Diễn biến Vòng Doha và Sự tham gia của Việt Nam - Pdf 34

Diễn biến Vòng Doha và Sự tham gia của Việt Nam
----------------------------

I. Tổng quan về Vòng đàm phán Đô-ha
1. Bối cảnh ra đời và mục tiêu đàm phán
Vòng đàm phán Đô-ha (hay còn được gọi là Chương trình nghị sự Đô-ha về Phát
triển DDA) được khởi động tại Hội nghị Bộ trưởng WTO (MC) lần thứ 4, tổ chức tại Đô-ha,
Quatar tháng 11 năm 2001. Mục tiêu ban đầu mà các Bộ trưởng đề ra là kết thúc Vòng Đô-ha
vào năm 2005 nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Theo Tuyên bố của các Bộ trưởng tại Hội nghị MC4, Vòng Đô-ha có nhiệm vụ đàm
phán trong những lĩnh vực sau: (i) tiếp cận thị trường hàng phi nông nghiệp (NAMA); (ii)
nông nghiệp; (iii) dịch vụ; (iv) các vấn đề về quy tắc (rules); (v) sở hữu trí tuệ; (vi) thuận lợi
hóa thương mại; (vii) thương mại – môi trường và (viii) thương mại phát triển. Mục tiêu đàm
phán là gói cam kết tổng thể tất cả các lĩnh vực trên (“single undertaking”).
Trong các lĩnh vực kể trên, NAMA và nông nghiệp được xem là hai lĩnh vực mang
tính quyết định, mở đường cho việc kết thúc đàm phán trong các lĩnh vực khác. Gần đây, dịch
vụ đang dần trở nên quan trọng hơn với sự quan tâm của một số thành viên lớn của WTO như
Hoa Kỳ, EU.

2. Diễn biến đàm phán và các vấn đề tồn tại
Sau nhiều vòng đàm phán từ năm 2001 đến năm 2008, Hội nghị Bộ trưởng WTO thu
hẹp tại Giơ-ne-vơ vào tháng 7 năm 2008 là thời điểm các thành viên WTO tiến gần đích đàm
phán nhất nhưng cuối cùng đàm phán lại tan vỡ do một số thành viên quan trọng không thỏa
thuận được những vấn đề then chốt nhất về nông nghiệp.
Sau thất bại tại hội nghị này, lãnh đạo các thành viên tham gia đàm phán chủ chốt và
hầu hết các thành viên WTO đặt mục tiêu hoàn thành vòng Đô-ha vào năm 2010. Tuy vậy,
tiến trình đàm phán vòng Đô-ha trong năm 2009 vấp phải ba trở ngại lớn.
Thứ nhất, bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ và sự thay đổi bộ máy chính quyền của nước
này đã làm gián đoạn đáng kế tiến trình đàm phán. Do chưa sẵn sàng về bộ máy và chính
sách nên từ đầu năm 2009 đến tháng 4 năm 2010 Hoa Kỳ không có cả Đại sứ tại WTO và đại
diện nông nghiệp và hầu như không tham gia thực chất vào tiến trình đàm phán.

