Tiểu luận tình huống xử lý, kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng để cải tạo, sửa chữa trụ sở cơ quan - Pdf 34

TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Lớp Bồi dưỡng ngạch Chuyên viên K3A-2015

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
“Tình huống xử lý, kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giải phóng mặt bằng để cải tạo, sửa chữa trụ sở cơ quan”

Họ tên học viên: Nguyễn Thị Minh Hưng
Chức vụ: Chuyên viên
Đơn vị công tác: Sở Văn hoá - Thể thao & Du Lịch Hà Nội
(Sở Du Lịch Hà Nội)
1


MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................1
PHẦN I. LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................4
PHẦN II. NỘI DUNG ...............................................................................................6
2.1. Mô tả tình huống. ............................................................................................6
2.1.1. Hoàn cảnh ra đời của tình huống. ............................................................6
2.1.2. Diễn biến của tình huống. ........................................................................8
2.2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống. ............................................................11
2.2.1. Cơ sở lý luận. .........................................................................................11
a. Phương pháp thuyết phục:........................................................................12
b. Phương pháp cưỡng chế: .........................................................................13
2.2.2. Mục tiêu xử lý tình huống......................................................................14
a. Đối với cơ quan quản lý nhà nước. ..........................................................15
b. Đối với chính quyền địa phương. ............................................................15
c. Đối với hộ gia đình...................................................................................15
2.3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả................................................................15



PHẦN I. LỜI NÓI ĐẦU
Trong bất cứ quốc gia nào, nền kinh tế nào, bộ phận tài chính công vẫn luôn
luôn đóng vai trò quan trọng nhất không những đối với hệ thống tài chính mà còn
đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân và tất cả các hoạt động của nhà nước. Tài
chính công là một công cụ hữu ích và chủ yếu để nhà nước thực hiện vai trò điều
tiết vĩ mô của mình. Một trong những đặc điểm nổi bật của kiểm tra tài chính công
là gắn chặt với quyền lực công, quyền lực nhà nước, nhất là quyền lực của hệ
thống hành chính nhà nước. Do đó, nó là một loại kiểm tra đơn phương theo hệ
thống thứ bậc cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Quốc
hội thực hiện quyền kiểm tra giám sát chính phủ về thu chi công, chính phủ thực
hiện quyền kiểm tra đối với hội đồng nhân dân các cấp và hệ thống hành chính các
cấp; cơ quan hành chính nhà nước cấp trên kiểm tra thu chi công đối với cơ quan
hành chính nhà nước cấp dưới. Các cơ quan hành chính nhà nước kiểm tra các đơn
vị trực thuộc về nghĩa vụ phải thực hiện đối với tài chính công và sử dụng vốn,
kinh phí, tài sản nhà nước.
Ngày 21/9/2015, Sở Du lịch Thành phố Hà Nội chính thức đi vào hoạt động
trên cơ sở tách chức năng quản lý nhà nước về du lịch từ Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Hà Nội, để hình thành cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố thực
hiện quản lý nhà nước chuyên ngành về du lịch, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý,
đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch đi vào chiều sâu, phát huy hơn nữa tiềm năng
và lợi thế về du lịch của Thủ đô Hà Nội, đạt được những mục tiêu để phát triển bền
vững, tiếp tục là một trong các Trung tâm du lịch hàng đầu của ngành Du lịch cả
nước, hội nhập quốc tế, cạnh tranh khu vực. Tuy là đơn vị mới thành lập, còn nhiều
khó khăn và thiếu thốn về cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và đội ngũ cán bộ
nhưng nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý tài chính trong đơn vị
4



