TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K3A-2015
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI
XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BUÔN BÁN THUỐC BẢO VỆ THỰC
VẬT TẠI XÃ ĐẠI HƯNG – HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Họ và tên học viên: Hoàng Mạnh Linh
Chức vụ:
Chuyên viên
Đơn vị công tác: Phòng Kinh tế huyện Mỹ Đức
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2015
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................3
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG ........................................................4
1.1. Hoàn cảnh ra đời...................................................................... 4
1.2. Diễn biến của tình huống......................................................... 5
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG .....................................................8
2.1. Mục tiêu xử lý.......................................................................... 8
2.2. Cơ sở pháp lý. .......................................................................... 8
2.3. Phân tích tình huống. ............................................................. 10
III. XỬ LÝ TÍNH HUỐNG ........................................................... 12
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống. .................................................... 12
3.2. Các phương án xử lý tình huống. .......................................... 13
đối với một số loại sâu hại, làm mất hiệu lực của thuốc, để lại tồn dư thuốc quá
mức cho phép trong nông sản, thực phẩm đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức
khỏe con người và môi trường sinh thái.
Theo đánh giá của Vụ Y tế dự phòng (Bộ Y tế), ngộ độc thuốc bảo vệ
thực vật là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất tại các bệnh
viện, chỉ sau cao huyết áp, phổi và tai nạn giao thông. Đáng lo ngại là việc lạm
dụng sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp vẫn chưa thể khắc phục, hiện vẫn
3
có 30-60% mẫu rau còn tồn dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho
phép.
Chỉ tính riêng địa bàn Hà Nội, trong những năm qua, công tác quản lý nhà
nước về lĩnh vực bảo vệ thực vật đã được quan tâm, công tác tập huấn, cấp
chứng chỉ hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật đã được thực hiện, các hộ
có nhu cầu đăng ký kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật đều được tập huấn trước
khi kinh doanh. Đặc biệt công tác thanh kiểm tra chuyên ngành được Sở Nông
nghiệp & PTNT Hà Nội chỉ đạo sát sao đảm bảo đúng quy định. Số lượng và
chất lượng thanh tra ngày càng được chú trọng. Tuy nhiên, công tác quản lý
thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu
do nhận thức của nông dân còn yếu kém. Ngoài ra, do lực lượng thanh tra còn
mỏng nên công tác thanh, kiểm tra mới chỉ tập trung chủ yếu vào các công ty
thuốc và một số cửa hàng kinh doanh thuốc trên địa bàn mà chưa tập trung vào
người sử dụng và một số hộ buôn bán nhỏ lẻ, thời vụ nên vẫn còn xuất hiện tình
trạng sử dụng thuốc nhập lậu của Trung Quốc trong thời gian qua. Xuất phát từ
thực tế công việc, thực trạng sản xuất nông nghiệp hiện nay còn rất nhiều vấn đề
xoay quanh vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe con
người. Để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý thuốc bảo vệ thực vật trên
địa bàn Hà Nội tôi chọn đề tài: “Xử lý vi phạm trong lĩnh vực buôn bán thuốc
bảo vệ thực vật tại xã Đại Hưng – huyện Mỹ Đức – Hà Nội”.
hàng có đủ điều kiện kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Nhưng khi đoàn kiểm
tra đến địa điểm xã Đại Hưng kiểm tra cửa hàng của nhà anh Đào Huy Nam thì
anh Nam đi vắng, chị Cư (vợ anh Nam) đang bán thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón cho khách hàng. Tại thời điểm kiểm tra là 14 giờ 20 phút. Trưởng đoàn
kiểm tra đưa cho chị một tờ quyết định số 983/QĐ-BVTV ngày 17 tháng 10 năm
2014 của Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội và có đề nghị chị Cư
hợp tác để đoàn kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ. Chị Cư đã đồng ý. Sau đó trưởng
đoàn tôi có yêu cầu chị Cư xuất trình những giấy tờ liên quan như: Chứng chỉ
hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật, giấy đăng ký kinh doanh, giấy chứng
nhận đăng ký chuyên môn về văn bản pháp luật mới được tổ chức định kỳ hàng
năm trong thời gian 3 ngày và yêu cầu chị Cư cho các thành viên trong đoàn vào
kiểm tra các chủng loại thuốc bảo vệ thực vật tại cửa hàng và được sự nhất trí
của chị Cư. Sau khi kiểm tra đoàn kiểm tra phát hiện 2 xô nhựa đựng thuốc bảo
vệ thực vật ngoài danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt
5
Nam gồm 4 loại thuốc có nhãn chữ nước ngoài. Đoàn kiểm tra tiến hành thống
kê số lượng, chủng loại của các loại thuốc vi phạm nêu trên và ghi vào biên bản.