chủ chốt sẽ có nhân nhượng nhất định trong một số lĩnh vực đàm phán như cắt giảm thuế
quan theo ngành (sectoral), hàng hóa hóa môi trường, dịch vụ sẽ được đẩy nhanh hơn. Diễn
biến ở Geneva cho thấy nhóm các nước đang phát triển tiếp tục nhấn mạnh yếu tố phát triển
trong vòng Đô-ha, trong khi đó, Hoa Kỳ và phần nào là EU vẫn cho rằng vấn đề tiếp cận thị
trường là trở ngại chính, việc kết thúc đàm phán chưa mang lại cơ hội xuất khẩu đồng đều
cho các nước, hàm ý các nước ĐPT chưa có nhân nhượng đáng kể về mở cửa thị trường.
Trong khi hầu hết các nước đều kêu gọi đẩy mạnh đàm phán trên cơ sở những kết
quả đã đạt được vào tháng 12/2008, Hoa Kỳ tỏ ý không hài lòng và gợi ý có thể đàm phán lại
các nội dung này.
Đàm phán sẽ tiếp tục được tiến hành đàm phán đồng thời trên 2 kênh: (i) tham vấn,
đàm phán song phương, nhiều bên về các vấn đề kỹ thuật còn tồn đọng ; (ii) thảo luận
phương thức lập Biểu cam kết của từng thành viên trong lĩnh vực NAMA, nông nghiệp và
dịch vụ.
Vào tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Với tư cách là thành
viên mới, VN được miễn trừ các cam kết mới về mở cửa thị trường (cắt giảm thuế) nhưng
không được miễn trừ trong các lĩnh vực khác . Mặc dù cho đến nay, chưa có quy định cụ thể
quy chế miễn trừ sẽ kéo dài trong thời gian bao lâu nhưng thực tiễn cho thấy điều này tùy
thuộc vào 2 yếu tố: (i) thời gian gia nhập và (ii) trình độ phát triển và quy mô của nền kinh tế.
Đến nay, một số thành viên mới như Trung quốc, Đài Loan gia nhập WTO trước ta đã không
còn được hưởng quy chế này. Vì vậy, có thể nói vòng đàm phán Đô-ha càng kéo dài thì càng
bất lợi cho Việt Nam. Việt Nam có thể không còn được hưởng quy chế miễn trừ các nước
mới gia nhập WTO (VRAM) và khi đàm phán kéo dài, nhiều vấn đề mới có thể xuất hiện,
trách nhiệm tham gia đàm phán của ta cũng nặng nề hơn.

II. Tình hình đàm phán vòng Doha và sự tham gia của Việt Nam

2


1. Tình hình chung về việc tham gia vòng Doha của Việt Nam

phải đưa ra các cam kết mới khi lộ trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO của ta còn rất
nặng.

2. Tình hình đàm phán vòng Doha trong lĩnh vực nông nghiệp và vấn đề liên
quan đến Việt Nam
a. Những vấn đề cơ bản đã kết thúc
Đàm phán nông nghiệp có một số nhiệm vụ chính bao gồm: i) tăng cường các quy tắc
thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp; ii) cắt giảm trợ cấp xuất khẩu và các hình thức trợ
cấp bóp méo thương mại; iii) tăng cường mở cửa thị trường thông qua giảm thuế và hàng rào
phi thuế và iv) đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) cho các nước ĐPT và LDC.

3


Đàm phán nông nghiệp hiện đang được tiến hành trên 2 kênh gồm: i) tiếp tục tham
vấn để hoàn thành phương thức cam kết (modalities) trên cơ sở chính là dự thảo của Chủ tịch
Ủy ban đàm phán Chairtext 8/12/2008 (TN/AG/W/4/Rev.4 và (ii) xây dựng các biểu mẫu
cam kết để ngay khi phương thức cam kết hoàn thành, các thành viên có thể bắt tay chuẩn bị
Biểu cam kết của mình.
Cho đến nay, các thành viên đã cơ bản nhất trí được những vấn đề như sau:
Mức cắt giảm thuế: Về cơ bản các thành viên đã nhất trí với công thức cắt giảm thuế
trong lĩnh vực nông nghiệp (qui định trong Chair Text 8/12/2008), theo đó các thành viên
phát triển thực hiện cắt giảm thuế trong vòng 5 năm với mức cắt giảm từ 50%-70% còn các
thành viên đang phát triển thực hiện cắt giảm trong vòng 10 năm với mức cắt giảm bằng 2/3
mức cắt giảm của các nước phát triển. Việt Nam, Ả rập Xê-út, Ma-xê-đô-nia, Tông-ga và một
số thành viên thu nhập thấp mới gia nhập không phải thực hiện thêm nghĩa vụ cắt giảm thuế
vượt quá cam kết gia nhập.
Trợ cấp trong nước: các thành viên cơ bản cũng chốt lại mức cắt giảm trợ cấp trong
nước bóp méo thương mại với tỷ lệ cắt giảm sẽ là 80, 70 và 55% tương ứng mức trợ cấp trên
60 tỷ USD, 10 - 60 tỷ và dưới 10 tỷ USD. Riêng Việt Nam và các nước Ả Rập Saudi,

