Quyền nhân thân gắn liền với những giá trị tinh thần của con người và về nguyên
tắc không thể chuyển giao cho người khác. Trong Bộ luật dân sự 2005 cũng như
Luật sở hữu trí tuệ cũng đã đưa ra các quy định về quyền nhân thân liên quan đến
lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Để có những nhìn nhận kĩ hơn về các quyền nhân thân này,
em xin lựa chọn đề bài: “Phân tích nội dung của các quyền nhân thân liên quan
đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Đặc trưng của các quyền nhân thân này.”
1. Khái quát chung về quyền nhân thân và quyền nhân thân liên quan đến
lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy
định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển
giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều
738 và Điều 751 Bộ luật Dân sự năm 2005 và trong các quy định tại Luật Sở hữu trí
tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009.
Các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả có những đặc điểm: là quyền của tác
giả (tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tác giả không đồng thời là
chủ sở hữu quyền tác giả) mang lại giá trị tinh thần cho tác giả; được bảo hộ vô thời
hạn (trừ quyền công bố tác phẩm); không được chuyển giao hay để lại thừa kế (trừ
quyền công bố tác phẩm). Quyền nhân thân thuộc quyền tác giả gồm các quyền:
Quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, nêu
tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền công bố, phổ
biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; quyền bảo vệ sự
toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên
tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của
tác giả.
Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền nhân thân đối với
tác phẩm mà mình sáng tạo gồm: Đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh
trên tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người
khác sửa đổi nội dung của tác phẩm.
Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả có các quyền nhân thân đối với
tác phẩm gồm: công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm
thật, bút danh hoặc có thể chủ động không đứng tên, để tác phẩm của mình ở “tình
trạng khuyết danh”. Quyền này của tác giả là quyền yêu cầu được ghi tên tác giả
trên bản gốc, bản sao tác phẩm, quyền được nêu tên khi biểu diễn, phát sóng tác
phẩm. Cho nên, bất kì khi nào tác phẩm được công bố, sử dụng, tổ chức, cá nhân
buộc phải nêu tên thật hoặc bút danh của tác giả. Quyền đặt tên cho tác phẩm quy
định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ không áp dụng đối với tác phẩm
dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác1
Đối với tác giả chương trình máy tính và các nhà đầu tư sản xuất chương trình
máy tính có thể thoả thuận về việc đặt tên và việc phát triển các chương trình máy
tính2
1
2
Khỏan 1 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ – CP
Khỏan 4 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ – CP
2
Quyền được ghi tên là tác giả trong các văn bằng bảo hộ (đối với sáng chế, kiểu
dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng):
Pháp luật cũng ghi nhận tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệp có hai nhóm
quyền năng cơ bản: quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân là những
quyền chỉ thuộc về tac giả, không thể chuyển giao cho bất kì ai, dưới bất kì hình
thức nào, thâm chí ngay cả trong trường hợp tác giả của đối tượng sở hữu công
nghiệp đó chết, quyền đó vẫn gắn liền với tac giả. Quyền nhân thân mà pháp luật
ghi nhận cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bao gồm quyền
được ghi tên trong văn bằng bảo hộ cũng như được nêu tên là tác giả trong các tài
liệu công bố, giới thiệu về các đối tượng sở hữu công nghiệp. Cụ thể, theo quy định
của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ
chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Việc công bố tác phẩm có liên quan mật thiết tới việc được hưởng sự bảo hộ
quyền tác giả tại nơi diễn ra hành vi công bố, cũng như liên quan đến việc hưởng
thời hạn bảo hộ quyền tác giả, đặc biệt là đối với các tác phẩm tính thời hạn bảo hộ
không theo nguyên tắc đời người, như tác phẩm điện ảnh, tác phẩm di cảo và tác
phẩm không rõ tác giả hoặc tác phẩm khuyết danh, tác phẩm phát sóng.
Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện
ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn
học, nghệ thuật, trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến
trúc.
Điều 4.4 Công ước Berne cũng quy định rằng những tác phẩm được công bố ở
hai hay nhiều nước trong thời giam 30 ngày kể từ lần công bố đầu tiên được coi là
công bố đồng thời ở nhiều nước.