Khi đoàn kiểm tra đang lập biên bản thì bố đẻ của anh Đào Huy Nam, tức Bố
chồng chị Cư đã chạy từ trong nhà ra và thu lại toàn bộ số thuốc trên. Ông đã
nói rằng: “Đây là thuốc của tôi mua để tôi phun cho hoa không liên quan gì đến
con tôi cả. Các anh muốn bắt thì bắt tôi”. Sau đó chị Cư cũng một mực chối số
thuốc đó không phải là của chị và yêu cầu đoàn kiểm tra ra khỏi nhà. Trước tình
hình đó chúng tôi đã phải nhờ đến sự can thiệp của chính quyền địa phương xã
Đại Hưng. Sau 15 phút chính quyền địa phương đã có mặt để giải quyết sự việc.
Lúc này anh Nam đã có mặt ở nhà. Đoàn kiểm tra đã trực tiếp trao đổi với chính
quyền địa phương trước sự chứng kiến của anh Nam (chủ cửa hàng buôn bán
thuốc bảo vệ thực vật) cùng gia đình anh Nam và một số người dân trong xã về
sự việc vừa diễn ra. Anh Nam đã mời đoàn kiểm tra cùng với chính quyền địa
danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam với khối lượng gồm 2 lít thuốc loại
100ml/chai, 3,2 kg thuốc loại 200g/gói đã được mô tả đặc điểm cụ thể tại biên
bản kiểm tra số 203 ngày 08 tháng 11 năm 2014. Hành vi vi phạm của anh Nam
như sau:
+ Thứ nhất anh vi phạm Khoản 1, điều 35 pháp lệnh 36/2001/PLUBTVQH10 ngày 25 tháng 7 năm 2001. Pháp lệnh Ủy ban thường vụ Quốc Hội
về Bảo vệ và kiểm dịch thực vật: “Nghiêm cấm các hành vi: Sản xuất, gia công,
sang chai, đóng gói, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán và sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục cấm sử dụng; thuốc bảo vệ thực vật giả;
thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc; thuốc bảo vệ thực vật có nhãn hoặc
nhãn hiệu không đúng quy định của pháp luật; thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh
mục hạn chế sử dụng và được phép sử dụng ở Việt Nam, trừ trường hợp được
phép nhập khẩu theo quy định tại khoản 3 điều 31 của Pháp lệnh này”.
+ Thứ hai: vi phạm khoản 1, điều 19 Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày
03 tháng 6 năm 2002 Nghị định của Chính phủ ban hành điều lệ bảo vệ thực vật,
điều lệ kiểm dịch thực vật và điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật: “Điều 19.
Phạm vi buôn bán thuốc bảo vệ thực vật: 1.Được buôn bán các loại thuốc thành
phẩm có trong danh mục thuốc được phép sử dụng, hạn chế sử dụng ở Việt
Nam”.
7
+ Thứ ba: vi phạm điểm a, khoản 2, điều 14 Nghị định 26/2003/NĐ-CP
ngày 19 tháng 3 năm 2003 Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật: “Phạt tiền từ 500.000
đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm: Buôn bán
thuốc và nguyên liệu làm thuốc không có tên trong danh mục thuốc bảo vệ thực
vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật hết hạn sử dụng, thuốc
không tiêu chuẩn chất lượng, thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ có khối lượng
từ 5kg (hoặc lít) đến dưới 20kg (hoặc lít) thuốc thành phẩm.
dịch thực vật.
