Đánh Giá Thực Trạng Quản Lý, Sử Dụng Phân Bón Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Tại Xã Xuân Quang, Huyện Bảo Thắng, Tỉnh Lào Cài - Pdf 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
= = = =¶¶¶ = = = =

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật tại xã Xuân Quang huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai’’.

Sinh viên thực hiện
Lớp
Khóa
Ngành
Giáo viên hướng dẫn

:
:
:
:
:

TRẦN THỊ LUYẾN
MTD
57
MÔI TRƯỜNG
TS. TRẦN DANH THÌN

HÀ NỘI - 2016


2

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt Nam
Trách nghiệm hữu hạn
Viện Nghiên cứu lúa quốc tế

6


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, địa hình ¾ là đồi
núi thuận lợi cho phát triển đa dạng cây trồng. Nhưng cũng thuận lợi cho sâu
bệnh phát triển, đất đai bị rửa trôi bạc màu làm ảnh hưởng tới năng xuất và chất
lượng nông sản. Do vậy để cải thiện tình hình, đảm bảo năng suất và chất lượng
nông sản thì phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp đắc lực của người
nông dân. Tuy nhiên những năm gần đây, lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực
vật sử dụng ở nước ta đang tăng quá nhanh. Tính đến năm 2015, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho lưu hành hơn 4.000 danh mục thuốc bảo
vệ thực vật. Theo cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường Tổng cục môi
trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, 3 năm gần đây nước ta sử dụng
khoảng 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu gấp 10 lần so với những
năm 1985. Về phân bón, theo viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam mỗi năm Việt
Nam sử dụng khoảng trên 2 triệu tấn phân urê, khoảng 600 nghìn tấn DAP. Tổng
lượng phân bón các loại sử dụng ở Việt Nam xấp xỉ 7, 7 triệu tấn. Nhưng thực tế các
nghiên cứu cho thấy việc sử dụng phân bón chỉ được trên 40% hiệu suất sử dụng. Ở
một số vùng đồi núi hiệu suất thậm trí còn thấp hơn.
Nằm trên tỉnh vùng núi giáp biên, xã Xuân Quang là xã vùng thấp của
huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai có diện tích đất đai dùng cho nông nghiệp lớn
(khoảng 75% tổng diện tích), trong đó chủ yếu sản xuất lúa, ngô, chè, cây ăn quả
và một số loại rau màu. Những năm gần đây do thâm canh tăng vụ và thời tiết
cực đoan tình hình sâu bệnh phúc tạp hơn, đồng thời áp lực từ phát triển kinh tế


Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tại địa
phương

-

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường tại địa phương

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

8


1.1 Vai trò của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong phát triển nông
nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Vai trò phân bón trong phát triển nông nghiệp
a. Vai trò của phân hữu cơ trong phát triển nông nghiệp


Phân hữu cơ:
Phân hữu cơ là phân chứa các chất dinh dưỡng ở dạng hợp chất hữu cơ như
phân chuồng, phân xanh, phân than bùn, phân rác, phế phụ phẩm nông nghiệp.

-

Phân chuồng là hỗn hợp chủ yếu của phân, nước tiểu gia súc và chất độn. Chúng
vừa cung cấp thức ăn cho cây trồng vừa bổ sung chất hữu cơ giúp đất tơi xốp,



9


Đối với đất trồng, phân hữu cơ có vai trò chính quyết định đến một loạt
chỉ tiêu như độ phì nhiêu, kết cấu, độ tơi xốp thoáng khí, khả năng thấm nước và
giữ nước, hệ đệm, số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất.
Đối với cây trồng, phân hữu cơ dưới tác dụng phân hủy của vi sinh vật đất từ
các hợp chất hữu cơ khó tiêu dần dần chuyển thành chất mùn, các chất hữu cơ đơn
giản như đạm, kali, lân và nguyên tố vi lượng mà cây trồng có thể sử dụng được.
Ngoài các tác dụng cơ bản trên, việc bón phân hữu cơ còn làm tăng hiệu quả
sử dụng của phân vô cơ, dinh dưỡng vô cơ tạm thời được giữ lại để cung cấp từ từ
cho cây trồng, hạn chế rửa trôi. Từ đó giúp làm giảm số lượng sử dụng phân vô cơ
tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả (Đặng Thị Nha, 2012).
b. Vai trò của phân vô cơ trong phát triển nông nghiệp


