I.ĐẶT VẤN ĐỀ.
Như chúng ta đều biết, gia đình là nền tảng cơ bản, thể hiện tính chất,
và kết cấu của xã hội. Quan hệ hôn nhân với tính chất bền vững “trăm năm”, là cơ
sở để tạo lập gia đình. Việc kết hôn đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và
chồng, quan hệ đó bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân,nghĩa vụ và quyền
về tài sản trong đó quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng đóng vai trò quan
trọng chi phối mọi hoạt động trong cuộc sống gia đình. Bởi vậy giữa họ phát sinh
các trách nhiệm pháp lý của vợ/chồng đối với các giao dịch dân sự cho một bên
vợ/chồng thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Vì lẽ đó, Đảng và
Nhà nước ta luôn cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm điều
chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ vợ chồng nói riêng. Trong
đó việc đưa vào thực hiện và áp dụng luật Hôn nhân – Gia đình năm 2000 những
năm qua ở nước ta đã thu được những kết quả to lớn. Luật đã thực đi vào cuộc
sống, góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân. Một trong những vấn đề quan
trọng đặt ra là : “Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo luật hôn nhân gia
đình năm 2000”.
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Khái niệm trách nhiệm liên đới.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về trách nhiệm liên đới
của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện.
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 121 Bộ luật Dân sự). Khi tham gia
11
giao dịch dân sự, các bên tham gia sẽ đạt được lợi ích hợp pháp mà các bên mong
muốn đạt được khi xác lập giao dịch.
Đối với một số loại giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc
chồng thực hiện pháp luật có quy định bên còn lại phải chịu trách nhiệm liên đới.
Vậy trách nhiệm liên đới là gì?
bố hợp đồng này bị vô hiệu với lý do chưa có sự đồng ý của mình. Việc thực hiện
hợp đồng phải được bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng, tức vợ chồng phải
chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng thực
hiện, nhằm bảo đảm nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Có như vậy, quyền
lợi của người thứ 3 tham gia xác lập hợp đồng liên quan đến tài sản chung vợ
chồng mới được bảo đảm trước pháp luật. Nói cách khác, pháp luật suy đoán rằng,
luôn có sự thỏa thuận “mặc nhiên” của cả hai vợ chồng, dù hợp đồng đó chỉ do
một bên vợ chồng thực hiện. Điều đặc biệt cần lưu ý đó là vợ (hoặc chồng) chỉ phải
chịu trách nhiệm liên đới đối với các hợp đồng dân sự do một bên chồng (hoặc vợ)
thực hiện khi có đầy đủ cả hai điều kiện:
- Giao dịch phải hợp pháp. Đó không thể là các giao dịch có nội dung
vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội.
- Giao dịch phải nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia
đình. Các tiêu chí của “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu” có thể thay đổi theo sự phát
triển của xã hội, tùy thuộc vào từng điều kiện. Có những nhu cầu rất cơ bản, chung
đối với gia đình ở mọi nơi và trong mọi thời đại: thức ăn, quần áo của các thành
viên, thuốc men, chi phí giáo dục con cái, bảo quản nhà cửa,... Có những nhu cầu
đặc trưng của cuộc sống đô thị hiện đại: chi phí điện, nước, điện thoại,...
Không chỉ Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam mà Luật dân sự của
một số nước trên thế giới cũng quy định về vấn đề này:
+ Theo điều 220 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (Luật số 65-570 ngày
13/7/1965): “Mỗi bên vợ, chồng có thể một mình kí kết hợp đồng nhằm mục đích
33
duy trì đời sống gia đình hoặc giáo dục con cái; bên kia có trách nhiệm liên đới
đối với nghĩa vụ do việc ký kết này…”.