- Thông tư 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28 tháng 6 năm 2010. Thông tư
Quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
- Quyết định số 97/2008/QĐ-BNN ngày 06/10/2008 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT ban hành quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề sản xuất, gia công,
sang chai, đóng gói, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật.
- Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 Nghị định của
Chính phủ ban hành điều lệ bảo vệ thực vật, điều lệ kiểm dịch thực vật và điều
lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
- Thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Bộ
Nông nghiệp & PTNT về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được
phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam.
- Thông tư 22/2012/TT-BNNPTNT ngày 05 tháng 6 năm 2012 của Bộ
Nông nghiệp & PTNT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2012/T
T-BNNPTNT ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn
chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam.
- Quyết định 89/2006/QĐ-BNN ngày 02 tháng 10 năm 2006 Quyết định
của Bộ Nông nghiệp & PTNT quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật thay
thế quyết định số 145/2002/QĐ-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2002.
- Quyết định 63/2007/QĐ-BNN ngày 02 tháng 7 năm 2007 Quyết định
của Bộ Nông nghiệp &PTNT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định
về quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành kèm theo quyết định số 89/2006/QĐBNN của Bộ Nông nghiệp &PTNT.
9
2.3. Phân tích tình huống.
- Phía đoàn kiểm tra: Đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà
nước trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Cụ thể, đã tiến hành kiểm tra
thường xuyên việc chấp hành pháp luật của những cơ sở sản xuất, kinh doanh
tháng 11 năm 2014. Hành vi vi phạm của anh Nam như sau:
+ Thứ nhất anh vi phạm Khoản 1, điều 35 pháp lệnh 36/2001/PLUBTVQH10 ngày 25 tháng 7 năm 2001. Pháp lệnh Ủy ban thường vụ Quốc Hội
về Bảo vệ và kiểm dịch thực vật: “Nghiêm cấm các hành vi: Sản xuất, gia công,
sang chai, đóng gói, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán và sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục cấm sử dụng; thuốc bảo vệ thực vật giả;
thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc; thuốc bảo vệ thực vật có nhãn hoặc
nhãn hiệu không đúng quy định của pháp luật; thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh
mục hạn chế sử dụng và được phép sử dụng ở Việt Nam, trừ trường hợp được
phép nhập khẩu theo quy định tại khoản 3 điều 31 của Pháp lệnh này”.
+ Thứ hai: vi phạm khoản 1, điều 19 Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày
03 tháng 6 năm 2002 Nghị định của Chính phủ ban hành điều lệ bảo vệ thực vật,
điều lệ kiểm dịch thực vật và điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật: “Điều 19.
Phạm vi buôn bán thuốc bảo vệ thực vật: 1.Được buôn bán các loại thuốc thành
phẩm có trong danh mục thuốc được phép sử dụng, hạn chế sử dụng ở Việt
Nam”.
+ Thứ ba: vi phạm điểm a, khoản 2, điều 14 Nghị định 26/2003/NĐ-CP
ngày 19 tháng 3 năm 2003 Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật: “Phạt tiền từ 500.000
đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm: Buôn bán
thuốc và nguyên liệu làm thuốc không có tên trong danh mục thuốc bảo vệ thực
vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật hết hạn sử dụng, thuốc
không tiêu chuẩn chất lượng, thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ có khối lượng
từ 5kg (hoặc lít) đến dưới 20kg (hoặc lít) thuốc thành phẩm.
Với lỗi vi phạm này anh Đào Huy Nam bị phạt số tiền là 500.000 đồng
(vi phạm lần đầu) và bị tịch thu toàn bộ số thuốc vi phạm.
Có thể nhận thấy rằng: Anh Nam đã tham gia đầy đủ các buổi tập huấn do
Chi cục tổ chức theo đúng quy định của pháp luật. Anh Nam đã nắm được
những quy định của pháp luật về ngành nghề kinh doanh mặt hàng thuốc bảo vệ
11
chai, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật cần xử lý nghiêm minh, xử lý đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật để ngăn ngừa các hành vi vi phạm hành chính trong
12
lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật, giảm thiểu nguy cơ sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật ngoài danh mục, thuốc bảo vệ thực vật giả, thuốc bảo vệ thực vật hết
hạn sử dụng … góp phần vào công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm đang báo động hiện nay. Xử lý nghiêm minh trường hợp vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục sẽ là hồi
chuông cảnh báo cho những hộ kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật khác trên địa
bàn Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung.
