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, vậy vai trò của cơ
quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quá trình quản lí hành
chính thông qua hoạt động giám sát của mình như thế nào. Bài làm dưới đây sẽ làm
rõ vai trò đó.
NỘI DUNG
I.
1.
Khái niệm bảo đảm pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước.
Khái niệm bảo đảm pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước.
Bảo đảm pháp chế là tổng thể các biện pháp, phương tiện, tổ chức pháp lý do các
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân áp dụng nhằm thực hiện chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và các tổ chức ấy cũng như việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ của công dân.
2.
Ý nghĩa của việc bảo đảm pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước
Việc bảo đảm pháp chế có ý nghĩa to lớn đối với quản lý nhà nước nói chung, quản
lý hành chính nhà nước nói riêng nếu:
-
Pháp chế được đảm bảo thông qua đường lối chính trị của Đảng cầm quyền
Thứ nhất: thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấp thực hiện quyền lực nhà nước một cách thường xuyên và trực tiếp chỉ đạo cũng
như kiểm tra mọi mặt công tác của các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp.
-
Thứ hai: thông qua hoạt động giám sát, các cơ quan quyền lực nhà nước có
thể phát hiện những yếu kém, những khuyết điểm trong công tác tổ chức và hoạt
động cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật và
thực hiện nhiệm vụ mà pháp luật đã quy định đối với các cơ quan hành chính nhà
nước.
-
Thứ ba: thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấp có dịp kiểm nghiệm tính hợp lí và hợp pháp của các văn bản pháp luật do chính
mình ban hành. Nếu phát hiện thấy khiếm khuyết về hình thức hay nội dung thì các
cơ quan quyền lực nhà nước nói trên phải đưa ra những biện pháp, giải pháp khắc
phục. Thông qua đó, những cơ quan này đưa ra những yêu cầu và những biện pháp
cải tiến chế độ, quy định lập pháp, lập quy nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước.
-
Thứ tư: thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
2
cấp phát hiện ra những vi phạm pháp luật xâm phạm tới trật tự và lợi ích nhà nước,
xã hội và công dân của cán bộ nhà nước, từ đó kịp thời xử lí hoặc yêu cầu các cấp,
các ngành xử lí nghiệm minh những vi phạm đó để củng cố pháp chế. Có thể thấy
- Đối với việc lập chương trình, kế hoạc xây dựng pháp luật của Quốc hội thông qua
hoạt động giám sát công tác xây dựng pháp luật, giám sát thực tiễn việc thi hành
pháp luật mà Quốc hội nắm được lĩnh vực nào của đời sống xã hội cần phải xây
dựng văn bản để điều chỉnh và mức độ cần thiết để ban hành đến đâu để lập dự kiến
chương trình xây dựng pháp luật. Đồng thời, thông qua hoạt động giám sát mà Quốc
hội có cơ sở để thẩm tra, xem xét một cách kỹ lưỡng và thực tế các dự kiến chương
trình, kế hoạch xây dựng pháp luật được trình Quốc hội để quyết định thông qua.
- Đối với việc xây dựng các dự án văn bản pháp luật, thông qua hoạt động giám sát
việc thi hành pháp luật trên thực tế mà Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại
biểu Quốc hội có được những cơ sở thực tiễn để đóng góp xây dựng dự án, xem xét,
cho ý kiến, thẩm tra dự án và quyết định thông qua dự án. Đây là yếu tố rất quan
trọng để bảo đảm chất lượng dự án, nhất là bảo đảm tính khả thi của văn bản được
ban hành.
Đồng thời, ngay trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, các hoạt động
thẩm tra, cho ý kiến của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với dự án pháp luật
cũng chính là thể hiện vai trò giám sát của Quốc hội đối với công tác xây dựng pháp
luật. Bởi vì, thông qua việc thẩm tra, cho thấy ý kiến đối với các dự án pháp luật mà
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội giám sát được việc các cơ quan có trách nhiệm
soạn thảo, trình dự án đã chuẩn bị và thể hiện dự án phù hợp với đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động hay
chưa? Các quy định của dự án đã phù hợp với thực tế và bảo đảm tính khả thi hay
chưa? Các văn bản pháp luật đã bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất
của hệ thống pháp luật hay chưa?...