Các con số cụ thể và cơ chế áp dụng hiện nay vẫn còn tranh cãi giữa các thành viên
đàm phán chủ chốt (cụ thể là nhóm G33 và EU, Hoa Kỳ, Braxin). Hiện ta đang phối hợp với
nhóm RAM đề nghị các thành viên mới gia nhập không phải thực hiện thêm nghĩa vụ giảm
thuế đều được áp dụng SSM khi đáp ứng các điều kiện cần thiết.
Sản phẩm đặc biệt: Các thành viên được phép chỉ định tối đa 12% dòng thuế thuộc
diện sản phảm đặc biệt và những sản phẩm này sẽ chịu mức cắt giảm thuế trung bình là 11%.
Các thành viên mới gia nhập (RAM) được chỉ định 13% dòng thuế thuộc sản phẩm đặc biệt,
theo đó sẽ có 5% số dòng thuế không phải thực hiện cắt giảm, số còn lại mức cắt giảm là
10%. Hiện nay các thành viên chủ chốt và những thành viền có quyền lợi vẫn đang tham vấn
về danh mục này của mình.
Sản phẩm nhạy cảm (SP): Các thành viên được phép đưa ra danh mục các sản phẩm
nhạy cảm để hưởng một số linh hoạt trong giảm thuế (giảm ở mức thấp hơn và lộ trình dài
hơn). Số lượng sản phẩm đưa vào danh mục SP được thỏa thuận ban đầu là: 4% đối với các
thành viên phát triển (riêng các thành viên đã có số lượng sản phẩm nhạy cảm trong danh
mục trên 30% được đăng ký thêm tối đa 2% tức là tổng số 6% nhưng có thể sẽ phải đền bù).
Với các thành viên đang phát triển, 1/3 số lượng dòng thuế trong danh mục nhạy cảm sẽ
không phải giảm thuế. Riêng các thành viên RAM được phép duy trì số sản phẩm SP tối đa
10% số dòng thuế. Có 12 tiêu chí để xác định danh mục Sản phẩm nhạy cảm, chủ yếu đó phải
liên quan đến an ninh lương thực, sinh kế và phát triển nông thôn…
Hiện nay Nhật Bản (nhóm G10) và Canada chưa đồng ý với tỷ lệ này (Nhật yêu cầu
danh mục 8%, Canada 6%). Nhóm RAMs (trong đó có Việt Nam) đề nghị số các sản phẩm
nhạy cảm của RAMs được nhiều hơn các nước phát triển là 1/3, và số TRQ mở rộng ít hơn
các nước phát triển là 1/3. Ngoài ra, đối xử đặc biệt và khác biệt trong (S&D) thời hạn mở
rộng TRQ được áp dụng cho cả RAMs và các nước đang phát triển. Cho đến nay, Việt Nam
chưa đưa ra danh mục SP.
Sản phẩm nhiệt đới (TP): Nhóm các thành viên có sản phẩm nhiệt đới, chủ yếu là khu
vực Mỹ La tinh đang xây dựng danh mục sản phẩm nhiệt đới (gồm cả sản phẩm thô và chế
biến) để thúc đẩy yêu cầu Mỹ, EU và các thành viên cắt giảm mạnh thuế quan (dự kiến giảm
xuống còn 0% hoặc cắt giảm 85%). Hiện nay các thành viên vẫn tiếp tục thỏa thuận về danh
mục các sản phẩm cụ thể và danh mục sản phẩm tiếp tục được duy trì ưu đãi cho các thành