3.2. Các phương án xử lý tình huống.
Anh Đào Huy Nam đã buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục
với số lượng gồm: 2 lít thuốc loại 100ml/chai, 3,2 kg thuốc loại 200g/gói nhãn
chữ Trung Quốc.
- Vi phạm khoản 1, điều 35 pháp lệnh 36/2001/PL-UBTVQH10 ngày 25
tháng 7 năm 2001, pháp lệnh Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Bảo vệ và kiểm
dịch thực vật.
- Vi phạm khoản 1, điều 19 Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng
6 năm 2002 Nghị định của Chính Phủ ban hành điều lệ bảo vệ thực vật, điều lệ
kiểm dịch thực vật và điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
- Vi phạm điểm a, khoản 2, điều 14 Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19
tháng 3 năm 2003 Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Phương án 1: Do anh Đào Huy Nam vi phạm lần đầu. Tại thời điểm kiểm
tra anh Nam đã xuất trình được đầy đủ những giấy tờ liên quan gồm: Chứng chỉ
hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật, giấy phép kinh doanh mặt hàng
thuốc bảo vệ thực vật và phân bón, giấy chứng nhận huấn luyện chuyên môn lớp
Ưu điểm: Mức phạt tiền cao đủ sức răn đe người vi phạm và cả những hộ
kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật khác.
Nhược điểm: Xử lý theo phương án này thiếu khách quan, chưa phù hợp
với mức độ vi phạm, mức tiền phạt là mức cao nhất của khung hình phạt khiến
người chịu phạt không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngay,
không thỏa đáng dễ dẫn đến khiếu nại. Chưa có tác dụng tuyên truyền tới những
14
hộ kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật khác trong địa phương cũng như người
nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Phương án 3: Về mặt hồ sơ anh Nam đã chấp hành tốt theo đúng quy
định của pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên,
anh vẫn vi phạm trong quá trình hành nghề. Anh đã buôn bán thuốc bảo vệ thực
vật ngoài danh mục với số lượng lớn, cụ thể gồm: 2 lít thuốc loại 100g/chai, 3,2
kg thuốc loại 200g/gói nhãn chữ nước ngoài.
Theo Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2003 Nghị định
của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và
kiểm dịch thực vật: “Phạt tiền từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi vi phạm: Buôn bán thuốc và nguyên liệu làm thuốc không có tên
trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam, thuốc bảo
vệ thực vật hết hạn sử dụng, thuốc không tiêu chuẩn chất lượng, thuốc không rõ
nguồn gốc, xuất xứ có khối lượng từ 5kg (hoặc lít) đến dưới 20kg (hoặc lít)
thuốc thành phầm”. Vì vậy, khi vi phạm anh Nam sẽ phải nhận mức phạt như
sau:
- Hình phạt chính: Phạt tiền, số tiền phạt là: 750.000 đồng
- Hình phạt bổ sung: Tịch thu toàn bộ số thuốc vi phạm, thông báo hành
vi vi phạm của anh Nam lên hệ thống loa truyền thanh của xã, thôn.