Định nghĩa phân vô cơ
Phân vô cơ là loại phân bón được sản xuất trong công nghiệp hóa chất, là
loại phân bón có chứa (hay chuyển hóa thành) các chất dinh dưỡng dễ tiêu với
cây trồng, có thành phần là các chất khoáng, hóa học nên còn gọi là phân hóa
học. Các phân này có hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn nhiều so với phân
hữu cơ, có nhiều ưu điểm trong cung cấp dinh dưỡng khoáng cho cây trồng nên
thường được dùng làm nguồn dinh dưỡng chính cho cây trồng (Nguyễn Như Hà,
Nguyễn Văn Bộ, 2013).



Phân loại phân vô cơ
Trên thị trường phân bón hiện nay, thành phần và tên gọi các loại phân


Thuốc bảo vệ thực vật là những chế phẩm hóa chất, thực vật, động vật, vi
sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên
thực vật. Gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực
vật; các chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật, chất làm dụng hay khô lá; các
chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên
thực vật (Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật nước CHXHCNVN và Điều lệ
Quản lý thuốc bảo vệ thực vật, 2001).
b. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc bảo vệ thực vật tùy vào mục đích nghiên cứu và sử dụng có nhiều
cách phân loại khác nhau nhưng có 3 cách phân loại chính gồm phân loại dựa
vào đối tượng phòng chống, dựa vào con đường xâm nhập và dựa vào nguồn
gốc hóa học.


Dựa vào đối tượng phòng chống: Thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ chuột,
thuốc trừ nhện, thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ cỏ.
11




Dựa vào con xâm nhập (cách tác động) của thuốc tới dịch hại: tiếp xúc, vị độc,

xông hơi, thấm sâu và nội hấp.
• Dựa vào nguồn gốc hóa học:
-

Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: gồm thuốc làm từ cây cỏ, hay các sản phẩm chiết

tưới và phân bón là 3 yếu tố quyết định tạo ra năng suất và chất lượng nông sản.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mang lại một số ưu điểm như:
-

Có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng những
trận dịch trong thời gian ngắn mà các biện pháp khác không thể thực hiện được.

12


-

Hiệu quả phòng trừ rõ rệt, bảo vệ được năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng

-

nông sản, mang lại hiệu quả kinh tế.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh dễ dùng, có thể áp dụng ở
nhiều cùng khác nhau, đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp phòng
trừ duy nhất. (Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, 2007).
1.2 Tình hình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất
nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới
và Việt Nam
a. Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới

Phân bón được dùng cho sản xuất nông nghiệp từ rất sớm. Nhận thức
được vai trò của phân bón với cây trồng và để đáp ứng nhu cầu tăng lương thực,
thực phẩm ngành công nghiệp phân bón đã ra đời. Loại phân bón công nghiệp lần
đầu tiên xuất hiện là supe lân (năm 1840) và được sản xuất với quy mô công nghiệp