Ban Lãnh đạo cơ quan T nằm trên đường HH muốn cải thiện đời sống cho
cán bộ trong cơ quan nhằm tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, cải thiện thu
nhập cho gia đình cán bộ khó khăn đã ký Hợp đồng Kinh tế số 05/HĐ-KT, ngày
15/10/2002 với ông Vũ Văn K (là cán bộ thuộc cơ quan T quản lý) về việc hợp
đồng cho thuê 40 m2 đất (trong đó có một phần diện tích đất lưu không) do cơ quan
T quản lý nhưng chưa sử dụng để gia đình ông K kinh doanh dịch vụ. Một trong
những nội dung của Hợp đồng đã ghi rõ: Bên B, tức là gia đình ông K, do ông Vũ
Văn K làm đại diện chỉ được xây dựng lều quán tạm phục vụ cho mục đích kinh
doanh, không được dùng để ở hoặc mua bán, chuyển nhượng dưới bất kỳ hình thức
nào. Khi bên A, tức là cơ quan T có nhu cầu sử dụng sẽ thông báo cho bên B trước
01 tháng và gia đình ông Vũ Văn K phải tự dỡ bỏ lều quán, bàn giao lại cho cơ
quan T toàn bộ mặt bằng và không được hoàn trả hay đền bù một khoản kinh phí
nào.
Để thực hiện việc kinh doanh, ông Vũ Văn K đã viết đơn đề nghị với lãnh
đạo cơ quan T và đã được các cấp có thẩm quyền đồng ý cho ông làm một gian
hàng tạm cấp 4 trên phần diện tích được thuê, sát với mặt đường HH và lát gạch
phần diện tích đất còn lại. Sau khi xây dựng xong, gia đình ông Vũ Văn K đã mở
cửa hàng kinh doanh văn phòng phẩm. Sau một thời gian mở cửa hàng, gia đình
ông K đã cải thiện được cuộc sống, tăng thu nhập.
Đến tháng 2/2005, ông Vũ Văn K đã tự xây dựng thêm một gian nhà cấp
4 nữa trên phần diện tích còn lại, ngay sát gian hàng cấp 4 cũ và mở thêm một
gian hàng nữa đồng thời thuê thêm người bán hàng.
6


Đầu năm 2006, khi thành phố HN tiến hành mở rộng đường HH từ một
làn đường thành hai làn đường tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia
giao thông. Được sự hỗ trợ của UBND Thành phố HN, lãnh đạo cơ quan T đã
họp bàn và thống nhất chủ trương xây dựng Đề án nâng cấp, mở rộng và hoàn
thiện công sở của đơn vị theo hướng hiện đại, phù hợp với yêu cầu đổi mới.

tác tại cơ quan T và liên tục công tác tại cơ quan này cho tới nay. Hiện tại, ông
Vũ Văn K là đảng viên- Phó trưởng phòng HT thuộc cơ quan T. Ông K là một
cán bộ có trách nhiệm và có năng lực trong công tác, trong diện quy hoạch trưởng
phòng HT. Gia đình ông Vũ Văn K gồm vợ và 2 người con đang sinh sống tại
quê với nghề nông.
Đầu năm 2002, để hợp lý hoá gia đình và tạo điều kiện giúp đỡ vợ, con,
ông Vũ Văn K đã chuyển vợ con về HN. Lúc đầu mới chuyển gia đình về HN,
chưa có nơi ăn chốn ở, được bạn bè đồng nghiệp và lãnh đạo cơ quan giúp đỡ, tạo
điều kiện cho gia đình ở tạm trong khu tập thể của cơ quan. Đồng thời gia đình
ông K còn được tạo điều kiện để giải quyết công ăn việc làm cho vợ con, giảm
bớt khó khăn, góp phần ổn định cuộc sống gia đình qua việc cho thuê đất để kinh
doanh (như đã trình bày ở trên).
Sau 3 năm kinh doanh, ông Vũ Văn K đã tích luỹ được ít vốn và đầu năm
2005, được TP ưu tiên cấp cho một lô đất, ông đã xây dựng được một căn nhà cấp
4 tại phường VP quận BĐ Thành phố HN và chuyển gia đình về ở tại đó. Gia
đình ông K vẫn tiếp tục kinh doanh tại cửa hàng trên mảnh đất mà Ông đã thuê
của cơ quan T. Cũng trong thời gian này, do mở rộng kinh doanh, gia đình ông K
thuê thêm người để bán hàng ban ngày và trông coi cửa hàng vào ban đêm. Đồng
8


