TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K6A-2015
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
Xử lý đơn thư khiếu nại về ruộng đất trong quá
trình thực hiện dồn điền đổi thửa tại thôn Tư Can,
xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội
Họ và tên: Đào Thị Phương Thúy
Đơn vị công tác: UBND huyện Phú Xuyên
HÀ NỘI - 2015
LỜI MỞ ĐẦU
Phần lớn dân số nước ta sống ở nông thôn và lao động trong lĩnh vực
nông nghiệp. Do đó, phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ là mối
quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất
nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục
tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp,
dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù
hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy (khóa
X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2008 đã nêu toàn diện
quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết khẳng định
nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị
quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ
về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành
động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia
những thửa ruộng tốt, ruộng gần nên đó cũng là một lực cản rất lớn trong quá
trình thực hiện. Mặt khác, đội ngũ cán bộ làm công tác dồn điền đổi thửa còn
nhiều hạn chế về năng lực cũng như phẩm chất đạo đức, nên trong quá trình
triển khai còn nhiều lúng túng và sai sót.
Phú Xuyên là một huyện ngoại thành Hà Nội, trong công tác dồn điền đổi
thửa đã đạt được nhiều kết quả tốt, tuy nhiên đến nay một số xã vẫn chưa tiến
hành dồn điền đổi thửa xong vì còn nhiều vướng mắc, bất cập. Trước tình hình
trên và qua thực tế công tác tại địa phương, học tập và nghiên cứu tại Trường
Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, tôi xin chọn đề tài: “Xử lý đơn thư khiếu nại
về ruộng đất trong quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa tại thôn Tư Can,
xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, Hà Nội”
2
NỘI DUNG
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1. Hoàn cảnh ra đời tình huống
Phú Xuyên với diện tích đất tự nhiên 17.104,6ha; trong đó, đất nông
nghiệp là 11.329,9ha chiếm 66,24% diện tích đất tự nhiên. Hiện trạng đất sản
xuất nông nghiệp của các xã trên địa bàn huyện, thậm chí giữa các thôn trong
cùng một xã không đồng đều: đất tốt, đất xấu, đất cao, đất trũng, nơi xa, nơi
gần…; hạ tầng đất canh tác chưa đồng bộ nên việc thực hiện dồn điền đổi thửa
gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Nhưng với quyết tâm cao của cả hệ thống
chính trị, đến tháng 6/2015 toàn huyện đã có 143/158 thôn – đội sản xuất nông
nghiệp đã hoàn thành việc giao ruộng tại thực địa cho các hộ với diện tích
8.964ha, đạt 104% kế hoạch thành phố giao (8.607,4ha) và đạt 94,27% so với
diện tích đã được duyệt phương án (9.508ha).
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số thôn của một số xã chưa tiến hành
ruộng với diện tích mỗi khẩu là 1,32 sào.
Tại thời điểm chia ruộng, thôn Tư Can có 35 cháu được sinh ra từ các hộ
gia đình sinh con vượt kế hoạch. Thực hiện quy định của địa phương, các cháu
sinh vượt kế hoạch phải nộp tiền xử lý hành chính thì mới được giao ruộng. Đã
có 17/35 cháu chấp hành quy định nên được giao ruộng, 18 cháu còn lại không
chấp hành nên không được giao ruộng.
Thực hiện Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 09 tháng 5 năm 2012 của Uỷ
ban nhân dân thành phố Hà Nội về thực hiện dồn điền đổi thửa đất sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012- 2013, Uỷ ban nhân
dân huyện Phú Xuyên đã xây dựng Kế hoạch 1008/KH-UBND ngày 30/8/2012
về thực hiện dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú
Xuyên năm 2012. Uỷ ban nhân dân xã Châu Can đã chỉ đạo thôn Tư Can tiến
hành dồn điền đổi thửa theo đúng nguyên tắc của Kế hoạch 1008/KH-UBND: ổn
4
định số khẩu, ổn định định xuất giao ruộng năm 1993 và ổn định diện tích đất
canh tác nông nghiệp của các thôn.
Từ năm 1993 đến trước thời điểm thôn Tư Can họp dân bàn phương án
dồn điền đổi thửa, 18 cháu trên không có nhu cầu nhận ruộng và chưa chấp hành
quy định của địa phương. Khi thôn tiến hành họp dân để xây dựng phương án
dồn điền đổi thửa thì bố mẹ các cháu này lại có ý kiến muốn nhận ruộng theo
tiêu chuẩn của Nghị định 64/1993/NĐ-CP. Theo Nghị quyết họp dân thôn Tư
Can, nhân dân đồng tình với chỉ đạo của Kế hoạch 1008/KH-UBND nên tiểu
ban dồn điền đổi thửa thôn không giải quyết kiến nghị của bố mẹ 18 cháu trên.