viên đang phát triển hiện có diện mặt hàng ràng buộc hẹp theo Vòng UR (low binding
coverage), các nội dung liên quan đến LDCs. Riêng nhóm VRAMs (gồm Việt Nam, Ả-rậpXê-út, Ma-xê-đô-ni-a và U-crai-na) sẽ không phải thực hiện các cam kêt mới về mở cửa thị
trường.
b. Những vấn đề cơ bản tồn tại và liên quan đến Việt Nam
Đàm phán NAMA hiện nay chủ yếu xoay quanh danh mục các mặt hàng ưu tiên giữa
các thành viên đàm phán chủ chốt, vấn đề tự do hóa theo ngành và đàm phán NTBs. Đối với
các nội dung này quan điểm của các thành viên còn nhiều khác biệt, cả về cách tiếp cận kỹ
thuật lẫn chủ trương chính trị.
Đối với sáng kiến cắt giảm thuế quan theo ngành (Sectorals): Hiện có 14 đề xuất đàm
phán trong các ngành hàng khác nhau là ôtô, xe đạp, hoá chất, điện tử, cá, lâm nghiệp, đá
quý, nguyên liệu thô, dụng cụ thể thao, y tế, công cụ lao động, dệt may, đồ chơi và máy công
nghiệp. Phương thức giảm thuế trong từng ngành có thể sẽ khác nhau, tuỳ tình hình đàm
phán, nhưng nhìn chung là sẽ giảm thuế xuống còn 0-5%. Điều kiện để sáng kiến ngành được
thừa nhận trong WTO là tổng số nước tham dự phải chiếm khoảng 90% thương mại sản
phẩm đó trên trên giới (critical mass). Trung Quốc, Bra-xin nhấn mạnh nguyên tắc tự nguyện
tham gia sáng kiến này, từ chối không tham một số ngành trọng yếu như hóa chất. Hoa Kỳ
cho rằng không thể kết thúc đàm phán NAMA nếu các thành viên đang phát triển mới nổi
như Trung Quốc, Braxin không tham gia tự do hoá theo ngành.
Mặc dù có sự chống đối từ một số nước nhưng Sectorals sẽ dần dần trở thành một chủ
đề chính trong đàm phán NAMA vì đáp ứng yêu cầu của Mỹ và một số thành viên phát triển
về mở cửa thị trường.
Đối với các biện pháp phi thuế quan (NTBs): các ngành hàng hiện đang được các
thành viên đề xuất thảo luận cắt giảm hàng rào kỹ thuật gồm: ô tô; điện tử; hóa chất; ghi nhãn
hàng dệt may, quần áo, giày dép và hàng du lịch; pháo hoa; bật lửa; lâm sản sử dụng trong

6


xây dựng. Phần lớn các đề xuất này do các thành viên phát triển đưa ra (trừ pháo hoa do
Trung Quốc và hóa chất do Ác-hen-ti-na), với nội dung chính là hài hòa các tiêu chuẩn quốc

thuộc Hội đồng thương mại hàng hóa nhằm trao đổi về tiến độ giảm hoặc xóa bỏ các hàng rào
phi thuế quan đối với hàng tân trang nhưng một số thành viên khác (Achentina, Braxin,
Venezuela, Equado và Ấn Độ) lại cho rằng nếu Nhóm làm việc đi vào hoạt động trước khi
Vòng Doha kết thúc có thể coi như thỏa thuận thu hoạch sớm về hàng tân trang và các thành
viên này không chấp nhận điều này.
- Về hóa chất (bao gồm 2 đề xuất riêng của Ác-hen-ti-na, Bra-xin và EU): nhiều
thành viên còn quan ngại về phạm vi sản phẩm có bao gồm dược phẩm hay không, xác định
cơ quan định chuẩn quốc tế và gánh nặng chi phí đăng ký hóa chất nhập khẩu đối với các
doanh nghiệp.

