Mục lục:
A. Đặt vấn đề:………………………………………………………………1
B. Giải quyết vấn đề:………………………………………………………..1
I. Một số vấn đề lí luận cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lí vi phạm
pháp luật thuế:……………………………………………………………….1
1. Thanh tra, kiểm tra thuế:………………………………………………….1
2.Xử lí vi phạm trong linh vực thuế:………………………………………...2
II. Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế trong pháp luật quản lí
thuế hiện hành:………………………………………………………………3
1.Tầm quan trọng của luật quản lí thuế nói chung và quy định về thanh tra,
kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế nói riêng:…………………………3
2.Một số điểm mới trong quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm
pháp luật thuế so với trước khi luật quản lí thuế ra đời:……………………..4
III. Thực trạng thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế ở nước ta
hiện nay:……………………………………………………………………..6
1.Những thành quả đạt được:………………………………………………..6
2.Những tồn tại, vướng mắc:……………………………………………….8
VI. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện:…………………………………….10
C. Kết luận:………………………………………………………………...12
1
Bài làm:
A. Đặt vấn đề:
Thanh tra, kiểm tra là hoạt động tất yếu của quản lí nhà nước nói chung và
quản lí thuế nói riêng. Thanh tra kiểm tra thuế nhằm đánh giá mức độ tuân
thủ pháp luật thếu của người nộp thuế để từ đó có biện pháp xử lí kịp thời,
nghiêm minh các trường hợp đã phát hiện nhằm ngăn chặn các đối tượng có
mục đích gian lận trốn thuế, đảm bảo công bằng xã hội và nâng cao hiệu lực
quản lí thuế. Để hoạt động có hiệu quả cao hơn nhà nước đã ra luật quản lí
thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế,
nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sồng
kinh tế- xã hội.
2.Xử lí vi phạm trong linh vực thuế:
Vi phạm pháp luật về thuế là hành vi làm trái các quy định pháp luật về pháp
luật thuế, do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt
hại đến trật tự công cộng và phải chịu trách nhiệm pháp lí về hành vi đó của
mình.
Các hành vi vi phạm pháp luật thuế rất tinh vi, đa dạng và phức tạp với
nhiều dạng thức khác nhau, nhưng tồn tại dưới hình thức nào thì về bản chất
mỗi vi phạm đó đều thuôc một trong các loại hình:
- Vi phạm hành chính về thuế: là những vi phạm pháp luật về thuế xâm
hại đến lợi ích được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng chưa đến mức
xử lí hình sự mà phải chịu trách nhiệm hành chính.
- Vi phạm hình sự về thuế là hành vi trái pháp luật hình sự, do người có
năng lực trách nhiệm hình sự hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm
hại đến các lợi ích phát sinh từ quan hệ nộp thuế được luật hình sự
bảo vệ.
Phân loại các vi phạm pháp luật về thuế có ý nghĩa quan trọng trong việc xử
lí ci phạm trong lĩnh vực này, nó giúp các nhà làm luật xây dựng được cơ
3
chế xử lí phù hợp, thỏa đáng đối với từng loại hành vi vi phạm. Và khi phát
hiện, phân loại được những vi phạm này thì sẽ có chế tài xử lí vi phạm phù
hợp gồm chế tài hành chính và chế tài hình sự được quy định rõ ràng trong
pháp luật quản lí thuế hiện hành.
II. Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế trong pháp luật
quản lí thuế hiện hành:
1.Tầm quan trọng của luật quản lí thuế nói chung và quy định về thanh
họp thứ 10 số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006
- Nghị định của chính phủ số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 quy
định về xử lí vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết
định hành chính thuế.
- Nghị định của chính phủ số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lí thuế. Được sửa đổi bổ
sung tại nghị định chính phủ số 106/2010/NĐ-CP.
2.Một số điểm mới trong quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi
phạm pháp luật thuế so với trước khi luật quản lí thuế ra đời:
- Thứ nhất, luật quản lí thuế đã quy định các nguyên tắc cơ bản về thanh tra,
kiểm tra thuế (Đ75 luật quản lí thuế 2006) và nguyên tăc xử lí vi phạm pháp
luật thuế ( Đ104 luật quản lí thuế 2006 và Đ2 Nghị đinh CP số 98/2007/NĐCP) nhằm định hướng cho việc đổi mới nâng cao hiệu quả của công tác
thanh tra, kiểm tra thuế và xử li vi phạm. Theo đó, đối tượng của thanh tra
kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế không dàn trải như trước mà chủ
yếu tập trung vào những đối tượng có vấn đề thông qua việc phân tích thông
tin về đối tượng đó.