Như vậy, nếu thực hiện tốt công tác giám sát việc thi hành pháp luật, Quốc hội
có cơ sở vững chắc để thẩm tra, xem xét, cho ý kiến đối với dự án pháp luật; đồng
thời cũng chính là thực hiện tốt công tác giám sát đối với lĩnh vực xây dựng pháp
luật của các cơ quan quản lý các cấp. Thực hiện tốt công tác giám sát, Quốc hội có
4
kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại kỳ họp cuối năm;
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; cử đoàn
giám sát; yêu cầu xử lý đối với người vi phạm; Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của
Quốc hội tổ chức đoàn giám sát; yêu cầu báo cáo, nghiên cứu, yêu cầu giải quyết
khiếu nại, tố cáo; Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân nghiên cứu,
chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi; kiến nghị, gặp thủ trưởng cơ quan để tìm hiểu, yêu
cầu xem xét lại; Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện tiếp công dân, chuyển đơn, đôn
đốc, theo dõi; tổ chức đoàn giám sát; kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Ở nước ta, chỉ thông qua Quốc hội, các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước mới
thực sự chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội và đây được coi là cơ chế giám sát
hữu hiệu nhất. Bởi lẽ, Quốc hội là một cơ quan được thành lập một cách hợp pháp.
Quốc hội có tổ chức và hoạt động công khai, minh bạch. Quốc hội có công cụ pháp
luật. Hiến pháp trao quyền cho Quốc hội thành lập các cơ quan Nhà nước như:
Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, Chủ tịch nước. Quốc hội có lực lượng đại biểu
Quốc hội hùng mạnh là những công dân ưu tú, tiêu biểu và trình độ cao được nhân
dân bầu trực tiếp. Hệ thống pháp luật và kể cả Hiến pháp do Quốc hội ban hành đòi
hỏi phải được tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh. Trên thực tế, vị trí pháp lý của
Quốc hội quyết định chức năng của Quốc hội trong đó có chức năng giám sát mà
không có cơ quan nào có thể đảm nhiệm thay Quốc hội. Đây chính là ưu thế của cơ
chế dân chủ dành cho Quốc hội không chỉ chức năng lập pháp mà còn là chức năng
giám sát. Như vậy, xu thế dân chủ hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ ở Việt Nam đã
trở thành một yêu cầu có tính cấp bách rằng chỉ có nhân dân và người đại diện cho
nhân dân mới có thể thực hiện quyền giám sát việc thực hiện pháp luật một cách có
hiệu quả và hợp lý. Do đó, hợp lý hơn cả và đảm bảo có hiệu quả hơn cả, Quốc hội
và đại biểu Quốc hội phải là những người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng
giám sát đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Có như vậy, Nhà nước mới thực
6
-
Hoạt động giám sát có thể được thực hiện trên kỳ họp Hội đồng nhân dân
7
bằng cách nghe báo cáo và thảo luận, đánh giá báo cáo của Uỷ ban nhân dân, của cơ
quan chuyên môn bằng cách chất vấn trên kỳ họp đối với Chủ tịch và các thành viên
Uỷ ban nhân dân, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của uỷ ban; bằng hoạt động
của Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của hội đồng; bằng hoạt động của
các nhóm đại biểu và đại biểu trong khu vực bầu cử. Ngoài ra, một hình thức giám
sát quan trọng là thông qua việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công
dân để giám sát.
Theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
-
nhân dân, Hội đồng nhân dân có quyền bầu và bãi miễn các thành viên Uỷ ban nhân
dân, đình chỉ, bãi bỏ quyết định của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, của Uỷ
ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Thông qua hoạt động này Hội
đồng nhân dân các cấp phát hiện ra những vi phạm pháp luật xâm phạm tới trật tự và
lợi ích nhà nước, xã hội và công dân của cán bộ nhà nước, từ đó kịp thời xử lí hoặc
yêu cầu các cấp, các ngành xử lí nghiệm minh những vi phạm đó để củng cố pháp
chế.
Về vai trò giám sát của Hội đồng nhân các cấp giám sát việc thi hành pháp luật
về khiếu nại, tố cáo cũng được thực hiện tương tự như đối với Quốc hội và các cơ
quan của Quốc hội nhưng ở cấp độ địa phương, cụ thể là xem xét báo cáo của Uỷ
ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân về công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo; tổ chức đoàn giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiến nghị xử lý vi
nói chung. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước, việc nâng cao
chất lượng của hoạt động giám sát của các cơ quan này là một yêu cầu cấp thiết để
đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước.
KẾT LUẬN
Thông qua việc phân tích hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ta
thấy hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước có vai trò rất lớn trong việc
bảo đảm pháp chế trong quá trình quản lí hành chính nhà nước. Và để phát huy hiệu
quả đối với việc bảo đảm pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước thì hoạt động
giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước là một biện pháp hiệu quả.
9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
GIÁO TRÌNH LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM – TRƯỜNG ĐẠI
2.
HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬT CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM SỐ 11/2003/QH11 NGÀY 26 THÁNG 11 NĂM 2003 VỀ TỔ
3.
CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN
LUẬT HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI SỐ 05/2003/QH11
4.