Nhận xét: Phương án tối ưu nhất, xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy
vật: “2.Chánh Thanh tra của Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương được quyền:
a. Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 đồng
b. Tước quyền sử dụng giấy chứng chỉ hành nghề sản xuất, gia công, sang
chai, đóng gói, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật do Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương cấp;
c. Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính và
áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a,b,d khoản 3 điều
12 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
16
Chánh Thanh tra Chi cục bảo vệ thực vật sau khi xem xét vào hồ sơ và
căn cứ vào các văn bản quy định của pháp luật, đã ra quyết định xử phạt vi phạm
hành chính đối với đương sự Đào Huy Nam về các hành vi vi phạm như sau:
Phạt chính: Phạt tiền về hành vi buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài
danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và hạn chế sử dụng tại Việt
Nam. Do không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nên mức phạt tiền là mức phạt
trung bình của khung hình phạt:
Áp dụng Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2003 Nghị định
của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và
kiểm dịch thực vật: “ Phạt tiền từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi vi phạm: Buôn bán thuốc và nguyên liệu làm thuốc không có tên
trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam, thuốc bảo
vệ thực vật hết hạn sử dụng, thuốc không tiêu chuẩn chất lượng, thuốc không rõ
nguồn gốc, xuất xứ có khối lượng từ 5kg (hoặc lít) đến dưới 20kg (hoặc lít)
thuốc thành phẩm”. Mức tiền phạt: (500.000 + 1.000.000) : 2 = 750.000 đồng
(Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Phạt bổ sung: Căn cứ vào Điểm C, Khoản 7, Điều 14 Nghị định
thanh tra chuyên ngành.
Tăng cường sự phối kết hợp với các cơ quan công an, quản lý thị trường,
chính quyền địa phương để quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất, kinh doanh
thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn.
5.2 KẾT LUẬN
Qua việc xử lý tình huống sự việc nêu trên cho thấy việc quản lý chặt chẽ
chất lượng thuốc bảo vệ thực vật là việc làm cần thiết đối với các cơ quan quản
lý nhà nước và việc phối hợp thực hiện giữa các cấp, các ngành với người nông
dân được hài hoà, hợp lý đem lại lợi ích chính đáng cho các bên sẽ tạo được sự
đồng thuận cao giữa nhà quản lý, nhà kinh doanh và người nông dân.
Đối tượng trực tiếp chịu hậu quả trong tình huống này là người tiêu dùng
vì vậy trong quá trình giải quyết sự việc phải đảm bảo quyền lợi của người tiêu
18
dùng là trên hết nhưng vẫn phải đảm bảo theo đúng quy trình, nguyên tắc và phù
hợp với các văn bản pháp luật quy định.
Trong tình hình nước ta hiện nay, công tác quản lý nhà nước luôn là
nhiệm vụ trọng và liên tục ở tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Pháp luật có
được thực thi, pháp chế có nghiêm minh, một mặt là nâng cao nhận thức của
công dân, mặt khác nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước.
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công tác quản lý và sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật đứng trước những thách thức của cơ chế thị trường,
người kinh doanh đặt nặng vấn đề lợi nhuận, người sản xuất thì coi trọng năng
suất mà không quan tâm đến chất lượng sản phẩm và tồn dư thuốc bảo vệ thực
vật trên các sản phẩm nông nghiệp. Để công tác quản lý chất lượng nông sản
được chặt chẽ, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh về danh mục thuốc bảo vệ thực
vật được sử dụng và những loại cấm sử dụng trên cây trồng và rau màu. Đề từ
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Pháp lệnh 36/2001/PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng 7 năm 2001. Pháp lệnh
Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
2. Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2003 Nghị định của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và
kiểm dịch thực vật.
3. Thông tư 38/2010/T T- BNNPTNT ngày 28 tháng 6 năm 2010. Thông Tư
Quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
4. Quyết định số 97/2008/QĐ-BNN ngày 06/10/2008 của Bộ Nông nghiệp
& PTNN ban hành quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề sản xuất,
gia công, sang chai, đóng gói, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật.
5. Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 Nghị định của
Chính Phủ ban hành điều lệ bảo vệ thực vật, điều lệ kiểm dịch thực vật và
điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
6. Thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Bộ
Nông nghiệp & PTNN về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật
được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam.
7. Thông tư 22/2012/TT- BNNPTNT ngày 05 tháng 6 năm 2012 của Bộ
Nông nghiệp & PTNT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
10/2012/TT-BNNPTNT ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được
phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam.
8. Quyết định 89/2006/QĐ-BNN ngày 02 tháng 10 năm 2006 Quyết định
của Bộ Nông nghiệp & PTNT quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật
thay thế quyết định số 145/2002/QĐ-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2002.
9. Quyết định 63/2007/QĐ-BNN ngày 02 tháng 7 năm 2007 Quyết định của
Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy
định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành kèm theo quyết định số