- Thứ hai, có sự phân biệt rõ ràng giữa thanh tra thuế ( các vấn đề liên quan
đến thanh tra thuế được quy định tại mục 2 chương 10 LQLT) và kiểm tra
5
thuế (được quy định tại mục 3 chương 10 LQLT) đồng thời nêu rõ các hành
vi nào được xem là hành vi vi phạm pháp luật thuế (đ103 LQLT)
- Thứ ba, luật cũng như các văn bản hướng dẫn quy định rất đầy đủ, chi tiết
đồng thời khá khá toàn diện bao quát hết mọi trường hợp, nội dung của công
tác thanh tra, kiểm tra thuế cũng như xử lí vi phạm về pháp luật thuế. Kiểm
tra thuế được quy định từ điều 77 đến điều 80; thanh tra thuế được quy định
từ điều 81 đến điều 87 của LQLT (đọc luật quản lí thuế); nội dung của xử lí
vi phạm pháp luật thuế được quy định từ điều 105 đến điều 115 bao các vấn
diện, tích cực cả từ phía cơ quan quản lý thuếvà người nộp thuế. Sau đây là
một số thành tự đạt được:
- Những kết quả nhìn thấy với việc xác định rõ các quy định về thanh
tra kiểm tra thuế cũng như quy chế rõ ràng về vấn đề xử lí vi phạm về
thuế đã tạo ra hàng lang pháp lý rõ ràng để nâng cao ý thức của người
dân trong xã hội về việc chấp hành nghĩa vụ với NSNN. Theo đánh
giá của Tổng cục Thuế, ý thức của người nộp thuế (NNT) đã có bước
chuyển biến nhanh chóng. Cụ thể: Các cơ sở kinh doanh mới đã tăng
nhiều và NNT đã châp hành tốt việc thực hiện đăng ký thuế; việc kê
khai thuế của NNT đã được chủ động hơn, tờ khai thuế được nộp kịp
thời, các nội dung, số liệu ghi trong tờ khai cụ thể, rõ ràng và chính
xác hơn; tỷ lệ tờ khai chưa nộp, quá hạn hay lỗi của các loại thuế
GTGT, TTĐB, TNDN đã giảm nhiều. Số thuế mới phát sinh được nộp
vào ngân sách Nhà nước kịp thời; NNT có trách nhiệm hơn với số
thuế còn nợ của mình... Do đó,số nợ thuế của NNT đã có xu hướng
giảm nhanh. Từ sự chuyển biến này dẫn đến kết quả thu ngân sách ở
hầu hết các địa phương đã cũng chuyển biến tốt hơn;
7
- Về thanh tra thuế, kiểm tra thuế đã dựa trên cơ sở thu thập và phân
tích thông tin, đánh giá mức độ tuân thủ và xác định rủi ro phân loại
doanh nghiệp để quyết định việc thanh tra thuế đối với từng trường
hợp có vi phạm pháp luật thuế hoặc có rủi ro về thuế. Việc thực hiện
thanh tra theo quy định của Luật QLT vừa tập trung được nguồn lực
để thực hiện công tác thanh tra đúng đối tượng theo sự phân loại tốt,
chưa tốt, dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật, nhằm chống thất thu về
thuế có hiệu quả hơn, và đặc biệt không làm phiền những trường hợp
đã thực hiện tốt pháp luật thuế. Kết quả này thể hiện rõ qua con số:
2005-2009 và truy thu thuế 212,3 tỷ đồng. Qua công tác thanh tra thuế
đã phát hiện nhiều hành vi vi phạm của doanh nghiệp trên các lĩnh
vực hoạt động, từ sản xuất, xây dựng, dịch vụ, thương mại và xuất
khẩu. Ngoài những vi phạm thường gặp về dấu doanh thu, tăng chi
phí, không khai thuế nhà thầu, xác định không đúng điều kiện ưu đãi
thuế, chuyển lỗ sai quy định… đang xuất hiện những hành vi vi phạm
mới như: Các doanh nghiệp cùng liên kết để điều chỉnh giá bán nội
bộ, không hạch toán công trình bên chủ đầu tư không yêu cầu hóa đơn
nhưng vẫn hạch toán chi phí xây dựng phát sinh…
Kết quả đạt được trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp
luật thuế đã cho ta nhiều dấu hiệu đáng mừng thế nhuwg bên cạnh đó vẫn
còn nhiều tồn tại vướng mắc.
2.Những tồn tại, vướng mắc:
Qua triển khai thực hiện công tác thanh tra kiểm tra và xử lí vi phạm pháp
luật thuế trong những năm gần đây, công tác quản lý thuế nói chung đã có
chuyển biến tích cực... Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn khá nhiều vướng
mắc cần tiếp tục được giải quyết.
9
- Thứ nhất, thiếu vắng đội ngú thanh tra, kiểm tra viên có kinh nghiệm. Bởi
luật quan lí thuế mới ban hành năm 2006, thời gian thực hiện cho đến nay là
chưa lâu nên kiến thức về quản lí thuế đặc biệt trong công tác thanh tra kiểm
tra và xử lí vi phạm chưa được chuyên sâu và chưa có nhiều kinh nghiệm.
Ở các địa phương số lượng chuyên viên chính, kiểm soát viên chính quá ít
nên chưa đủ lực lượng để tổ chức các đoàn thanh tra thuế.
