Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
LỜI CẢM ƠN
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
1
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
LỜI MỞ ĐẦU
Phú Xuyên là cửa ngõ phía nam của Thủ đô Hà Nội, có vị trí thuận lợi trong
phát trển kinh tế - xã hội, trên địa bàn huyện có trên 30 km sông chảy qua đó là sông
Hồng, sông Nhuệ, sông Duy Tiên, sông Lương, sông Vân Đình .Với truyền thống văn
hóa lâu đời , kết hợp với thế mạnh về tài nguyên đất đai, sông ngòi thuận lợi phát triền
nông nghiệp và các ngành chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp huyện Phú Xuyên được
xem là một trong những khu vực điển về phát triển kinh tế của Thủ đô Hà Nội.
Hiện nay, cùng với sự đi lên của chủ nghĩa xã hội, đất nước đang bước vào thời
kỳ công nghiệp hóa , hiện đại hóa cùng với tình hình khai thác rừng đầu nguồn đang
nằm ngoài vùng kiểm soát làm giảm khả năng sinh thủy của khu vực. Mặt khác do
biến đổi khí hậu toàn cầu, trái đất ngày càng nóng lên và khả năng thiếu nước trong
mùa khô hoàn toàn có thể xảy ra trong tương lai. Không những thế, các công trình
thủy lợi trong khu vực quy hoạch hầu hết được xây dựng từ những năm 70-80 của thế
kỷ trước, hiệu suất làm việc chỉ đạt từ 60%-70% nên đang bộc lộ rất nhiều mâu thuẫn
nội tại làm ảnh hưởng đến khả năng phục vụ, không đảm bảo được nhu cầu chuyển tải
nước như đã thiết kế. Đặc biệt là các trạm bơm tiêu then chốt trong hệ thống đều đã
vận hành, khai thác trên 30 năm nên bị xuống cấp nghiêm trọng, hiện nay các thông số
thiết kế kiêu thông phù hợp với tình hình tiêu thoát căng thẳng và đối tượng tiêu nước
đa dạng, phong phú.
Mặt khác quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và huyện
Phú Xuyên nói riêng đã làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu sử dụng đất: Diện tích đất đô
thị, đất xây dựng các khu công nghiệp, làng nghề (là các đối tượng có yêu cầu sử dụng
nước rất cao) liên tục mở rộng, diện tích đất nông nghiệp nhất là diện tích đất trồng lúa
nước(là các đối tương yêu cầu tiêu nước thấp hơn) không ngừng thu hẹp. Hơn nữa,
huyện Phú Xuyên lại là một vùng trũng nên những năm gần đây tình trạng úng ngập
trên địa bàn huyện Phú Xuyên ngày một căng thẳng hơn. Theo số liệu điều tra và
- Phía Nam giáp huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam
- Phía Đông giáp sông Hồng (bên giới với huyện Khoái Châu – Tỉnh Hưng Yên
- Phía Tây giáp huyện Ứng Hoà
Vị trí địa lý có nhiều thuận lợi: Có đường 1A và tuyến đường cao tốc Cầu Giẽ -
Pháp Vân chạy qua, trung tâm huyện cách Trung tâm Hà Nội khoảng 35 km về phía
Bắc và cách khu lịch chùa Hương 27 km về phía Tây Nam. Huyện có đường tỉnh lộ
428, 429 đi qua ngoài ra còn có mạng lưới đường liên huyện, liên xã. Nhờ vậy mà khu
vực nội thành Hà Nội trở thành thị trường lớn tiêu thụ nông sản, thủ công mỹ nghệ,
đồng thời là nơi thu hút lao động của huyện. Bên cạnh đó Phú Xuyên còn có điều kiên
thuận lợi trong việc trao đổi, lưu thông hàng hoá với các tỉnh khác trong cả nước.
1.2 Đặc điểm địa hình
Phú Xuyên có địa hình tương đối bằng phẳng, cao hơn mực nước biển từ 1,5-6,0m.
Địa hình có hướng dốc dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Theo đặc điểm địa hình,
lãnh thổ huyện có thể chia thành 2 vùng:
- Vùng phía Đông đường 1A gồm các xã: Thị trấn Phú Minh, Văn Nhân, Thuỵ
Phú, Nam Phong, Nam Triều, Hồng Thái, Khai Thái, Phúc Tiến, Quang Lãng, Minh
Tân, Bạch Hạ, Tri Thuỷ, Đại Xuyên. Đây là những xã có địa hình cao hơn mực nước
biển khoảng 4m.