thời ông K còn tự xây dựng thêm một căn nhà cấp 4 bên cạnh cửa hàng đang kinh
doanh của mình mà không làm đơn xin phép hay báo cáo với cơ quan T. Sau khi
xây dựng xong, khoảng giữa năm 2005, Ông đã bán căn nhà này cho ông Nguyễn
Văn D, thường trú tại phường NT quận HĐ Thành phố HN. Ngay sau khi việc
mua bán trao tay xong, ông D cũng mở cửa hàng kinh doanh tạp hoá bên cạnh
cửa hàng của ông Vũ Văn K.
Về phía cơ quan T, chủ trương cải tạo, mở rộng, nâng cấp công sở đã
được Đảng uỷ, lãnh đạo cơ quan bàn bạc, thống nhất ngay từ đầu năm 2004.
Tháng 02/2006, lãnh đạo cơ quan T đã có văn bản gửi UBND TP xin chủ trương

công sở. Ông K vẫn không chấp hành quyết định của cơ quan. Trong quá trình
lập biên bản, các đơn vị chức năng của cơ quan T mới phát hiện ra người chủ của
căn nhà đang xây dựng trái phép là ông Nguyễn Văn D chứ không phải ông Vũ
Văn K.
Ngày 20/7/2006, Lãnh đạo cơ quan T đã triệu tập cán bộ chủ chốt của cơ
quan, mời đại diện Đảng uỷ, Ban chấp hành công đoàn cơ quan và triệu tập ông K
trả lời rõ về việc thực hiện quyết định của cơ quan trong việc tháo dỡ bỏ nhà tạm
và bàn giao mặt bằng, thực chất việc sử dụng 1 gian nhà cấp 4 của ông Nguyễn
Văn D ra sao, quan hệ như thế nào, có việc mua bán, chuyển nhượng không...
Ông K quanh co, từ chối trách nhiệm của mình và cho rằng ông không liên quan
đến việc ông D đang sử dụng 1 căn nhà cấp 4 trên mảnh đất ông đang thuê.
Trước tình hình diễn biến hết sức phức tạp, ngày 27/7/2006, Lãnh đạo cơ
quan T đã có công văn số 532/CV-X gửi UBND và Công an phường HH Thành
phố HN đề nghị phối hợp làm rõ thêm người đang ở và kinh doanh dịch vụ trên
mảnh đất mà ông Vũ Văn K đã thuê của cơ quan T. Qua công tác kiểm tra tạm trú
tạm vắng và các giấy tờ khác có liên quan, công an phường HH đã xác định người
10


đang ở và kinh doanh trên gian nhà cấp 4 ở địa chỉ đó là ông Nguyễn Văn D, có hộ
khẩu thường trú tại phường NT quận HĐ Thành phố HN. Gian nhà cấp 4 đó đã
được chuyển nhượng, mua bán trái phép, người đứng tên chuyển nhượng là bà
Nguyễn Thị H - vợ ông Vũ Văn K.
2.2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống.
2.2.1. Cơ sở lý luận.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước
ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,
mọi tổ chức, cá nhân đều phải thực hiện và tuân theo pháp luật.
Các cơ quan hành chính nhà nước là những bộ phận cấu thành bộ máy hành
chính Nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Cơ

hành chính, về cơ bản, chúng ta phải sử dụng các phương pháp sau:
a. Phương pháp thuyết phục:
Phương pháp thuyết phục là phương pháp quản lý nhà nước xã hội chủ
nghĩa, nó thể hiện tính dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Phương pháp này
xuất phát từ bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Đó là
phương pháp mềm dẻo nhưng mang tính chất pháp lý, vì phương pháp này được
thực hiện bởi chính các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền, các tổ
chức xã hội, các đoàn thể và các tổ chức quần chúng trên cơ sở những quy định
trong văn bản pháp luật.
Các biện pháp thuyết phục bao gồm: giải thích, tuyên truyền giáo dục,
khuyến khích về mặt vật chất, tinh thần, nhằm đảm bảo sự hợp tác, tuân thủ hay
phục tùng của công dân. Phương pháp thuyết phục đòi hỏi chủ thể giải quyết phải
12


có trình độ tổng hợp cao, mềm dẻo nhưng vẫn phải đạt được mục đích quản lý,
đạt được sự tôn trọng pháp luật của công dân.
b. Phương pháp cưỡng chế:
Cưỡng chế hành chính là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan
và người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành
vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định với mục
đích ngăn chặn hay phòng ngừa. Phương pháp này luôn luôn là bước giải quyết
thứ hai, thường được áp dụng sau khi đã sử dụng phương pháp thuyết phục nhưng
không đạt được kết quả mong muốn hay mục tiêu đã đặt ra nhằm giải quyết hậu
quả, ngăn chặn hay phòng ngừa phát sinh hậu quả xấu thêm do các hành vi vi
phạm pháp luật, hậu quả của việc vi phạm pháp luật của công dân, tổ chức. Đây
là những biện pháp cưỡng bức, bắt buộc do nhà nước đặt ra, được thực hiện bởi
một số cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền nhằm áp dụng đối với
các hành vi trái pháp luật để đạt được mục đích trừng trị, xử lý, ngăn chặn, phòng
ngừa.