- VIệc thanh tra, kiểm tra để xử lí vi phạm còn rất chậm trế nhất là các vụ vi
phạm luật thuế đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng việc điều
tra, truy tố, xét xử rất chậm. nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cũng là do
Đây cũng là vấn đề cần được giải quyết kịp thời.
- Việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế có nơi, có lúc còn gặp khó khăn như
người nộp thuế vi phạm nhưng không để số dư tiền gửi ngân hàng nên các
biện pháp cưỡng chế như trích tiền gửi tại ngân hàng không thực hiện được,
tình trạng mua bán sử dụng hoá đơn bất hợp pháp vẫn còn tồn tại, thanh toán
bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến…
Như đã nêu trên thì công tác thanh tra kiểm tra và xử lí vi phạm trong pháp
luật thuế vẫn còn những điểm hạn chế vướng mắc, cần phải có những biện
pháp khắc phục kịp thời để công tác này đạt hiệu quả cao hơn.
VI. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện:
- Thứ nhất, để công tác thanh tra kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế
được thực hiện dễ dàng và có hiệu quả cần phải bổ sung, nâng cao chất
lượng cán bộ làm côn tác thanh tra, kiểm tra về cả nghiệp vụ lẫn đạo đức
nghề nghiệp, tổ chức việc đào tạo và đào tạo lại về nghiệp vụ cho đội ngũ
cán bộ công chức thuế; tập trung việc đào tạo để cấp chứng chỉ thanh tra
viên cho lực lượng thanh tra thuế. Đồng thời cần tiếp tục đẩy mạnh công tác
tuyên truyền và công tác hỗ trợ người nộp thuế, đặc biệt hỗ trợ về kiến thức
nghiệp vụ thuế và nghiệp vụ kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các
11
doanh nghiệp mới thành lập, tránh những sai sót không đáng có để tập trung
giải quyết những vấn đề, vụ việc nghiêm trọng hơn.
- Thứ hai, bên cạnh việc đẩy mạnh công tác quản lý thu hồi nợ, giảm thiểu
nợ chây ỳ, đặc biệt tập trung thanh tra các đơn vị lớn, có rủi ro cao về thuế,
cơ quan thuế các cấp phái nhanh chóng triển khai xây dựng kho dữ liệu
thông tin về người nộp thuế, thông tin về quản lý thu thuế và thông tin liên
quan từ các ngành khác để cung cấp nhanh chóng, kịp thời, chính xác, phục
vụ công tác nghiệp vụ, quản lý, chỉ đạo điều hành của các cấp.
- Thứ ba, Ngành thuế cũng sẽ tăng cường phối hợp chặt chẽ với các Bộ,
liên quan để công tác quản lý thuế đi vào nề nếp, đúng theo yêu cầu của Luật
Quản lý thuế. Hoàn thiện chế độ quản lý, sử dụng hoá đơn trình Chính phủ
ban hành nghị định mới về hoá đơn bán hàng trong đó quy định các DN sử
dụng hoá đơn tự in; đồng thời kiến nghị cấp có thẩm quyền quy định các
giao dịch trong sản xuất kinh doanh bắt buộc phải thanh toán qua Ngân hàng
nhưng có lộ trình hợp lý…
C. Kết luận:
Năm 2011 và giai đoạn 2011 - 2015, ngành Thuế sẽ phấn đấu thực hiện tổng
thu nội địa tối thiểu tăng gấp 1,9 lần so với giai đoạn 2006 - 2010; tỷ lệ huy
động bình quân từ thuế, phí đạt khoảng 22 - 23% GDP; thu sản xuất kinh
doanh trong nước (không kể thu từ dầu thô, từ đất đai) tăng từ 2 - 2,2 lần so
với giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng thu bình quân hàng năm tăng
từ 15 - 16%/năm. Tỷ trọng nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước
(không kể thu từ dầu thô) trong tổng thu NSNN phấn đấu chiếm 68 - 70%.
Đẩy mạnh tiến trình cải cách hiện đại hoá hệ thống thuế, tiếp tục rà soát, cải
cách TTHC thuế. Tăng cường kỷ cương kỷ luật, đổi mới phương pháp làm
13
việc, củng cố nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Hoàn thành và hoàn thành
vượt tiến độ đối với những đề án, công việc đã đề ra đến năm 2015, làm tiền
đề, động lực quan trọng góp phần hoàn thành thắng lợi Chiến lược Phát triển
ngành Thuế giai đoạn 2011 - 2020, phấn đấu đến năm 2020 đưa ngành Thuế
Việt Nam sánh ngang tầm với các nước tiên tiến của khu vực và châu Á.
Muốn đạt được kế hoạch nêu trên thì công tác thanh tra kiểm tra và xử lý vi
phạm pháp luật thuế cần phải đẩy mạnh hơn nữa để đạt được kết quả như
mong đợi.
14