Đối với quyền công bố tác phẩm thì hầu hết các nước thuộc hệ thống pháp luật
civil law coi đây là quyền nhân thân trong khi đó các nước thuộc hệ thống pháp luật
common law lại coi đây là quyền tài sản.
2.4.
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa
chữa, cắt xén tác phẩm hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức
nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Nội dung, giá trị nghệ thuật gắn liền với uy tín và làm nên danh tiếng của tác giả.
Hơn thế nữa, tác giả phải chịu trách nhiệm đôi với các cá nhân, tổ chức khác về nội
dung của tác phẩm. Do đó, không có chủ thể nào khác ngòai tác giả có quyền thay
đổi nội dung của tác phẩm kể cả trong trường hợp sự thay đổi làm tăng giá trị nghệ
thuật, giá trị thực tiễn của tác phẩm. Theo quy định tại Nghị định 100/2006/NĐ –
phẩm văn học, nghệ thuật”.
Quyền của người biểu diễn thuộc quyền liên quan, pháp luật dành cho người
biểu diễn sự bảo hộ riêng nhằm chống lại việc sử dụng bất hợp pháp những đóng
góp của họ. Ngòai ra, quyền nhân thân được nêu tại Điều 29 Luật sở hữu trí tuệ chỉ
thuộc về người biểu diễn khi họ không gây phương hại tới quyền tác giả.
Theo điểm a khỏan 2 Điều 29, Luật Sở hữu trí tuệ, người biểu diễn có quyền
được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng
cuộc biểu diễn.
Danh tiếng của một diễn viên, ca sĩ, nhạc công hay vũ công chỉ được công chúng
biết đến thông qua việc giới thiệu tên của họ trong buổi trình diễn, trên các ấn phẩm
ghi âm, ghi hình buổi biểu diễn hay khi chương trình biểu diễn được phát sóng. Giới
thiệu tên, đơn giản là để cá biệt hóa người biểu diễn. Có những người ca khúc có
thể do nhiều ca sĩ khác nhau thể hiện và tên ca sĩ là dấu hiệu đầu tiên để công chúng
xác định người biểu diễn.
5
Pháp luật không quy định cụ thể cách thức giới thiệu tên người biểu diễn, tùy
từng trường hợp, việc giới thiệu tên có thể theo các cách thức khác nhau, miễn là
công chúng có thể xác định được người biểu diễn. Cũng cần lưu ý là tiết mục biểu
diễn là công chúng có thể xác định được người biểu diễn. Tùy từng trường hợp, có
thể lựa chọn cách thức giới thiệu phù hợp. Ví dụ, trong một tiết mục tổng hợp có sự
tham của nhiều người thì chỉ cần giới thiệu tập thể người biểu diễn... Tùy từng
phương thức truyển tải cuộc biểu diễn mà cách thức giới thiệu cũng khác nhau. Đối
với cuộc biểu diễn trên sân khấu thì có thể xướng tên trực tiếp; buổi biểu diễn được
truyền hình thì có thể giới thiệu tên người biểu diễn bằng ký tự chữ hiện trên màn
hình...
Quyền giới thiệu tên người biểu diễn không chỉ được bảo hộ đối với những cuộc
biểu diễn được ghi âm, ghi hình, phát sóng toàn bộ mà còn cả đối với trường hợp sử
đối với các hành vi xâm phạm các quyền liên quan, trong đó có quyền của người
biểu diễn. Công ước Rome (1961) về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi
âm, ghi hình, tổ chức phát sóng mới chỉ dành cho các chủ thể này quyền kinh tế mà
không có quy định về việc bảo hộ các quyền nhân thân. Hiệp ước của WIPO về
biểu diễn và bản ghi âm năm 1996 lần đầu tiên thừa nhận bảo hộ cho các quyền
tinh thần của người biểu diễn tại Điều 5 – Quyền tinh thần của người biểu diễn.
Theo đó, quyền tinh thần (hay quyền nhân thân) độc lập với quyền kinh tế của
người biểu diễn đối với các buổi biểu diễn nghe trực tiếp hoặc các buổi biểu diễn
được định hình trong bản ghi âm, và thậm trí sau khi chuyển nhượng các quyền
kinh tế đó, người biểu diễn có quyền yêu cầu được công nhận là người biểu diễn
của buổi biểu diễn của mình, trừ trường hợp bỏ sót bắt buộc do cách thức sử dụng
buổi biểu diễn gây ra, và quyền phản đối bất kỳ sự bóp méo, cắt xén hoặc các sửa
đổi khác đối với buổi biểu diễn của người biểu diễn mà có thể phương hại đến
thanh danh của họ.