+ Bộ luật Dân sự Nhật Bản tại Điều 761 cũng quy định: “Đối với các vấn đề
chi tiêu hàng ngày, nếu chồng hoặc vợ thực hiện giao kết pháp lý với người thứ ba,
thì cả vợ lẫn chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới và theo phần đối với các
Như vậy vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản
lí và sử dụng tài sản chung (điều 28 luật hôn nhân năm 2000 về chiếm hữu,sử dụng,
định đoạt tài sản chung). Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng ở mức độ
đơn giản đương nhiên được coi là có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng.Vì vậy
pháp luật quy định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng chỉ căn cứ vào nguồn
gốc, thời điểm phát sinh tài sản mà không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi
người vào việc tạo dựng và phát triển khối tài sản đó có thể do sức khỏe hay đặc
điểm công việc mà họ đóng góp vào khối tài sản chung không bằng nhau nhưng
quyền sở hữu đối với tài sản chung vẫn ngang bằng nhau,….Trong pháp luật cũng
quy định quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung là nhằm
bảo vệ khối tài sản chung, tránh những trường hợp một trong hai vợ chồng có hành
vi phá tài sản chung, hủy hoại tài sản chung hoặc tự mình thực hiện các giao dịch
dân sự làm tổn thất khối tài sản chung , ảnh hưởng tới quyền lợi của gia đình và của
người kia.
- Trường hợp vợ hoặc chồng đi vắng, đi công tác nước ngoài, đi xuất
khẩu lao động, ... không thể tham gia các giao dịch dân sự liên quan tới tản sản
lớn của gia đình mà giao dịch đó yêu cầu chữ kí của cả hai người nhưng chỉ có
một người tham gia kí kết được vào giao dịch dân sự đó thì vợ/chồng sẽ phải làm
giấy ủy quyền hoặc nhận sự ủy quyền từ phía người kia để tham gia vào các giao
dịch dân sư hợp pháp vì mục đích chung của gia đình. Khi thực hiện giao dịch thì
55
cả hai người đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với giao dịch đã kí kết đó vì
đó được coi như là có sự thỏa thuận giữa vợ chồng, cả hai người đều đồng ý tham
gia nên văn bản giao dịch là văn bản hợp pháp mà một bên vợ/chồng không có
quyền yêu cầu hủy hợp đồng (Điều 139,142,144 luật Dân sự năm 2005 về đại diện
và phạm vi đại diện, Điều 25 luật hôn nhân năm 2000 về trách nhiệm liên đới của
vợ,chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện, điều 28 về chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung).
chồng chị kí vào bản hợp đồng đó. Được một thời gian sau,vàng xuống giá, họ sợ
thua lỗ nặng nên muốn bán số vàng đó vừa để giữ gốc,vừa để trả nợ nhưng bây giờ
vàng xuống ai cũng sợ ôm vào nên vợ chồng họ phải bán với cái giá thấp hơn gía
thị trường vài giá. Lỗ nặng,không trả nợ kịp, chồng chạy trốn,chỉ còn người vợ và
đứa con nhỏ ở lại. Bọn chủ nợ đòi kiện chị ra tòa vì vay tiền mà không trả được
nhưng khi ra tòa chị bảo chị không tham gia kí kết hợp đồng, không biết gì về
chuyện chồng chị vay tiền mà đó là do anh ta tự ý vay, nên trong trường hợp này
chị không phải chịu bất cứ một trách nhiệm nào cả mà người chịu toàn bộ trách
nhiệm là chồng chị.
Để giải quyết vụ việc này, tòa án phải căn cứ vào quá trình vợ chồng
anh ta thực hiện giao dịch, số lợi tức sinh ra trong thời gian vợ chồng anh đầu tư
thì sử dụng vào việc gì, số tiền đó ai được hưởng nhiều, ai hưởng ít hơn, trước khi
chồng chị tham gia kí kết hợp đồng vay tiền có sự đồng ý của chị không, trước đó
họ có trao đổi, thỏa thuận với nhau về giao dịch không để từ đó căn cứ buộc vợ
chồng họ phải chịu trách nhiệm pháp lí trước tòa về việc làm của mình.