- Vùng phía Tây đường 1A gồm các xã: Phượng Dực, Đại Thắng, Văn Hoàng,
Hồng Minh, Phú Túc, Chuyê565n Mỹ, Tri Trung, Hoàng Long, Quang Trung, Sơn Hà,
Tân Dân, Vân Từ, TT Phú Xuyên, Phú Yên, Châu Can. Do địa hình thấp trũng và
không có phù sa bồi đắp hàng năm, đất đai có độ chua cao nên trồng trọt chủ yếu là 2
vụ lúa, một số chân đất cao có thể trồng cây vụ đông. Cây trồng chủ yếu là lúa, đậu
tương, ngoài ra còn có một số ít diện tích trồng lạc, khoai lang, rau các loại
1.3. Đặc điểm thủy văn sông ngòi
Chảy qua địa phận của huyện Phú Xuyên có 3 con sông lớn là: sông Hồng;
sông Nhuệ; sông Lương. Ngoài ra huyện còn có các sông nhỏ khác là: Sông Duy Tiên,
sông Vân Đình, sông Hậu Bành.
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
4
72 + 506 trên sông Nhuệ thường xuyên mở, các công trình khác trên hệ thống như đập
Hà Đông, cống Đồng Quan, Nhật Tựu, vận hành theo quy trình vận hành chung. Vì
thế, chế độ Thuỷ văn sông Nhuệ có 1 số đặc điểm nổi bật sau đây:
+ Về mùa kiệt, mực nước cũng như lưu lượng trên hệ thống phụ thuộc chủ yếu
vào chế độ thuỷ văn đặc biệt là mực nước của sông Hồng và công tác vận hành hệ
thống.
+ Về mùa lũ, gần như cống Liên Mạc đóng, do đó sông Nhuệ không chịu ảnh
hưởng gì của chế độ thuỷ văn của sông Hồng mà chủ yếu phụ thuộc vào chế độ mưa
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
5
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
nội đồng và yêu cầu tiêu của các khu vực ra sông Nhuệ, đồng thời cũng chịu ảnh
hưởng chế độ thuỷ văn cửa ra của hệ thống là sông Đáy.
Bảng 1.2. Mực nước trung bình nhiều năm vào mùa lũ tại cống
Đồng Quan (km 43 + 750 trên sông Nhuệ)
Tháng VI VII VIII IX X
H (m) 2,40 2,54 2,53 2,57 2,43
Bảng 1.3. Mực nước trung bình các tháng mùa kiệt tại cống
Đồng Quan trên sông Nhuệ
Sông Lương:
Có chiều dài 12,75 km chảy theo hướng Bắc Nam là con sông cụt chảy từ Hà
Nam qua các xã Minh Tân, Trị Thủy, Bạch Hạ, Đại Xuyên và cuối cùng là xã Phúc
Tiến. Là con sông cụt nên không có nguồn sinh thủy, chủ yếu là lượng nước mưa và
nước hồi quy từ các khu tưới lấy nước từ các sông Hồng, sông Nhuệ. Dòng chảy sông
này phụ thuộc vào sự hoạt động của các công trình thủy lợi trong khu vực.
Sông Vân Đình:
Sông Vân Đình (khởi nguồn ở ngay phía trên đập Đông Quan) dài 11,8 km nối
sông Nhuệ với sông Đáy qua cống Vân Đình. Cùng với dự án sửa chữa nâng cấp trạm
bơm Vân Đình, sông Vân Đình cũng đã được đầu tư cải tạo bằng vốn vay ADB3.
Sông Duy Tiên:
Trong vùng có một số loại đất chủ yếu sau:
1) Đất phù sa được bồi lắng hàng năm(pb,phb):
Phân bố ở vùng phía đông của huyện, nằm ngoài đê và một số khu vực lấy nước
tự chảy sông Hồng. Đất có phản ứng trung tính, thành phần cơ giới thịt nhẹ, hàm
lượng mùn rất thấp và có xu hướng giảm nhẹ theo chiều sâu phẫu diện. Đạm và lân
tổng số rất nghèo nhưng lại giàu kali tổng số. Các chất dễ tiêu như lân ở mức thấp,
dưới 3mg/100g đất, kali ở mức khá. Trong thành phần cation trao đổi thì hàm lượng
Ca
++
ở mức cao, Mg lại ở mức thấp. Đây là loại đất thích hợp với nhiều loại rau, hoa
màu và cây công nghiệp ngắn ngày như mía, ngô, đậu đỗ.