điều kiện và hành vi cụ thể mà sử dụng một trong hai phương pháp. Nếu chỉ dùng
phương pháp thuyết phục thì Nhà nước sẽ suy yếu, kỷ cương phép nước không
được tôn trọng, nhưng nếu chỉ sử dụng phương pháp cưỡng chế thì Nhà nước sẽ
là Nhà nước độc tài, là Nhà nước của giai cấp bóc lột.
2.2.2. Mục tiêu xử lý tình huống.
Mục tiêu đặt ra trong việc xử lý tình huống này là giải toả được hai gian
nhà cấp 4 đã được xây dựng trên mảnh đất 40m2 do ông Vũ Văn K thuê để bàn

14


giao mặt bằng cho việc thi công dự án mở rộng, cải tạo, nâng cấp trụ sở cơ quan
T đúng tiến độ. Có thể nhìn nhận mục tiêu xử lý tình huống dưới các góc độ sau:
a. Đối với cơ quan quản lý nhà nước.
Nhằm lập lại trật tự kỷ cương trên công tác giải phóng mặt bằng. Ngoài ra để
đề ra những giải pháp vừa mang tính giáo dục, thuyết phục; vừa kiên quyết răn đe
để các công ty, doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh, cá nhân...nhận thức, hiểu biết
đúng và chấp hành nghiêm chỉnh quy định Pháp luật; chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà Nước, tăng cường pháp chế Xã hội Chủ nghĩa.
b. Đối với chính quyền địa phương.
Tăng cường hơn nữa trách nhiệm, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đối với Cấp uỷ
Đảng, chính quyền trong công tác quản lý, kiểm tra trên địa bàn mình quản lý. Giải
quyết hài hòa giữa lợi ích kinh tế của cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội.
c. Đối với hộ gia đình
Nâng cao ý thức tự giác của công dân trong việc chấp hành các quy định Pháp
luật; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước.
2.3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
2.3.1. Phân tích tình huống
Việc xảy ra tình huống nêu trên và những diễn biến của nó có những yếu
tố chủ quan, khách quan gây ra từ cả phía cơ quan T, người quản lý thửa đất và cả

bán nhà trái pháp luật. Trong việc này, cơ quan T cũng đã thể hiện sự thiếu sâu
sát, cụ thể trong quản lý đất đai thuộc thẩm quyền quản lý của mình và quản lý
quá trình thực hiện hợp đồng của ông Vũ Văn K.

16


Về dự án mở rộng, cải tạo nâng cấp công sở của cơ quan T, việc thực hiện
dự án là hết sức cần thiết, đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho công tác, phù hợp
với mục tiêu hiện đại hoá công sở phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, được Đảng uỷ, Lãnh đạo cơ quan và các tổ chức đoàn thể, cán bộ,
công chức trong đơn vị đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, quá trình xây dựng dự án,
đơn vị tư vấn lập dự án, thiết kế kỹ thuật đã không điều tra khảo sát kỹ dẫn đến
không nắm được hiện trạng sử dụng đất thực tế nên không đưa được đầy đủ,
chính xác hiện trạng sử dụng 40m2 đất do ông Vũ Văn K thuê vào hồ sơ dự án,
không nắm được trên mảnh đất này, ngoài ông K còn có ông D đang sử dụng một
phần diện tích của thửa đất này. Đồng thời, hồ sơ dự án cũng không đưa ra
phương án giải toả mặt bằng cụ thể để chủ đầu tư, cơ quan phê duyệt dự án có
phương án giải phóng mặt bằng. Trong việc này, về phía cơ quan T cũng đã có
biểu hiện chủ quan, thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: Khi xem xét, nghiệm thu hồ sơ dự án đã không chú ý đầy đủ tới
các nội dung của dự án. Đơn vị tư vấn có thiếu sót là không đề cập đầy đủ phần
hiện trạng mặt bằng của dự án nhưng cơ quan T cũng không kiểm tra, không phát
hiện ra.
Thứ hai: Mặc dù chủ trương xây dựng dự án có từ đầu năm 2006, nhưng
cơ quan T không có văn bản thông báo chính thức cho ông K, chỉ thông báo
chung chung trong các cuộc họp giao ban nội bộ cơ quan.
Nhìn chung, qua việc phân tích một số sự kiện liên quan đến vụ việc nêu
trên cho thấy rõ ràng rằng trong tình huống này, ông Vũ Văn K đã có hành vi sử
dụng đất được thuê không tuân thủ hợp đồng đã ký và thực hiện việc mua bán đất