7


- Về minh bạch hóa thủ tục cấp phép xuất khẩu (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hoa
Kỳ và U-crai-na đề xuất): đa số các thành viên đang phát triển đều lo ngại về vấn đề gánh
nặng hành chính và khả năng thực thi do những hạn chế về năng lực hành chính.
Việt Nam cũng sẽ gặp phải các vấn đề tương tự như gánh nặng hành chính do chi phí
quản lý phát sinh, sửa đổi và bổ sung hệ thống pháp quy trong nước liên quan, khả năng quản
lý những vấn đề mới trong thương mại, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, vấn đề lệ
thuộc công nghệ v.v...
Đối với vấn đề thuế xuất khẩu: EU đề xuất đưa nội dung này vào nhiệm vụ đàm phán
theo hướng loại bỏ các hình thức thuế xuất khẩu, trừ một số trường hợp ngoại lệ cho tài
nguyên môi trường. Nhiều thành viên đang phát triển như Trung Quốc, Ác-hen-ti-na, Ma-laixia, Ả-rập-Xê-út và Việt Nam không nhất trí thảo luận do vấn đề này không nằm trong nhiệm
vụ đàm phán Đôha. Ngoài ra, đây cũng là công cụ bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường và
đảm bảo nguồn thu ngân sách.
Đối với vấn đề xói mòn ưu đãi đối với một số sản phẩm dệt may: Danh mục sản phẩm
xói mòn ưu đãi vào thị trường EU (phụ lục 2 của Tài liệu Chủ tịch), Hoa Kỳ (phụ lục 3 của
Tài liệu Chủ tịch) và các thành viên được hưởng một số ngoại lệ đối với một số sản phẩm
(phụ lục 4) không có gì thay đổi kể từ tháng 12.2008 đến nay. Nhiều thành viên cho rằng
danh mục này đã tương đối ổn định, không nên bàn thêm tại thời điểm này. Tuy nhiên, vấn đề

được các thành viên WTO đưa ra. Ban Thư ký WTO đã thống kê các bản chào và xác định
yêu cầu của các thành viên tập trung vào trong 21 ngành và phân ngành dịch vụ bao gồm các
dịch vụ như dịch vụ kinh doanh, dịch vụ viễn thông, dịch vụ xây dựng, dịch vụ phân phối,
dịch vụ tài chính, dịch vụ giao thông vận tải, di chuyển thể nhân, cung cấp qua biên giới v.v...
Tuy nhiên, do thiếu tiến bộ từ các lĩnh vực đàm phán khác nên đàm phán song phương hoặc
thậm chí là nhiều bên giữa các thành viên tiến triển rất chậm chạp. Theo đánh giá của Chủ
tịch Ủy ban đàm phán về dịch vụ, khoảng cách giữa bản chào và yêu cầu của các thành viên
còn lớn và chỉ có thể thu hẹp với quyết tâm chính trị của tất cả các thành viên.
Đáng chú ý là mặc dù được miễn trừ nghĩa vụ mở cửa thị trường hơn nữa trong đàm
phán nông nghiệp và NAMA nhưng Việt Nam không được miễn trừ nghĩa vụ này trong đàm
phán dịch vụ. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có thành viên nào đưa ra yêu cầu đàm phán mở
cửa thị trường dịch vụ với Việt Nam.
Đối với đàm phán về quy định trong nước: các thành viên đạt được nhiều tiến triển
trong đàm phán về xây dựng quy định trong nước. Kế từ khi có dự thảo lời văn báo cáo của
Chủ tịch Ủy ban đàm phán dịch vụ vào tháng 3 năm 2009, các thành viên đã tích cực tham
gia vào đàm phán nội dung này. Tất cả các thành viên đều nhất trí việc xây dựng quy định
trong nước minh bạch và hiệu quả có vai trò rất quan trọng trong tiến trình tự do hóa lĩnh vực
dịch vụ. Tuy nhiên, các thành viên vẫn chưa đạt được đồng thuận trong nhiều nội dung cụ thể
và tiếp tục trao đổi song song với đàm phán về mở cửa thị trường trong các phiên đầu năm
2010.
Đối với đàm phán các vấn đề quy tắc: các thành viên chưa đạt được nhiều tiến bộ đối
với việc đàm phán để xây dựng nội dung cho các vấn đề quy tắc bao gồm: trợ cấp, tự vệ đặc
biệt và mua sắm chính phủ trong lĩnh vực dịch vụ. Do còn nhiều quan điểm khác biệt và tính
chất phức tạp của vấn đề nên các thành viên chưa thực sự tập trung vào đàm phán những nội
dung này.
Đối với các điều khoản của GATS liên quan tới các nước LDC: mặc dù đã có lời văn
cho vấn đề này nhưng các thành viên chưa nhất trí do có một số thành viên muốn gắn vấn đề
này vào cả gói đàm phán, ý trông chờ vào kết quả đàm phán của các lĩnh vực khác rồi mới
quyết định.