2) Đất phù sa Glây ( pg)
Bao gồm phần lớn đất canh tác của huyện Phú Xuyên. Do phân bố ở khu vực
đồng bằng có địa hình thấp trũng, bị ngập nước trong một thời gian dài, mực nước
ngầm thường xuyên ở mức cao đã tạo ra tình trạng đất bị yếm khí thường xuyên, quá
trình glây phát triển mạnh làm cho đất có màu loang lổ. Đây là vùng đất chuyên trồng
2 vụ lúa.
3) Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa.
Là loại đất có nguồn gốc tại chỗ, qua quá trình canh tác lúa nước đất bị biến đổi
một số tính chất lý hoá mà tạo nên loại đất đỏ vàng. Đất có thành phần cơ giới trung
bình, phản ứng ít chua, hàm lượng mùn khá. Hàm lượng đạm và kali ở mức khá, lân ở
mức nghèo. Hàm lượng canxi, magie thấp, loại đất này được khai thác trồng lúa từ rất
lâu đời.
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
7
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
1.5. Đặc điểm kí hậu , khí tượng
Huyện Phú Xuyên mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,
mưa nhiều Khí hậu được chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa nóng đồng thời là mùa mưa,
mùa lạnh cũng là mùa khô.
(%) 82 85 88 88 84 84 85 87 86 83 81 82
Độ ẩm trung bình trong các tháng ở mức khá cao, đều đạt xấp xỉ 80%. Sự chênh
lệch độ ẩm giữa các tháng không đáng kể. Tháng có độ ẩm cao nhất hơn tháng có độ
ẩm thấp nhất chỉ khoảng 8%
Số giờ nắng:
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
8
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
Bảng 1.6. Tổng số giờ nắng trung bình tháng tại Hà Nội
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
(h) 73 48 47 91 180 170 191 170 173 162 138 120
Số giờ nắng lớn trong các tháng mùa nóng trái ngược hẳn so với số giờ nắng rất
nhỏ của các tháng trong mùa lạnh đòi hỏi sự lựa chọn giống cây trồng thích hợp cho
từng vụ nhằm tăng năng suất cây trồng, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh
tế.
Tốc độ gió:
Bảng 1.7. Tốc độ gió trung bình tháng tại Hà Nội
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
V(m/s) 1,9 2,1 2,0 2,2 2,1 1,8 1,8 1,5 1,6 1,7 1,7 1,7
Tuy nhiên cũng xuất hiện những cơn giông bão với tốc độ gió có khi đạt trới
128 – 144 km/h.
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
9
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
2.1. Tình hình dân sinh , kinh tế
Bảng 2.1. Diện tích tự nhiên - dân số - mật độ dân số và các đơn vị hành
chính huyện Phú Xuyên
STT Xã, thị trấn Thôn
22 Xã Tri Thủy 6 569,54 7.293 814
23 Xã Đại Xuyên 7 917,21 4.708 1.259
24 Xã Phú Yên 4 419,35 8.178 863
25 Xã Bạch Hạ 6 591,61 8.332 1.463
26 Xã Quang Lãng 8 608,80 4.996 822
27 Xã Châu Can 9 828,26 7.528 1.272
28 Xã Minh Tân 8 800,20 1.241 1.551
2.1.1. Dân số
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
10
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
- Hiện nay dân số của huyện có là 190.665 người, trong đó dân số đô thị khoảng
14.610 người, vùng nông thôn là 166.990 người.
- Mật độ dân số trung bình khoảng 1.114 người/km
2
.
- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên có xu hướng giảm xuống do công tác dân số kế
hoạch hoá gia đình được toàn dân hưởng ứng, năm 2000 là 1,07% thì đến năm nay
giảm xuống chỉ còn 1,04%. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên toàn huyện là 0,974%
2.1.2. Nghề nghiệp chính
Nguồn lao động trong huyện dồi dào, có kỹ năng, có văn hóa, nhanh nhậy trong
tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất hoàng hóa. Theo thống kê đến nay, tổng số
lao động toàn huyện khoảng 98.060 lao động, trong đó:
+ Lao động nông nghiệp: Khoảng 41.190 người, chiếm 42,0% tổng số lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế.
+ Lao động công nghiệp – TTCN và xây dựng: Khoảng 33.920 người, chiếm
34,6% tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế.
+ Lao động làm thương nghiệp dịch vụ: Khoảng 22.940 người, chiếm 23,4%
tổng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế.