18


b. Hậu quả
Diễn biến của các sự việc nêu trên đã dẫn tới việc không giải phóng được
mặt bằng để khởi công dự án đúng quy định, gây bức xúc trong dư luận, nghi ngờ
trong nội bộ cơ quan, đồng thời phải huy động tới cơ quan công quyền để dùng
biện pháp cưỡng chế, giải toả, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, mất nhiều thời
gian họp bàn cách giải quyết, họp xét xử cán bộ.
2.4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết.
2.4.1. Phương án 1: Phương án giáo dục thuyết phục.
Đây là phương án hợp lý nhất được tất cả cán bộ cơ quan T đồng tình ủng
hộ, vì nó không ảnh hưởng nhiều đến uy tín của cơ quan, không tốn kém nhiều
thời gian. Biện pháp thực hiện là huy động tổ chức, tập thể và một số cá nhân có
uy tín, kết hợp với tổ chức Đảng, công đoàn trong cơ quan, gặp gỡ, giải thích,
động viên ông K cả về tinh thần lẫn vật chất để ông nhận thức được việc làm sai
trái của mình, ảnh hưởng của nó đến lợi ích của cơ quan, thuyết phục vợ, con tự
động dỡ bỏ căn nhà cấp 4 mình đang kinh doanh. Đồng thời cơ quan T sẽ tạo điều
kiện hỗ trợ để ông K tự thương lượng với ông D cũng tháo dỡ căn nhà đã mua trái
phép. Với phương án này, bản thân ông K có thể hiện thái độ hợp tác giải quyết
nhưng vợ, con ông lại tỏ thái độ bất hợp tác. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn D đòi hỏi
ông Vũ Văn K phải trả số tiền bằng số tiền ông đã bỏ ra mua cộng thêm với số
tiền do ông tự cơi nới, tu sửa thêm (với mức không hợp lý) nên ông K không có
khả năng thanh toán và vợ con ông cũng không hợp tác nên phương án này khó
khả thi.
2.4.2. Phương án hai: Dùng biện pháp cưỡng chế để giải quyết.
Là phương án gây phiền phức, tốn kém, phải huy động sự tham gia của
nhiều cơ quan. Nhưng do đã kiên trì thực hiện biện pháp thuyết phục, giải thích,
19


Cơ quan T,
UBND quận


xây dựng trụ sở
Quyết định của UBND
2

quận thu hồi 402 đất Tháng
trong khuân viên cơ 9/2006
quan T

3

Công văn của UBND Tháng

UBND quận,
UBND
phường, Cơ
quan T, ông
K, Ông D
UBND quận,
20

Kinh
phí

Ghi chú



định cưỡng chế giải

UBND

UBND quận,
Tháng

UBND

11/2006

phường, Ông
K, Ông D

Bước 1. Ngày 18/8/2006, Lãnh đạo cơ quan T đã có công văn số 742/CVX, đề nghị UBND quận HĐ dùng các biện pháp hành chính để giải toả một gian
nhà cấp 4 của ông Vũ Văn K và một gian nhà cấp 4 liền kề do ông Nguyễn Văn D
mua trái phép.
Bước 2. Căn cứ Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội; căn cứ Nghị định 04/NĐ-CP ngày 10/01/1997 của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai; căn
cứ Nghị định 48/NĐ-CP ngày 05/5/1997 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong quản lý xây dựng, quản lý nhà và quản lý các công trình kỹ thuật hạ
tầng đô thị; Ngày 04/9/2006, Chủ tịch UBND quận HĐ đã ra Quyết định số