trong đó nhu cầu phân Kali là lớn nhất khi chiếm 37% (Phân tích Báo cáo
ngành phân bón, 2015).
Thị trường phân bón Việt Nam tiêu thụ lượng lớn nhưng hiện nay vẫn phụ
thuộc vào nhập khẩu. Công nghiệp sản xuất phân bón nội địa Việt Nam chỉ đáp
ứng được khoảng 50-60% nhu cầu về urê, 100% phân lân nung chảy và NPK từ
lân nung chảy. Các loại phân khác như SA, Kali, DAP đang phải nhập khẩu
100% (Phân tích Báo cáo ngành phân bón, 2015).
Theo FAO tính đến năm 2012 mật độ sử dụng phân bón của Việt Nam ở
mức 297 kg/ha cao hơn so với các nước lân cận. Điều này làm năng suất lúa Việt
Nam cao hơn so với các quốc gia khác 55 tạ/ha so với 38 tạ/ ha ở các nước khác.
Tuy nhiên lạm dụng phân hóa học như vậy không những làm ô nhiễm môi trường
mà về lâu dài làm ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng như giảm năng suất, gây một
số bệnh cho cây trồng và ảnh hưởng trực tiếp đến tới sức khỏe người sử dụng.

14


1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp
trên thế giới và Việt Nam
a. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp

trên thế giới
Trong nền nông nghiệp trên thế giới, thuốc bảo vệ thực vật ngày càng đóng
vai trò quan trọng trong việc phòng trừ sâu bệnh bảo vệ sản xuất, đảm bảo năng suất
và an ninh lương thực. Theo tính toán của các chuyên gia, trong những thập kỷ 70
-80 của thế kỷ 20, thuốc bảo vệ thực vật góp phần bảo vệ và tăng năng suất khoảng
20 - 30% đối với các loại cây trồng.
Những năm qua, nhu cầu và chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật vẫn không
ngừng tăng lên, người nông dân đang quá phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật. Giá trị
tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới năm 1992 là 22,4 tỷ USD, năm 2000 là

kho, còn lại 70% để sử dụng trong nước.
(theo Báo cáo của Bộ công thương, 2015)
Hình 1.1: Diễn biến lượng thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu qua một số năm.
Tuy nhiên theo ông Nguyễn Xuân Hồng, cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật,
bộ NN & PTNN cho rằng: “80% thuốc bảo vệ thực vật mà nông dân nước ta
đang phun lên cây trồng là không đúng đối tượng và ảnh hưởng tới môi trường,
gây ô nhiễm, lãng phí, làm tăng chi phí trồng trọt, nguy cơ mất an toàn vệ sinh
thực phẩm, đe dọa thị trường xuất khẩu nông sản’’. Theo kết quả điều tra của
Cục Trồng trọt 2010 tại các vùng canh tác chuyên canh rau cho thấy việc sử
dụng thuốc của người dân đa phần theo kinh nghiệm, rất ít quan tâm tới khuyến
cáo của các cơ quan chức năng, nhà sản xuất.
Trong khi đó, cơ sở kinh doanh và buôn bán thuốc bảo vệ thực vật được
mở ngày càng nhiều. Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật Bộ NN&PTNT
cho thấy, cả nước có khoảng 20 nghìn đại lý bán thuốc bảo vệ thực vật, 97 nhà
máy sản xuất, đóng gói thuốc với khoảng 30 - 40 ngàn tấn/năm. Vấn đề thanh
tra và quản lý đang là vấn đề rất được quan tâm của các cơ quan chính quyền.

16


1.3 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đến chất lượng nông
sản và môi trường
1.3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng nông sản và môi trường
a. Ảnh hưởng của phân bón tới chất lượng nông sản
Phân bón góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản đáp ứng nhu
cầu lương thực của con người. Tuy nhiên trong một số trường hợp sử dụng phân
không cân đối lại là nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng nông sản.
Theo GS.TS Mai Văn Quyền khi sử dụng phân bón không cân đối sẽ ảnh
hưởng xấu tới chất lượng nông sản. Ảnh hưởng xấu thường thấy khi bón thừa
đạm (N), cả đạm trong phân chuồng, phân hữu cơ nói chung và phân vô cơ.