Ngoài ra, trong lực lượng lao động nông nghiệp còn có khoảng 5 - 10% có tham
2.2.2. Trồng trọt
- Tổng diện tích gieo trồng năm 2013 là 27.300,6 ha, trong đó , lúa là cây lương thực
chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành nông nghiệp, chiếm gần 70% tổng giá
trị sản xuất ngành trồng trọt; diện tích canh tác chiếm khoảng 98,7% diện tích đất nông
nghiệp, năng suất lúa đạt 65,3 tạ/ha, sản lượng lương thực có hạt đạt 111.300 tấn,
lương thực có hạt bình quân đầu người 613 kg/năm.
- Sản xuất cây công nghiệp hàng năm chủ lực có cây đậu tương với diện tích gieo
trồng lớn, nhất là đậu tương vụ đông trên đất lúa. Năng suất năm 2013 đạt khá cao
trung bình 14,5 – 16 tạ/ha.
- Rau đậu là cây thực phẩm được trồng phổ biến, có giá trị kinh tế cao, năng suất
tương đối ổn định.
- Thực hiện tốt công tác khuyến nông, ứng dụng tiến bộ KHKT trong sản xuất
nông nghiệp, đưa các loại giống mới có năng suất, giá trị kinh tế cao để dần thay đổi
bộ giống cũ, tạo nên những bước phát triển kinh tế rõ rệt trong toàn huyện.
2.2.3. Chăn nuôi
- Giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2013 đạt 1336 tỷ đồng, chiếm 30,51% cơ cấu
ngành nông nghiệp.
- Chăn nuôi, thuỷ sản phát triển mạnh, phát huy hiệu quả các diện tích trang trại,
một số mô hình chăn nuôi thuỷ sản cho năng suất, giá trị kinh tế cao như nuôi cá rô
đồng, ba ba gai, cá trắm ốc, cá lóc bong, cá sấu. Các chỉ tiêu phát triển của đàn trâu bò,
lợn, gia cầm, thuỷ cầm, được duy trì và tăng về số lượng, đặc biệt việc ấp nở con
giống ở Phú Yên, Đại Xuyên,… hàng năm cũng đã cung cấp cho thị trường từ 18 đến
20 triệu con/ năm.
- Thế mạnh của huyện là chăn luôi lợn, thủy cầm song thời gian qua chưa có bước
đột phá mạnh. Tỷ trọng chăn luôi gôm cả thủy sản, trong cơ cấu giá trị sản xuất nông
nghiệp đạt khoảng 44,38%.
- Tổng đàn trâu, đàn lợn, đàn gia cầm tăng trưởng chậm bình quân cả giai đoạn
2002 – 2013 đạt 3,31%/năm, đạt 64.022 con.
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
12
+ Trang trại chăn nuôi: 45 trang trại
+ Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: 122 trang trại
+ Trang trại sản xuất nông nghiệp tổng hợp: 72 trang trại
Trong tổng số trang trại toàn huyện, loại hình trang trại thuỷ sản chiếm phần
lớn, chiếm khoảng 49,19% tổng số trang trại.
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
13
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
2.2.6 Đánh giá chung về sản xuất nông nghiệp
* Một số thành tựu đạt được:
- Sản xuất nông nghiệp của huyện trong thời gian qua đã có những bước chuyển
biến lớn, đặc biệt là trong phát triển cây vụ đông, đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất
chính trong năm. Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đã đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm. Đã hình thành nhiều trang
trại trong sản xuất nông nghiệp.
- Giá trị sản xuất trồng trọt trên 1 ha canh tác năm 2013 đạt khoảng 62,2 triệu
đồng/ ha.
* Những tồn tại hạn chế:
- Sản lượng lương thực chưa đạt so với mục tiêu quy hoạch do: việc chuyển đổi
đất trồng lúa sang mục đích khác, trong 5 năm diện tích trồng lúa giảm 995,66 ha. Do
đó mục tiêu bình quân lương thực không đạt.
- Đàn bò trong giai đoạn 2013 giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch bệnh. Mục
tiêu phát triển đàn bò sữa trên địa bàn huỵên gặp nhiều khó khăn.
- Đàn gia cầm giảm về tổng đàn bò tại thời điểm, song tổng đàn xuất chuồng cũng
như sản lượng thịt xuất chuồng vẫn tăng nhanh do tăng cường đầu tư cũng như phát
triển chăn nuôi trang trại, chăn nuôi tập trung xa khu dân cư.
2.3 Sản xuất công nghiệp – dịch vụ
- Giá trị sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và xây dựng năm 2013 ước đạt
1.211,9 tỷ đồng. Trong đó:
+ CN – TCN tăng bình quân 8,7%/năm.
Tổng diện tích tự nhiên: 3920,53 ha. Trong đó diện tích đất canh tác 2681,81 ha
(Chi tiết từng xã nằm trong khu vực xem biểu 11 Phụ lục).