2.2. Trường hợp giao dịch dân sự khi một bên vợ/chồng tự ý quyết định hoặc
hai vợ chồng thỏa thuận nhưng không có sự đồng ý của vợ/chồng:
- Trường hợp vợ/chồng sử dụng phần tài sản chung vào đầu tư, tạo ra lợi
tức và cả hai người đều được hưởng phần lợi tức đó. Nếu không có sự thỏa thuận
77
giữa hai người, vợ/chồng tự ý thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản
chung mà có hoa lợi, lợi tức sinh ra thì phần hoa lợi, lợi tức sinh ra sẽ thuộc tài sản
chung và còn tùy thuộc theo mức độ của giao dịch thì trách nhiệm pháp lý có thể
do người thực hiện giao dịch là vợ/chồng gánh chịu hoặc cả hai vợ chồng cùng phải
thực hiện.
- Trường hợp vợ/chồng bị ép buộc phải thực hiện các giao dịch dân sự liên
quan tới tài sản chung của hai người do bên kia yêu cầu, tùy thuộc vào mục đích
và hậu quả của giao dịch dân sự mà họ phải chịu các trách nhiệm pháp lí khác
dụng nên Tòa án buộc phải tiến hành thẩm định lại sự việc căn cứ vào các tình tiết
để đưa ra cách giải quyết hợp tình, hợp lí cho cả hai bên.
- Nếu vợ/chồng tự ý sử dụng số tài sản chung vào mục đích riêng,không có
sự đồng ý của bên kia hoặc bên kia hoàn toàn không biết gì,phần hoa lợi,lợi tức
sinh ra vợ/chồng hưởng toàn bộ không coi đó là tài sản chung của hai người thì
vợ/chồng người thực hiện giao dịch dân sự đó phải chịu toàn bộ trách nhiệm, người
còn lại không có trách nhiệm liên đới.
- Khi một bên vợ hoặc chồng phát hiện ra, có yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng,
các Tòa án đều xác định hợp đồng dân sự đó bị vô hiệu, nhưng việc xác định trách
nhiệm liên đới của bên không tham gia của các Tòa án lại rất khác nhau. Chúng tôi
nhận thấy cần phải nhận thức đúng về vấn đề này và có đường lối giải quyết cho
thống nhất. Trên thực tế giải quyết các vụ án về vấn đề này lại rất phức tạp, rất
nhiều hợp đồng dân sự do một bên vợ hoặc chồng thực hiện không có sự bàn bạc,
thỏa thuận với bên kia.
Ví dụ: Chị H và chị T cùng trú tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội quen
biết nhau đã lâu. Do thiếu tiền trong việc kinh doanh nên chị H đã hỏi vay tiền chị
T. Ngày 5/5/2007, Chị H đã vay của chị T 100 triệu đồng, lãi suất thoả thuận, thời
hạn 5 tháng. Chị H đã cầm cố cho chị T chiếc xe ôtô Ford cùng giấy tờ do anh Kchồng chị H đứng tên. Việc vay nợ này được lập thành hợp đồng có chữ ký của cả
99
chị H và chị T. Tuy nhiên, khi hết thời hạn trong hợp đồng chị H vẫn không trả
được gốc và lãi. Chị T đề nghị bán chiếc xe ôtô để thanh toán nợ nhưng anh K
không đồng ý. Do đó, ngày 25/2/2007 chị T đã khởi kiện chị H tại Toà án nhân dân
Quận Đống Đa - Hà Nội.
Qua xác minh Toà án đã xác định được: Có việc chị H đã vay chị T 100
triệu đồng, lãi suất thoả thuận, thời hạn 5 tháng.
+ Chị H vay tiền về kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của gia
đình.