Đối với Trợ cấp trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM): Về nội dung sửa đổi tại
Điều 14.3, cơ bản các thành viên ủng hộ nhưng đề nghị cho phép các thành viên có sự linh
hoạt nhất định trong việc phân bổ trợ cấp và tạo cơ hội chứng minh đâu là trợ cấp thường
xuyên và đâu là trợ cấp không thường xuyên. Những nội dung sửa đổi tại: Điều 25.1, 26.1;
Phụ lục I điểm d và ghi chú 63; Phụ lục I điểm j; Phụ lục II điểm b; ghi chú 74 nhìn chung
đều được các nước nhất trí.
Nội dung của Phụ lục về trợ cấp thủy sản quy định: các loại trợ cấp thủy sản cần cấm;
ngoại lệ chung; đối xử đặc biệt và khác biệt; nguyên tắc chung; quản lý nghề cá; minh bạch;
giải quyết tranh chấp; thực thi; các quy định chuyển tiếp. Hiện nay các thành viên chưa đạt
được sự thống nhất nào trong các nội dung của Phụ lục về trợ cấp thủy sản.
b. Những vấn đề tồn tại và liên quan đến Việt Nam
Trong Dự thảo Hiệp định về Chống bán phá giá còn 11 nội dung quan trọng phải giải
quyết đó là: phương pháp quy về không (zeroing); quan hệ nhân quả giữa hành vi phá giá với
thiệt hại; loại trừ các nhà sản xuất có liên quan; sản phẩm thuộc diện xem xét; thông tin yêu
cầu…. đối với các bên có ảnh hưởng; lợi ích công cộng và mức thuế thấp hơn; chống lẩn
tránh; rà soát cuối kỳ; chống bán phá giá thay mặt nước thứ 3 và đối xử đặc biệt và khác
biệt/hỗ trợ kỹ thuật.
Dự thảo Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng còn một số vấn đề lớn cần
được giải quyết là: hỗ trợ tài chính do thua lỗ (financing by loss-making institutions); cạnh
tranh xuất khẩu; tín dụng xuất khẩu; xác định giá để tính giá trị trợ cấp khi nhà nước quy định
giá hàng hóa và dịch vụ trong nước..

10


Theo dự thảo Phụ lục về Trợ cấp thủy sản, phạm vi trợ cấp thủy sản bị cấm quá rộng,
quy định về điều kiện được hưởng đối xử đặc biệt và khác biệt lại rất khó áp dụng. Vì vậy,
quy định về trợ cấp thủy sản, nếu được áp dụng, sẽ ảnh hưởng đến chính sách phát triển nghề
cá của Việt Nam cũng như nhiều thành viên đang phát triển khác, đồng thời có khả năng ảnh
hưởng đến xuất khẩu hàng thủy sản của các nước này trong tương lai. Chính vì vậy, các thành

với đa số Thành viên và rất năng động. Hiện nay các nhóm lợi ích theo từng vấn đề đang
giảm vai trò so với Liên minh ủng hộ tổng thể của 3 vấn đề đàm phán.