Sau đó bố mẹ các cháu đã làm đơn đề nghị lên Uỷ ban nhân dân xã Châu Can đề
nghị giải quyết trao trả ruộng theo Nghị định 64/1993/NĐ-CP cho các cháu sinh
trước ngày 15/10/1993, nhưng không được giải quyết.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án
theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có
quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng
hành chính.
2. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi
chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện
vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải
6
quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật
tố tụng hành chính.
3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh)
thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc
khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định
mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ
trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo
quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần
hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải
quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật
tố tụng hành chính.
- Nghị định 64/1993/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ
quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài vào mục đích sử dụng đất Nông nghiệp có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10
năm 1993:
Điều 1. Hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để
sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Toàn bộ đất nông nghiệp đang được sử dụng thì giao hết cho hộ gia đình,
cá nhân sản xuất nông nghiệp, trừ đất giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu
cầu công ích của xã theo Quy định này.
Điều 3. Việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào
8
mục đích sản xuất nông nghiệp theo những nguyên tắc sau đây:
1. Trên cơ sở hiện trạng, bảo đảm đoàn kết, ổn định nông thôn, thúc đẩy
sản xuất phát triển; thực hiện chính sách bảo đảm cho người làm nông nghiệp,
nuôi trồng thuỷ sản có đất sản xuất;
2. Người được giao đất phải sử dụng đất đúng mục đích trong thời hạn
được giao; phải bảo vệ, cải tạo, bồi bổ và sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý để tăng
khả năng sinh lợi của đất; phải chấp hành đúng pháp luật đất đai;
3. Đất giao cho hộ gia đình, cá nhân theo Quy định này là giao chính thức
và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài;
4. Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở đề nghị của Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn.
Điều 6. Đối tượng giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài là
nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả những người đang làm
nghĩa vụ quân sự.
3. Phân tích tình huống
Thực hiện Nghị quyết số 04 - NQ/HNTW ngày 14 tháng 01 năm 1993 của
thực đối với đời sống của người dân. Cùng với tác động của thị trường về đất
đai, bất động sản thì đất đai ngày càng chứng tỏ giá trị của nó. Cũng từ đây, việc
khiếu nại về đất đai ngày càng gia tăng.
+ Mặt khác do sự bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên
quan đến đất đai, dẫn đến việc thi hành ở nhiều địa phương là không đồng bộ.
+ Do trình độ hiểu biết về luật đất đai của một số cán bộ ở địa phương còn
hạn chế.
- Nguyên nhân chủ quan:
10
+ Ý thức chấp hành pháp luật, chủ trương đường lối của Đảng của một số
bộ phận nhân dân chưa cao.
+ Thiếu sự chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền trong việc quản lý đất
đai.
5. Hậu quả của tình huống
- Gây bức xúc cho nhân dân trong khu vực, ảnh hưởng đến ổn định xã hội
và mối quan hệ cộng đồng.
- Thiếu sự đồng thuận, nhất trí của nhân dân trong việc thực hiện dồn điền
đổi thửa, nên ảnh hưởng đến tiến độ dồn điền đổi thửa chung của huyện cũng
như toàn thành phố Hà Nội.
- Việc giải quyết của các cơ quan quản lý nhà nước chưa dứt điểm, thiếu
nhất quán, gây khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện vượt cấp, tạo dư luận xã hội, ảnh
hưởng đến uy tín của hệ thống quyền lực nhà nước và lòng tin của nhân dân với
Nhà nước.
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1. Mục tiêu xử lý tình huống
Các trường hợp khiếu nại được giải quyết dứt điểm, đúng theo quy định
của pháp luật. Việc xử lý tình huống xảy ra trong thực tiễn nhằm đạt đến mục
Khả năng xảy ra khiếu kiện vượt cấp, gây ảnh hưởng đến tình hình chính
trị xã hội.
Thiếu sự đồng thuận, nhất trí cao của nhân dân trong thực hiện dồn điền
đổi thửa, làm chậm tiến độ dồn ruộng.
- Phương án 2: Đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét việc trao trả ruộng
cho 18 đối tượng sinh trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo Nghị định
64/1993/NĐ-CP của Chính phủ từ quỹ đất công của xã.
12
+ Ưu điểm:
Đảm bảo quyền và lợi ích của công dân theo Nghị định 64/1993/NĐ-CP
của Chính phủ.