Hướng dốc chính trong vùng thấp dần từ Bắc xuống Nam theo hướng dòng
chảy Sông Nhuệ và dốc nhẹ về phía Đông và phía Tây Nam bờ kênh A2-8.
Cao độ ruộng đất phân bố từ +1,5 đến +3,3 m.
Vùng trũng tập trung ven bờ kênh tiêu A2-8 nơi trũng nhất có cao độ nhỏ hơn
+1,5 là khu vực thôn Ngõ Hạ xã Chuyên Mỹ.
Vùng có cao độ hơn +3,00 tập trung rải rác ở hai xã Hoàng Long và Trí Trung
đại đa số ruộng đất có cao độ từ +2,0 đến +3,0 m.
Bảng 2.3. Bảng phân cao độ theo diện tích vùng Miền Tây Phú Xuyên
Cao độ Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Nhỏ hơn (+1,50) 51 1,3
(+1,50) đến (+2,00) 543 13,9
(+2,00) đến (+3,00) 3139 80,1
Lớn hơn (+3,00) 187 4,7
2.5.1.2. Hiện trạng công trình tưới
Lấy nước sông Nhuệ và sông Vân Đình.
a. Tưới tự chảy:
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
15
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
Để đảm bảo tưới hầu hết diện tích canh tác của vùng Miền Tây bằng lấy nước Sông
Nhuệ và Sông Vân Đình bằng 10 cống dưới đê bờ phải Sông Nhuệ và 6 cống dưới đê
Sông Vân Đình, vị trí kích thước và hiện trạng các cống thể hiện ở bảng 3.2 phụ lục
1.1.1.
b. Tưới bằng động lực:
Để hỗ trợ tưới cho vùng Miền Tây hiện có dọc sông Vân Đình và bờ phải sông
Nhuệ, có 13 trạm bơm tiêu kết hợp tưới với tổng số máy dùng cho tưới là: 42 máy x
1000 m
3
Các cống này một số hiện đang bị ngắn so với mặt cắt đê hiện tại và về lâu dài. Khi
tôn cao đê lên cao trình (+6,0) thì toàn bộ các cống này đều bị ngắn so với thiết kế
mới.
b. Hiện trạng các cống tiêu và trục tiêu tự chảy của vùng Miền Tây:
- Bờ hữu Sông Nhuệ có: 12 cống.
- Bờ Sông Vân Đình có: 2 cống.
c. Hiện trạng các trạm bơm tiêu:
Dọc theo sông Vân Đình và bờ phải sông Nhuệ hiện nay có 17 trạm bơm tiêu
(Trong đó có 16 trạm bơm cấp 1, 1 trạm bơm cấp 2 là trạm bơm Trung Lập với tổng số
80 máy trong đó có 67 máy x 1000 m
3
/h, 4 x 2000 m
3
/h và 9 x 2500 m
3
/h qua điều tra
hiện trạng các trạm bơm tổng hợp ở bảng 3.5. phụ lục
Nhìn chung các trạm bơm đa phần là máy 1000 m
3
/h (Riêng Hoàng Đông có 7
x 2500 m
3
/h). Máy móc đã cũ luôn phải sửa chữa. Một số trạm như Trình Biên, Phú
Túc, Đồng Sâu, Đồng Vinh, Ngõ Hạ, Bối Khê, phần thuỷ công và phần cửa đang cần
sửa chữa kịp thời. Nhà quản lý đa số chưa đảm bảo tốt cho điều kiện sinh hoạt của
công nhân vận hành cần được nâng cấp.
2. Hiệu quả tiêu úng của các công trình hiện có, những vấn đề tồn tại và nguyên
nhân
a. Tiêu tự chảy:
Về vụ mùa khi mực nước Sông Nhuệ và Sông Đáy cho phép thì toàn bộ vùng
Tiêu ra sông Nhuệ:
- Cho 140 ha vùng Tây xã Châu Can bằng các trạm bơm Thần.
- Cho 2580 ha phần còn lại ra sông Nhuệ bằng các trạm bơm: Đồng Sâu, Gạo Hồ,
Trí Trung, Đào Xá, Hoàng Đông, Đồng Vinh, Trung Thượng, Ngõ Hạ, Bối Khê.