+ Chiếc xe ôtô mà chị H càm cố cho chị T là tài sản được hình thành trong
dân sự liên đới: “Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải
thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa
vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”. Do đó, Toà án quyết định anh K phải có nghĩa
vụ chịu trách nhiệm liên đới về việc trả nợ cho chị T. Nếu chị H nhất định không
chịu trả thì chị T có quyền yêu cầu anh K phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đối
với mình dù chị T không trực tiếp xác lập hợp đồng vay nợ với anh K.
Như vậy, qua các ví dụ nêu trên đều cho thấy: Các hợp đồng dân sự (hợp
đồng mua bán nhà và hợp đồng vay nợ) đều được một bên vợ hoặc chồng xác lập
liên quan đến tài sản chung của vợ chồng các hợp đồng dân sự đó đều bị Tòa án các
cấp tuyên bố vô hiệu là đúng. Song việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ
chồng đối với hợp đồng dân sự do một bên thực hiện và việc xử lý hậu quả pháp lý
của hợp đồng vô hiệu có khác nhau. Tùy theo trường hợp, hoàn cảnh mà nên có
những cách giải quyết khác nhau, cần phải xem xét kỹ mục đích của các giao dịch
đó là gì, các giao dịch đó hường tới ai,… để tìm ra biện pháp thấu tình, đạt lý.
3.Nhận xét
* Ưu điểm:
1
11
Đây là một quy định rất quan trọng và cần thiết nhằm ràng buộc trách nhiệm
của vợ chồng đối với nhau và đối với cuộc sống gia đình. Điều này khắc phục một
tình trạng vẫn xảy ra trên thực tế: đó là sự thờ ơ, vô trách nhiệm của vợ chồng đối
với công việc gia đình. Đôi khi vợ hoặc chồng tự mình thực hiện những giao dịch
dân sự vì nhu cầu sinh hoạt chung thiết yếu của gia đình, nhưng khi trách nhiệm
phát sinh người chồng hoặc vợ không chịu chia sẻ trách nhiệm, không có sự hỗ trợ
và tạo điều kiện cho nhau trong cuộc sống gia đình. Chính vì thế quy định của Luật
hôn nhân gia đình năm 2000 hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với truyền thống yêu
thương, quý trọng và hỗ trợ nhau trong gia đình. Có thể nói rằng, quy định tại Điều
25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là một bước cụ thể hóa về nghĩa vụ tài sản
liên đới liên quan đến hợp đồng dân sự bất hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng
thực hiện đối với tài sản chung của vợ chồng, chúng tôi nhận thấy cần phải thống
nhất đường lối giải quyết loại việc này như sau:
- Nếu một bên vợ hoặc chồng tham giá các hợp đồng dân sự liên quan đến tài
sản chung có giá trị lớn mà không có sự đồng ý của bên kia, thì bên đó có quyền
yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng dân sự đó, Tòa án phải tuyên bố hợp đồng dân sự
đó là vô hiệu.
- Tuy một bên vợ hoặc chồng không có sự tham gia hợp đồng dân sự, làm
cho hợp đồng dân sự đó trở nên bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu, song thông qua các
hợp đồng đó vẫn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình, thì bên vợ hoặc
chồng không tham gia hợp đồng dân sự vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với
việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
- Việc thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bên vợ hoặc chồng không
tham gia hợp đồng dân sự, không nhất thiết phải được xác định bằng văn bản thỏa
1
13
thuận, mà chỉ cần xác định bên vợ hoặc chồng không tham gia hợp đồng dân sự đó
có biết và phải biết việc tham gia hợp đồng dân sự của phía bên kia, thì sẽ buộc họ
phải có trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô
hiệu.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là xuất phát từ phía vợ chồng. Trong
cuộc sống, nếu không rơi vào những tình huống bất đắc dĩ và những nhu cầu sinh
hoạt nhỏ thiết yếu cuả gia đình thì nên có sự bàn bạc trước để tránh xảy ra mâu
thuẫn, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình.
1
14