có chưa một số lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn E.Coli gây bệnh
đường ruột, các ấu trùng sán lá, thương hàn, ký sinh trùng giun, sán… Các kim
loại nặng như asen, chì, cadimi, selen còn được lưu giữ trong đất và tích lũy
trong cây trồng nếu dùng phân hữu cơ có nguồn gốc từ bùn thải hố xí, bùn cống,
phân rác từ phế thải sinh hoạt.
Phân hữu cơ sau khi làm ô nhiễm cho môi trường đất thì dễ dàng làm thay
đổi tính chất của các hệ mạch nước ngầm, đặc biệt dẫn chuyền cho hệ mạch
nước ngầm và hệ thống nước bề mặt những ấu trùng gây bệnh, hệ vi sinh vật
gây nhiễm khuẩn cho người và động vật sử dụng nước ô nhiễm.
Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trong phân hữu cơ tạo ra các khí nhà
kính. Các quá trình phân hủy hiếu khí tạo ra CO 2, phân hủy kỵ khí tạo ra các khí
như CH4, H2S, NOx, SO2 … đều là những khí nhà kính mạnh.


ảnh hưởng tiêu cực của phân vô cơ tới môi trường

- Với môi trường đất: Phân vô cơ bị rửa trôi theo chiều dọc xuống các
tầng đất, tầng nước ngầm làm thay đổi tính vật lý, hóa học và sinh học của đất.
+ Ảnh hưởng đến tính chất vật lý của đất: Làm đất mất cấu trúc, đất chai
cứng, giảm khả năng giữ nước, giảm tỷ lệ thông khí.
+ Ảnh hướng đến tính chất hóa học của đất: Phân vô cơ có khả năng làm
mặn hóa do tích lũy các muối như CaCO3, NaCl … Cũng có thể làm chua hóa
do bón quá nhiều phân chua sinh lý như KCl, NH 4Cl, (NH2)2SO4, … do sự có
mặt của các anion Cl-, SO4-- hoặc do trong phân có dư lượng axit tự do lớn. Ví
dụ bón nhiều phân (NH2)2SO4 thì làm dư thừa SO4 - đất bị chua, pH giảm, một số
18


vi sinh vật bị chết, tăng làm lượng Al, Mn, Fe, … linh động gây ngộ độc cho cây
trồng.

môi trường.
a. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới nông sản

Khi thuốc bảo vệ thực vật sử dụng không hợp lý, thiếu hiểu biết kỹ thuật,
quá lạm dụng và phụ thuộc sẽ gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng. Ảnh
hưởng trực tiếp tới chất lượng nông sản thu hoạch. Trong quá trình sản xuất,
nông sản cũng tiếp súc với thuốc bảo vệ thực vật và có thể chứa một hàm lượng
nhất định thuốc trong nông sản. Do vậy việc sử dụng thuốc cấm, không tuân thủ
thời gian cách ly hay phun quá liều lượng hay bất kỳ hoạt động không đúng kỹ
thuật trong khi sử dụng, làm cho nông sản chứa hàm lượng chất độc hại gây độc
hay tích tụ độc khi con người hay động vật sử dụng nông sản đó.
Ngoài ra một số loại thuốc bảo vệ thực vật dùng quá liều lượng như thuốc
trừ cỏ làm cây bị táp lá, táp quả, ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây từ
đó làm giảm năng suất và chất lượng nông sản thu hoạch (Trịnh Xuân Ngọ, 2010)
b. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới môi trường.


Ảnh hưởng tới con người
Thuốc bảo vệ thực vật bản chất là những chất độc nên ít nhiều nó sẽ gây
độc hại cho những nguời tiếp xúc. Trong quá trình con người sản xuất, sử dụng
nông sản chứa thuốc, các thành phần độc hại trong thuốc bảo vệ thực vật xâm
nhập vào cơ thể qua da, mắt, hít thở và ăn uống. Nếu tiếp xúc nhiều sẽ tích tụ
dần gây vô sinh, ung thư, viêm dây thần kinh, ảnh hưởng tới hệ thống miễn dịch
của cơ thể.
Một số ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đối với da và các yếu tố