+ Nhược điểm:
Việc giao trả ruộng là một việc rất phức tạp, cần có ý kiến chỉ đạo của
cấp có thẩm quyền, mặt khác việc giao trả ruộng tốn nhiều thời gian, công sức
và đòi hỏi phải thực hiện cẩn thận, chính xác, tránh sai sót.
Làm giảm quỹ đất công của xã gây ảnh hưởng đến nhiều quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất công.
- Phương án 3: Tiến hành giao trả ruộng cho 18 trường hợp sinh trước
15/10/1993 theo Nghị định 64/1993/NĐ-CP từ quỹ đất công của xã, tuy nhiên
mỗi cháu chỉ được nhận 1/2 xuất.
+ Ưu điểm:
Đảm bảo một phần quyền và lợi ích của công dân theo Nghị định
64/1993/NĐ-CP.
Giảm bớt sự ảnh hưởng đến quỹ đất công của xã vì chỉ giao trả một nửa
diện tích.
+ Nhược điểm:
Khả năng vẫn xảy ra các khiếu kiện vượt cấp vì công dân sẽ không chấp
nhận 1/2 xuất, chưa đảm bảo toàn bộ quyền lợi của người dân, gây ảnh hưởng
STT
1
Nội dung công việc
Thu thập các văn bản làm căn cứ pháp luật
Thời gian
Tổ chức và cá nhân tham
thực hiện
gia
18/8/2015
Cán bộ phụ trách chuyên
môn
Địa điểm
Tại cơ quan
Ra quyết định thành lập đoàn thanh tra liên
2
ngành thực hiện công tác xác minh, điều tra
Tại xã Châu
Can
Ghi
chú
- Thu thập tất cả các chứng cứ.
Tổng hợp kết quả để đưa ra kết luận và đề ra
5
các phương án xử lý để trình cấp có thẩm
quyền
6
7
Cấp có thẩm quyền lựa chọn phương án xử lý
và ban hành quyết định xử lý
Tổ chức thực hiện quyết định xử lý đơn khiếu
nại của công dân.
23/9-
Cán bộ tổng hợp
Tại cơ quan
01/10/2015
còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ. Sự hiểu biết, nhận thức và cách thức thi hành
pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn hạn chế. Vì vậy cần
thường xuyên sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo
đưa pháp luật vào cuộc sống đạt hiệu quả cao là đòi hỏi cấp thiết.
- Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, rà soát về việc quản lý đất đai,
giao ruộng, tiến hành dồn điền đổi thửa, xây dựng nông thôn mới ở cấp cơ sở.
- Có hình thức kiểm điểm, phê bình, kỷ luật các cán bộ, công chức
buông lỏng quản lý đất đai, thực hiện sai quy định của pháp luật.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia
chủ trương dồn điền đổi thửa giúp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.
17
KẾT LUẬN
Dồn điền đổi thửa là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, phù hợp với xu thế phát triển, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Ðể việc dồn điền đổi thửa diễn ra nhanh
chóng, thuận lợi, đạt kết quả cao cần làm tốt công tác giải quyết khiếu nại liên
quan đến ruộng đất để nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước. Mặt khác, phải tăng cường công tác tuyên truyền, vận động để nhân dân
hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc dồn điền đổi thửa trong phát triển sản xuất
nông nghiệp nhằm huy động sức dân cùng tham gia xây dựng nông thôn mới.
Muốn giải quyết các khiếu nại một cách dứt điểm, triệt để cần tuân theo
những căn cứ có giá trị pháp lý, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của công
dân theo quy định pháp luật.
Làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo một mặt để bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, một mặt sẽ góp phần giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................... 1
NỘI DUNG ....................................................................................................... 3
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG ................................................................................... 3
1. Hoàn cảnh ra đời tình huống ................................................................... 3
2. Mô tả tình huống ...................................................................................... 3
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG................................................................................ 5
1. Mục tiêu phân tích tình huống .................................................................. 5
2. Căn cứ pháp lý ......................................................................................... 6
3. Phân tích tình huống ................................................................................ 9
4. Nguyên nhân của tình huống .................................................................. 10
5. Hậu quả của tình huống ......................................................................... 11
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG ......................................................................................11
1. Mục tiêu xử lý tình huống ....................................................................... 11
2. Xây dựng các phương án giải quyết tình huống...................................... 12
3. Lựa chọn phương án tối ưu .................................................................... 13
IV. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH THỰC HIỆN .........................................................15
V. KIẾN NGHỊ ..........................................................................................................17
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 18
20
21