1

Nhiệm vụ này không rõ ràng vì được xếp vào loại “các vấn đề thi hành” theo đoạn 19 và 12 của Tuyên bố Đô-ha và đoạn
39 của Tuyên bố Hồng Công. Việc giải quyết các vấn đề này, theo Tuyên bố Doha, phụ thuộc vào ưu tiên của các cơ quan
của WTO. Từ khi khởi động đàm phán Doha đến nay, một số Thành viên bao gồm EU và một số nước đang phát triển như
Ấn Độ, Brazil, Trung Quốc, nhóm châu Phi, nhóm ACP,… đã có gắng chính thức hóa nhiệm vụ đàm phán nhưng bị nhóm
các nước phát triển như Hoa Kỳ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân, Nhật Bản, Hàn Quốc,…phản đối nên vẫn chưa thành công. Do đó,
các phiên đàm phán về 2 vấn đề này được tổ chức dưới hình thức các buổi tham vấn do Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc
hoặc một người được Tổng giám đốc ủy quyền chủ trì.

11


b. Các vấn đề tồn tại và liên quan đến Việt Nam
Đối với sáng chế dược phẩm: quy định một số trường hợp không cấp bằng sáng chế
như bảo vệ sức khỏe con người và động vật, phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho
người và động vật, quy trình sản xuất động thực vật. Các nước đang đàm phán các hình thức
linh hoạt trong lĩnh vực này, trong đó có trường hợp một nước không có đủ năng lực công
nghệ để sản xuất dược phẩm dù được quyền cấp phép cưỡng bức.
Đối với chỉ dẫn địa lý: đàm phán về chỉ dẫn địa lý trong WTO có 2 nội dung chính: (i)
xây dựng hệ thống đa phương về thông báo và đăng ký chỉ dẫn địa lý của rượu vang và rượu
mạnh; và (ii) mở rộng bảo hộ mạnh đang dành cho rượu vang và rượu mạnh cho các sản
phẩm khác.
Về xây dựng hệ thống thông báo đa phương, Điều 23.4 TRIPS quy định: “Để tạo
thuận lợi cho việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý của rượu vang và rượu mạnh, Hội đồng TRIPS sẽ
tiến hành đàm phán về việc thành lập hệ thống đa phương về thông báo và đăng ký chỉ dẫn
địa lý của rượu vang và rượu mạnh được bảo hộ tại các Thành viên tham gia vào hệ thống”.


Đàm phán thuận lợi hóa thương mại (TLHTM) là quá trình đàm phán sửa đổi, cải tiến
các Điều 10 (công bố và quản lý các quy định thương mại), Điều 8 (Thủ tục và phí xuất, nhập
khẩu) và Điều 5 (tự do lưu chuyển hàng quá cảnh) của Hiệp định GATT 1994 gắn với đàm
phán S&D, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực (TACB) cho các thành viên đang
phát triển và LDCs nhằm tiến tới thiết lập 1 hiệp định mới của WTO là Hiệp định TLHTM
với các cam kết biện pháp cụ thể đối với từng thành viên. Trong các lĩnh vực đàm phán Doha,
đàm phán Thuận lợi hoá thương mại là lĩnh vực đạt được tiến triển nhất và có thể đạt được
mục tiêu là kết thúc vào cuối năm 2010.
Đến nay, Ban Thư ký WTO đã hoàn thành và lưu chuyển được Bản tổng hợp ngôn
ngữ Dự thảo Hiệp định TLHTM - là kết quả của toàn bộ tiến trình đàm phán đến nay, để các
thành viên cho ý kiến và phục vụ cho các đợt đàm phán tới. Nhìn chung phần dự thảo Hiệp
định liên quan đến sửa đổi các điều khoản của GATT 94 có thể sớm kết thúc, không còn khác
biệt gì lớn giữa các thành viên.
b. Các vấn đề tồn tại và liên quan đến Việt Nam
Vấn đề chính còn tồn tại trong đàm phán TLHTM là các qui định về đối xử S&D
dành cho các thành viên đang phát triển và LDCs. Đây là một nội dung trụ cột trong Hiệp
định TLHTM, tùy thuộc vào khả năng của các thành viên đang phát triển và LDC và sự hỗ
trợ của các ccộng đồng quốc tế.
Ngoài ra, đối với các điều khác của Dự thảo Hiệp định, hiện vẫn còn một số vấn đề
tồn tại với những khác biệt quan điểm cần được giải quyết như sau:
- Điều 7: về Xử lý trước khi hàng đến (do Hồng Công, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông
Cổ, Thụy sỹ và EU đề xuất) và Giao hàng nhanh của Hoa Kỳ: các thành viên đang phát triển
và LDCs đều quan ngại về phạm vi đề xuất; chủng loại và tiêu chí xác định hàng giao nhanh
và vấn đề hạn chế năng lực thực hiện của các thành viên này.
- Điều 8: về Cấm yêu cầu giao dịch lãnh sự (do Hoa Kỳ và U-gan-đa đề xuất): các
thành viên đang phát triển như Ai cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Cô-oét,... vẫn kiên trì phản đối đề xuất
loại bỏ và cũng xem đây là biện pháp hợp lệ theo Điều VIII của GATT.
- Điều 10: về Sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế (do Na Uy, Thụy Sỹ, Nam Phi, Mông Cổ
đề xuất) là vấn đề lựa chọn các tiêu chuẩn liên quan nào phù hợp, xử lý vấn đề này đối với