-

nguyên nhân như:
Viêm da tiếp xúc do Paraquat, captafol, 2,4-D và mancozeb

Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ và thay đổi cơ cấu cây trồng,
sâu bệnh diễn biến phức tạp. Vì vậy số lượng, chủng loại thuốc sử dụng cũng
tăng lên. Việc tăng liều lượng, tăng số lần phun, dùng thuốc bảo vệ thực vật
không theo hướng dẫn dẫn đến hiện tượng kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực,
thay đổi hệ sinh thái nông nghiệp thêm phức tạp.
Nhưng người dân đối với việc tuân thủ thời gian cách ly không thực hiện,
quá trình sử dụng lại vứt bao bì thuốc bừa bãi, thói quen rửa bình bơm và dụng
cụ không đúng nơi quy định. Điều này làm ô nhiễm môi trường nước, làm chết
các động vật thủy sinh.
Ngoài ra vấn đề tồn động rất nhiều kho thuốc bảo vệ thực vật không đúng
quy định, các kho thuốc cũ đang chờ xử lý gây nguy cơ thẩm lậu và dò rỉ các
chất độc vào môi trường đang rất đáng báo động. Vấn đề nhập lậu thuốc cấm,
thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sử dụng cũng đang là vấn đề khó kiểm
soát hiện nay đang đe dọa nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người
(Trịnh Xuân Ngọ, 2010).

21


1.4 Những bài học kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng
phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật.
Những năm gần đây vấn đề lạm dụng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật đã và đang gây nguy hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người và môi
trường. Để khắc phục vấn đề này nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ
kỹ thuật mới ra đời. Sau đây là một số mô hình về nâng cao hiệu quả quản lý và
sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tại nhiều địa phương khác nhau. Đây là
những bài học kinh nghiệm rất thiết thực để cải thiện tình hình lạm dụng phân
bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
1.4.1 Mô hình “ ruộng lúa bờ hóa” tại tỉnh An Giang
Mô hình được phát triển từ chương trình “Quản lý dịch hại tổng hợp trên

giúp nông dân giảm chi phí sản xuất, tăng lợi tức trong sản xuất nông nghiệp
cho nông dân nên sâu bệnh, dịch hại cũng ít hơn. Nhờ vậy, nông dân cũng hạn
chế tình trạng lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, chất lượng
hạt gạo được nâng lên. Ngoài ra, việc hạn chế bón đạm, sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật giúp cho môi trường sản xuất tốt hơn, hạn chế phát khí thải nhà kính và
ô nhiễm môi trường (Mỹ Lý,2016)
1.4.3 Mô hình quản lý phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng tại tỉnh
Lào Cai
Để giải quyết tình trạng vứt bỏ bừa bãi vỏ bao bì phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật qua sử dụng trên các cánh đồng. Chính quyền xã Vĩnh Yên được sự hỗ
trợ của Trạm khuyến nông huyện Bảo Yên, đặc biệt là cán bộ địa bàn vận động
và tham mưu để xây dựng các bể thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại thôn
bản. Mô hình tự nguyện xây dựng bể thu gom được chính quyền xã Vĩnh Yên
đồng tình ủng hộ và bà con nông dân nhiệt tình hưởng ứng. Mô hình bước đầu

23


phát huy hiệu quả, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, nông dân;
nâng cao nhận thức trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường.

24


CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn xã
Xuân Quang huyện Bảo Thắng.




Các loại cây trồng chính trên địa bàn xã



Hình thức luân canh, cách thức canh tác phổ biến.
2.3.3. Thực trạng quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.



Hiện trạng sử dụng phân hữu cơ

-

Các loại phân hữu cơ thường sử dụng
Cách thức và liều lượng sử dụng phân hữu cơ so với khuyến cáo.



Hiện trạng sử dụng phân vô cơ

-

Danh mục các phân bón vô cơ thường xuyên sử dụng

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status