• Thực trạng tiêu bằng động lực:
Qua điều tra thực trạng tiêu của vùng Miền Tây như sau:
- Khi trạm bơm Vân Đình hoạt động thì vùng Miền Tây của Phú Xuyên được
tiêu ra sông Vân Đình với diện tích là: 1200 ha (như đã nói ở phần trên). 1200 ha là đã
chủ động về tiêu tồn tại chủ yếu cho phần diện tích này là vấn đề điều hành tiêu giữa
các trạm bơm cấp 2 của trạm bơm Vân Đình: Phú Túc, Trình Viên, Tân Độ, Yên Cốc,
Phù Bật với trạm bơm Vân Đình để đảm bảo hiệu quả tiêu là tốt nhất. Điều này muốn
nói là các trạm bơm trên chỉ vận hành khi khả năng bơm hút của trạm bơm Vân Đình
chậm ảnh hưởng đến yêu cầu thoát úng của khu vực (quy định bơm cho các trạm bơm
này được quy định rõ trong quy chế vận hành trạm bơm tiêu Vân Đình).
- Phần còn lại của lưu vực Miền Tây là 2720 ha trong đó có 140 ha của Miền
Tây xã Châu Can được tiêu đảm bảo ra sông Nhuệ bằng trạm bơm Thần 5 với Q
bơm
=
1,2 m
3
/s và q = 8,5 l/s-ha, còn lại 2580 ha lưu vực cuối kênh A 2-8 được tiêu ra sông
Nhuệ với 8 trạm: 37 x 1000 m
3
/h, 9 x 2500 m
3
/h, 1x 2000 m
3
/h, với Q
bơm
= 12,3 m
2.5.2 Vùng miền trung Phú Xuyên
2.5.2.1. Đặc điểm tự nhiên của vùng Miền Trung
Vùng miền Trung Phú Xuyên có diện tích là 4543 ha diện tích tự nhiên với các
xã Phượng Dực, Văn Hoàng, Đại Thắng, Quang Trung, Tân Dân, Sơn Hà, Vân Từ,
Phú Yên, và một phần thị trấn Phú Xuyên, với 3052 ha đất canh tác giới hạn bởi
+ Phía Bắc giáp với huyện Thường Tín
+ Phía Nam giáp với bờ trái sông Duy Tiên (Đoạn từ cống thần đi cầu Giẽ)
+ Phía Tây giáp với đê bờ trái sông Nhuệ
+ Phía Đông là quốc lộ 1
Đại bộ phận đất từ (+1,5) đến (+3)
+ Vùng có cao độ cao lớn hơn (+3) chủ yếu là làng mạc, đường xá nằm ven quốc
lộ số 1
+ Dải đất trũng có cao độ từ (+1,5) đến (+2,0) nằm ven bờ kênh tiêu A2 – 7.
+ Thuỷ thế có xu hướng trũng thấp dần từ đường 1 ra sông Nhuệ và thấp dần
theo hướng dòng chảy sông Nhuệ
2.5.2.2. Hiện trạng công trình thuỷ lợi của vùng
- Nguồn tưới lấy nước từ sông Nhuệ
1. Các công trình hiện có:
a, Tự chảy :
Vùng miền Trung có thể chủ động lấy nước của sông Nhuệ để tưới tự chảy bằng
6 cửa cống dưới đê Sông Nhuệ và sông Hậu Bành. Cụ thể hiện trạng các công trình lấy
nước tự chảy như bảng dưới 3.6 phụ lục 1.2.1
b. Tưới bằng động lực:
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
19
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
Khu vực miền Trung khi không có khả năng tưới tự chảy đã chủ động bơm lấy
nước từ sông Nhuệ bằng 16 trạm bơm tưới tiêu kết hợp với tổng số máy là 56 máy
trong đó có 4x2500m
3
/h và 1x 2500m
3
/h.
Toàn vùng có 96 máy bơm trong đó có 63 x 1000m
3
/h, 8 x 2500m
3
/h, 8 x
25000m
3
/h và 25 x 4000m
3
/h. Hiện trạng các trạm bơm tiêu thể hiện như trong bảng
5.9.
3. Hiệu quả tiêu và vấn đề tồn tại về tiêu của vùng miền Trung
Diện tích lưu vực của miền Trung là 4543 (ha)
a, Tiêu tự chảy
Khi mực nước sông Nhuệ tại Nhật Tựu nhỏ hơn (+1,5m) khu vực miền Trung
được tiêu tự chảy ra sông Nhuệ như sau :
Bảng 2.4. các khu tiêu tự chảy ra sông Nhuệ
TT Vùng Tiêu Bằng cống + kênh
1 Các xã Phượng Dực và Văn Hoàng A 2 – 1 và A 2 – 3
2 Xã Đại Thắng và Tân Dân A 2 – 5 và A 2 – 7 – 2a
3
Xã Sơn Hà, Quang Trung và 1 phần TT
Phú Xuyên
A 2 – 7 – 2a, A 2 – 7 – 2 và A 2 – 7
4 Xã Vân Từ và xã Phú Yên A 2 – 9 và A 2 – 9 a
b, Khi tiêu bằng động lực.