21


1122/QĐ-UB về việc thu hồi diện tích đất sử dụng sai mục đích tại phường HH
và giao cho UBND phường HH quản lý.
Bước 3. Ngày 15/9/2006, Chủ tịch UBND phường HH có công văn

Vũ Văn K. Mục đích chính là để răn đe, trên cơ sở đó ông K sẽ thoả thuận với ông
Nguyễn văn D để tự tháo dỡ, thu dọn tài sản, thuyết phục vợ con tự tháo dỡ tài sản
của mình để trả lại mặt bằng cho cơ quan T. Thực hiện Nghị quyết của Đảng uỷ cơ
quan, cấp uỷ và lãnh đạo đơn vị quản lý ông K gặp gỡ và yêu cầu ông K viết kiểm
điểm gửi Chi uỷ và lãnh đạo đơn vị, song ông K vẫn một mực từ chối và nói: “Tôi
không biết, tôi không làm, tôi không liên quan” và cho đó là việc làm của vợ ông.
Ông K nói mình không có sai phạm gì nên không viết kiểm điểm. Mặc dù đã được
cấp uỷ Chi bộ và cán bộ, quần chúng trong đơn vị gặp gỡ động viên nhiều lần
nhưng ông K vẫn không tự viết kiểm điểm.
Trước sự việc như vậy, căn cứ vào điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và
các văn bản hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, cấp uỷ Chi bộ về việc xét
kỷ luật Đảng viên, Chi bộ đã họp căn cứ vào tài liệu có liên quan, phân tích
những sai phạm của ông Vũ Văn K, chi bộ đã kết luận và bỏ phiếu kín đề nghị
Đảng uỷ khối Dân chính Đảng xét kỷ luật ông Vũ Văn K với hình thức “cảnh
cáo”. Sau đó, Đảng uỷ khối Dân chính Đảng ký quyết định thi hành kỷ luật hình
thức “cảnh cáo”, thông báo trong toàn Đảng bộ.
Sau khi bị kỷ luật về Đảng, Chi bộ và cán bộ, quần chúng trong cơ quan
tiếp tục giáo dục, động viên, thuyết phục ông K để ông thuyết phục vợ con giải
quyết vụ việc do mình gây ra. Nhưng ông Vũ Văn K vẫn cố tình trốn tránh trách
nhiệm không Thực hiện, đồng thời có thái độ bất cần, bất chấp pháp luật. Cùng
thời gian này, UBND quận HĐ đã tổ chức cưỡng chế giải toả. Sau khi giải tỏa
ông Nguyễn Văn D đã làm đơn kiện ông Vũ Văn K.
23


Đứng trước những diễn biến ngày càng phức tạp, Lãnh đạo cơ quan T đã
họp và yêu cầu ông Vũ Văn K thoả thuận với ông D để ông D rút đơn kiện. Lúc
này, được sự động viên, giải thích, thuyết phục của lãnh đạo đơn vị kết hợp với
bạn bè, đồng nghiệp có uy tín giúp đỡ, ông K đã bình tĩnh, nhìn nhận, đánh giá lại
toàn bộ sự việc và đã cùng gia đình có thái độ thiện chí, hợp tác hơn. Được sự

xây dựng cơ bản, quản lý đất đai... Tình trạng kiện tụng, tố cáo cán bộ về quản lý,
sử dụng đất ở nhiều địa phương trong cả nước đã xảy ra khá phức tạp. Đây là một
vấn đề nhức nhối mang tính xã hội khá sâu sắc. Chúng ta cần phải tập trung
nghiên cứu, có biện pháp giải quyết kịp thời, hướng tới ổn định lâu dài. Cần tăng
cường công Tác quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng hệ thống pháp luật, chính
sách về đất đai phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, khắc phục
được những bất công trong quản lý, tạo hành lang pháp lý là rất cần thiết và cấp
bách. Đồng thời tăng cường công tác giáo dục cho mỗi cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân có ý thức trong việc học tập và thực hiện tốt đường lối chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Qua phân tích những nguyên nhân và biện pháp xử lý tình huống trên, tôi
xin đề xuất một số ý kiến như sau:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status