a. Các vấn đề cơ bản đã kết thúc
Đàm phán về thương mại và môi trường có một số nhiệm vụ chính bao gồm: i) xử lý
mối quan hệ giữa các nguyên tắc của WTO với các nghĩa vụ thương mại trong các hiệp định
đa phương về môi trường (MEAs); ii) thực hiện cắt giảm và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế
quan và phi thuế quan đối với hàng hóa dịch vụ môi trường và iii) chuyển giao công nghệ và
nâng cao năng lực quản lý trong lĩnh vực thương mại và môi trường đối với các nước đang
phát triển và LDC; vấn đề chia sẻ kinh nghiệm giữa các nước phát triển và các nước đang
phát triển và LDC.
Đàm phán được thực hiện thông qua hai ủy ban: Ủy ban đàm phán về thương mại môi
trường và Ủy ban đàm phán về thương mại môi trường. Cho đến nay, các thành viên đã đạt
được một số tiến bộ đối với những vấn đề sau đây:
- Xây dựng cơ chế phối hợp xử lý các vấn đề liên quan đến hàng hóa, dịch vụ môi
trường tại WTO với các nội dung qui định trong các MEAs mà các nước thành viên đã phê
chuẩn: nội dung này không có sự khác biệt lớn về quan điểm giữa các thành viên. Tuy nhiên
cho tới nay vẫn chỉ dừng ở mức thảo luận chung chung, chưa ra được văn kiện đàm phán.
- Vấn đề tư cách quan sát viên của MEAs tại các hội nghị của WTO: quan điểm của
các thành viên tương đối đồng thuận về các nội dung thảo luận nhưng hiện nay vẫn chưa có
dự thảo văn kiện đàm phán.
b. Các vấn đề tồn tại và liên quan đến Việt Nam
Đối với vấn đề cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế quan đối với hàng hoá và dịch vụ
môi trường: cho tới nay, vẫn tồn tại sự khác biệt trong cách tiếp cận về tiến trình, cơ sở xác
định hàng hóa, dịch vụ và cách thức cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, dịch vụ môi
trường. Các cuộc đàm phán trong năm 2009 chưa tạo được bước đột phá về phương pháp xác
định danh mục hàng hóa môi trường. Hiện tại chưa có cơ quan nghiên cứu nào đưa ra được
định nghĩa cụ thể, rõ ràng về hàng hóa môi trường, do vậy hiện các thành viên tạm thống nhất
5 nhóm hàng chính để thảo luận là ô nhiễm không khí; Năng lượng tái tạo; Quản lý chất thải;

14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status