Khu vực từ máng Phượng Vũ đến bờ trái của sông Nhuệ nằm trên kênh tưới I21
Một số cống tiêu bị xuống cấp nghiêm trọng do không được tu bổ thường
xuyên :
Cống A2-1 bị ngắn ngay cả so với mặt cắt đê hiện tại.
Cống Lễ Nhuế (A2-7) hiện bị hư hỏng nặng cần được nâng cấp sửa chữa.
+ Vấn đề tiêu bằng động lực
Nếu tính riêng miền Trung với diện tích tiêu là 4543 ha các công trình tiêu đảm
bảo tiêu với hệ số tiêu là 7,5 l/(s.ha). Song trong thực tế các công trình vùng Miền
Trung còn phải tiêu hỗ trợ cho 1 phần diện tích của các xã thuộc huyện thường Tín
nằm dưới quốc lộ 1 A và 1 phần diện tích phải đầu kênh tiêu A 2 – 7 thuộc vùng miền
Đông Phú Xuyên, với diện tích khoảng 1000ha. Do đó hệ số tiêu ở đây chỉ mới đạt
6.0l/s-ha. Với mức đảm bảo tiêu của các công trình đã có là có thể đáp ứng được yêu
cầu tiêu nước hiện nay do sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong khu vực và sự biến
đổi khí hậu.
Thực tế khu vực miền Trung vẫn còn một số diện tích nằm ở khu trũng ở vùng
kênh tiêu A 2 – 7 khoảng 300 ha bị úng do nguyên nhân sau:
Do các kênh A 2 – 7, A 2 – 7a, A 2 – 7 -2 bờ kênh bị sạt lở, đáy kênh bị bồi lắng
cao nhưng không được nạo vét không chuyển tải đủ lượng Q = 15,8m
3
/s trong khi đó
dọc 3 kênh này có tới 9 trạm bơm cấp II với lưu lượng Q = 7,5m
3
/s, trong điều kiện bờ
kênh thấp bé, thường xuyên kênh trong tình trạng bị tràn bờ và vỡ bờ nên nhiều năm
qua đã phải ngừng bơm đối với các trạm bơm cấp II dọc theo máng 7 khi trong ruộng
bị ngập úng.
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
21
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
Việc điều hành trên giữa các trạm bơm ra máng 7 và các trạm bơm Lễ Nhuế 1 và
2 không được đồng bộ chưa giải quyết tốt việc tiêu thoát nước cho lưu vực với việc
b.Tưới bằng động lực.
Hiện trạng vùng miền Đông, để giải quyết tưới cho vùng hiện có :
Dọc kênh tiêu A 2 – 7 có 3 trạm bơm với công suất 5 x 1000m
3
/h.
Dọc kênh Bìm có 9 trạm bơm tiêu kết hợp tưới với số máy là 16 x 1000 m
3
/h.
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
22
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
Có 3 trạm bơm lấy nước từ sông Lương với số máy tưới là 6x1000m
3
/h
Thực trạng của các máy bơm trong vùng đều hoạt động bình thường, tuy nhiên
do thời gian hoạt động của các trạm bơm đã lâu do đó các trạm bơm đã bắt đầu xuống
cấp vì vậy cần đề nghị tu bổ sửa chữa kịp thời.
Ngoài các trạm bơm trên còn có trạm bơm Hoàng Nguyên tưới cho vùng Trị
Thuỷ, 1 phần diện tích nhỏ và trạm bơm Bà Tạo đang xây dựng đầu 1993 kết hợp tưới
cho vùng Khai Thái với diện tích tưới khoảng 100 ha.
2.5.3.3. Hiện trạng tiêu của vùng miền Đông.
1. Hiện trạng các công trình tiêu vùng miền Đông.
Theo quy hoạch sông Nhuệ và các lần bổ sung quy hoạch thuỷ lợi của huyện Phú
Xuyên từ trước đến nay đều đã xác định vùng miền Đông về lâu dài phải tiêu trực tiếp
ra sông Hồng bằng việc xây dựng các trạm bơm đủ năng lực tiêu.