3. Thời hạn bảo hộ đối với các quyền nhân thân liên quan đến lĩnh vực sở
hữu trí tuệ.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà
trong khoảng thời gian này quyền của tác giả và của chủ sở hữu quyền tác giả được
nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Theo quy định tại Điều 27 Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, thời hạn bảo hộ quyền tác giả như sau: các quyền
tác giả được bảo hộ vô thời hạn là quyền nhân thân gắn với tác giả và không thể
chuyển giao được cho chủ thể khác. Đó là các quyền: đặt tên cho tác phẩm; đứng
tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm
được công bố, sử dụng; bảo vệ sự tòan vẹn của tác phẩm; không cho người khác sửa
chữa, cắt xén tác phẩm hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây
phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Những quyền nhân thân của người biểu diễn cũng giống như những quyền nhân
thân của tác giả, nó luôn có mối liên hệ, gắn bó mật thiết, thậm chí là vĩnh viễn với
7
quyền của các chủ thể sở hữu trí tuệ còn có các quy định liên quan đến bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ. Việc bảo vệ này có ý nghĩa quan trọng với không chỉ chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ mà còn có ý nghĩa đối với các chủ thể khác và liên quan đến sự
phát triển của quốc gia.
8
Theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Luật sở hữu trí tuệ, các hành vi sau đây xâm
phạm đến quyền nhân thân trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ:
- Mạo danh tác giả;
- Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả;
- Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây
phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả;
- Chiếm đoạt quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất, bản ghi âm, ghi hình, tổ
chức phát sóng;
- Sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc dưới bất kì hình thức nào đối với cuộc biểu diễn
gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn;
Các biện pháp bảo vệ: Phần 3 của TRIPS quy định về các thủ tục và các biện
pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở các quốc gia thành viên trong đó có các biện
pháp dân sự, hình sự, hành chính và biện pháp kiểm sóat biên giới. Tuy nhiên biện
pháp hình sự và kiểm sóat biên giới chỉ áp dụng đối với hai đối tượng của quyền sở
hữu trí tuệ là hàng hóa giả nhãn hiệu và vi phạm quyền tác giả. Pháp luật nước ta
cũng thừa nhận nhiều biện pháp bảo vệ bao gồm: biện pháp tự bảo vệ, biện pháp
hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp dân sự.
Thực trạng và giải pháp:
Từ năm 2001 đến nay, số lượng người sử dụng Internet ở Việt Nam tăng trung
bình mỗi năm là 12%. Theo kết quả nghiên cứu của Net Index 2011 vừa công bố,
tại Việt Nam, Internet đã vượt qua radio và báo in để trở thành phương tiện thông
tin được sử dụng hàng ngày phổ biến nhất, với tỷ lệ 42%. Có thể thấy, việc tiện ích
và xu hướng sử dụng, khai thác mạng đã tăng vọt. Cùng với đó thì việc nhận thức
thức về pháp luật bảo hộ quyền tác giả vào chương trình giáo dục phổ thông, đại
học.
KẾT LUẬN
Để các quy định pháp luật thực sự đi vào đời sống, cần đẩy mạnh tuyên truyền,
phổ biến pháp luật cho công chúng để từ đó hình thành ý thức tôn trọng, khai thác
và sử dụng hợp pháp. Chỉ khi các chủ sở hữu quyền hiểu rõ các quy định pháp luật
và biết cách tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì công tác bảo hộ mới
đạt hiệu quả cao.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Dân sự năm 2005
2. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
3. Công ước Rome “Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất
bản ghi âm, tổ chức phát sóng”
4. Công ước Berne “Công ước về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật”
(1886)
5. Hiệp định TRIPs “Thỏa thuận về các khía cạnh liên quan tới thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ” (1994)
6. TS. Lê Đình Nghị - TS. Vũ Thị Hải yến. Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ.
Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.
7. Trường Đại học Luật Hà Nội. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam Tập 1. Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
8. Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền
liên quan
11