Các trạm bơm tiêu hiện có
Cả vùng miền Đông hiện có 15 trạm bơm các loại với 58 máy bơm bao gồm :3
trạm bơm cấp II tiêu ra sông Lương là : Phúc Tiến, Nhân Sơn, Vĩnh Ninh với công
suất là 11 x 1000m
3
tiêu ra sông Lương, sông Nhuệ đã cơ bản đảm bảo cho việc tiêu úng và phòng lũ của
Trần Thị Thúy Lớp: 52NT
23
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
vùng miền Đông Phú Xuyên, tuy nhiên cần phải chú ý đến tình hình bồi lắng trong các
kênh tiêu.
- Khi mực nước sông Nhuệ lên cao, kênh Bìm có mực nước tương đương với
mực nước trong sông Lương, gây ngập úng nặng, các trạm bơm tiêu đều đổ dồn vào
kênh Bìm gây tình trạng tràn bờ kênh Bìm và làm cho tuyến kênh bị sạt lở nghiêm
trọng.
- Việc bơm tiêu vào kênh A 2 – 7 còn gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước của
vùng miền Trung của huyện Phú Xuyên.
- Từ hiện trạng trên cần xem xét lại toàn bộ hệ thống thuỷ lợi vùng Miền Đông.
Thống kê hiện trạng các công trình tưới tiêu trong miền Đông như trong bảng
3.10. và bảng 3.11, phụ lục 1.3.1.
2.5.4 Các tiểu vùng độc lập.
2.5.4.1 Tiểu vùng Đại Xuyên.
a. Đặc điểm tự nhiên
Tiểu vùng Đại Xuyên được giới hạn bởi phía Bắc và phía Đông giáp bờ phải
kênh tiêu Nách Bắc. Phía Nam giáp với bờ trái của kênh Duy Tiên, phía Tây giáp với
quốc lộ 1A, là toàn bộ diện tích của xã Đại Xuyên.
Tổng diện tích tự nhiên của tiêu vùng Đại Xuyên là 916,16 ha với 625.12 ha diện
tích đất canh tác.
Có địa hình thấp dần từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống hướng Nam.
b. Hiện trạng thuỷ lợi của vùng.
- Về tưới: Tiểu vùng Đại Xuyên hoàn toàn có khả năng lấy nước tự chảy qua các
công trình sau:
Các cống I 4-1 kích thước là 2Φ60 tại Cổ Trai, I4-3 kích thước là Φ40 tại Thái
Lai, I4-5 I4-7 đều có kích thước là Φ40, tại Đa Chất. Ngoài ra trong tiểu vùng còn có
các trạm bơm tưới tiêu kết hợp đó là Cổ Trai, Thường Xuyên, Thái Đa, Phú Kiều với
a. Đặc điểm tự nhiên.
Tiểu vùng Bạch Hạ là toàn bộ diện tích trong xã Bạch Hạ có diện tích tự nhiên là
591,61 ha với 341,64ha diện tích đất canh tác.
Toàn bộ tiểu vùng như một hòn đảo nhỏ được bao bọc bởi 4 bề là sông Lương và
kênh tiêu Nách Bạc với chiều dài là 13km, có địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và
từ Tây sang Đông.
b. Hiện trạng thuỷ lợi của tiêu vùng Bạch Hạ như sau :
*. Về tưới : Do được bao bọc bởi sông Lương và kênh Nách Bạc và hiện có trạm
bơm An Bình với 2x1000m
3
/h, trạm bơm Hoà Thượng với số máy tưới là 3x1000m
3
/h
do đó về tưới của tiểu vùng Bạch Hạc cả về công trình đầu mối và hệ thống nội đồng
là tương đối hoàn chỉnh, đảm bảo chủ động về tưới cả khi tự chảy và khi bơm cho 341
ha đất canh tác của tiểu vùng.
*. Về tiêu : Vùng Bạch Hạ có khả năng tiêu tự chảy nhanh do 4 mặt của tiểu
vùng là sông và kênh tiêu khi mực nước sông Nhuệ cho phép.
Trong trường hợp phải bơm tiêu thì đã có trạm bơm tiêu An Bình với
2x1000m
3
/h và trạm bơm Bạch Hạ 4x4000m
3
/h, trạm bơm Hoà Thượng 3 x1000m
3
/h.
Như vậy hệ số tiêu của tiểu vùng hiện tại đạt là 6.41l/(s.ha).
*. Tồn tại về tiêu úng của tiểu vùng Bạch Hạ : Các tuyến đê sông Lương và
kênh Nách Bạc rất xung yếu, cao trình mặt đê đạt (+5 đến +5.5 m) thường thấp hơn so
với thiết kế nâng cấp đê sông Nhuệ từ 0,5 đến 1,0 m.