Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân trong Tố tụng hình sự - Pdf 34

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là một trong những
nguyên tắc quan trọng của hoạt động tố tụng hình sự. Hiện nay, vấn đề này tuy đã được
nghiên cứu ở những giác độ khác nhau nhưng có ít công trình nghiên cứu chuyên sâu. ở
một số trường luật hay khoa luật, vấn đề này chưa được biên soạn hoặc biên soạn sơ sài
trong giáo trình luật TTHS. Điều này làm ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về vị
trí, vai trò của nguyên tắc này trong TTHS. Vì vậy, trong nội dung bài này, nhóm sẽ tìm
hiểu nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công
dân và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này trong thực
tiễn.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân
trong Tố tụng hình sự.
1.Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một nguyên tắc trong Tố
tụng hình sự.
1. Khái niệm.
Theo từ điển Tiếng việt, nguyên tắc với nghĩa chung nhất được hiểu là “điều cơ
bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”. Như vậy, nguyên tắc
được coi là cái không thể thiếu trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tế của con
người nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đúng hướng và hiệu quả.
Tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong
việc điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự theo những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự. Do vậy, hoạt động của các cơ quan này trong đấu tranh phòng chống tội phạm
phải tuân theo ‘điều cơ bản đã được định ra” là tất yếu. Đó là những nguyên tắc tố tụng
hình sự.
1


Nguyên tắc bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là một trong những quyền
cơ bản của công dân được pháp luật quy định và bảo vệ. Công dân không thể bị bắt nếu
không có quyết định của toà án hoặc quyết định phê chuẩn của viện kiểm sát nhân dân,

quyền công dân.
2.Nội dung của nguyên tắc.
Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là một nguyên tắc rất
quan trọng trong tố tụng hình sự .
Quy định tại điều 6 BLTTHS : không ai bị bắt, nếu không có quyết định của tòa án,
quyết định hoặc phê chuẩn của kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Việc bắt và giam giữ phải theo quy định của bộ luật này.
Như vậy, nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: trong hoạt động tố tụng hình
sự, việc bắt và giam giữ chỉ được áp dụng trong trường hợp cần thiết và theo đúng quy
định của BLTTHS về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và thời hạn, đồng thời nghiêm cấm
mọi hình vi truy bức và nhục hình đối với người bị bắt.
*Bắt và giam giữ phải đúng quy định của pháp luật, của BLTTHS về căn cứ, thẩm
quyền, thủ tục và thời hạn.
Theo quy định của BLTTHS thì bắt và tạm giam, tạm giữ người là những biện pháp
ngăn ngừa do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can,bị cáo và có
thể đối với cả người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm
tội trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho công tác điều tra khám phá tội phạm, xét xử
và thi hành án hình sự.
Bắt người đã hạn chế quyền tự do cá nhân, đụng chạm đến quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, thậm chí cả danh dự, nhân phẩm của công dân.Bởi vậy,nếu bắt người
được áp dụng đúng theo quy định của pháp luật thì các quyền và lợi ích của công dân
3


được tôn trọng và bảo đảm, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hình sự. Ngược lại nếu bắt người tùy tiện, trái pháp luật thì không
những quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của họ bị xâm phạm
về thân thể của họ bị xâm phạm mà còn làm giảm hiệu lực của pháp luật, làm mất uy tín
của cơ quan bảo vệ pháp luật và niềm tin của của công dân vào công lý.
BLTTHS hiện hành đã quy định những trường hợp bắt người sau đây:

tội phạm.
Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp thể hiện tính cấp bách của việc ngăn
chặn tội phạm, song để tránh những sai lầm, vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền
bất khả xâm phạm của công dân lệnh bắt khẩn cấp quy định tại điều 81 BLTTHS quy
định chỉ những người có thẩm quyền nhất định mới có thẩm quyền ra lệnh bắt người
trong trường hợp khẩn cấp như đã trình bày trong điều 81.
Trong mọi trường hợp bắt người khẩn cấp phải được thông báo với Viện kiểm sát
bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, nếu Viện kiểm sát
không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt.
Quy định này nhằm đảm bảo việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp của cơ
quan điều tra đúng người cần bắt, khắc phục hiện tượng bắt nhầm, bắt oan người vô tội,
vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Bắt người phạm tội quả tang đang bị truy nã được quy định tại điều 82 BLTTHS.
Phạm tội quả tang đang là trường hợp tội phạm đang thực hiện tội phạm sau khi thực

5


hiện tội phạm thì bị phát giác ngay nếu người chứng kiến có thể xác định rõ ràng là
trường hợp phạm tội.
Đang bị truy nã là trường hợp phạm tội kẻ phạm tội đang lẩn trốn nên đã có lệnh
truy nã của cơ quan điều tra. Điều 82 BLTTHS quy định việc bắt người phạm tội quả
tang hoặc đang bị truy nã.
Quy định như vậy, là để kịp thời phát huy tính tích cực của quần chúng trong cuộc
đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, kịp thời ngăn ngừa hành vi phạm tội và trốn
tránh pháp luật của người phạm tội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể và của
công dân. Đồng thời quy định này thể hiện một điều rất quan trọng là sau khi bắt người
phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, phải giải ngay đến cơ điều tra có thẩm quyền
giải quyết, không được đánh đập, tra tấn, giam giữ họ vi phạm quyền bất khả xâm phạm
về thân thể, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của công dân.

3.Ý nghĩa.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là một
trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng của tố tụng hình sự. Nguyên tắc này cùng
các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng hình sự đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt
động trong tố tụng hình sự và có những ý nghĩa nhất định trong tố tụng hình sự.


Nguyên tắc đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể là cơ sở quan trọng cho
việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng hình sự,



thể hiện tính dân chủ và nhân đạo của tố tụng hình sự.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân cùng với
các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng hình sự góp phần làm cho quá trình tố tụng

7


trong thức tế được vận hành một cách thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả cao, cơ sở
cho việc hoàn thiện, định hướng cho việc xây dựng pháp luật tố tụng hình sự.
II.Thực trạng áp dụng nguyên tắc trong thực tế, nguyên nhân và kiến nghị
nâng cao.
1.Thực trạng áp dụng nguyên tắc trong thực tế.
Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành đã đưa hoạt động tố tụng vào đúng
quỹ đạo. Các biện pháp ngăn chặn, đặc biệt là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đã
được các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện một cách đúng pháp luật và
hạn chế một cách đáng kể việc bắt người, tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái
pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự nhiều năm qua vẫn còn nhiều
sai sót, chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ do Bộ luật Tố tụng hình

tắt như sau: ông Chứ có hai con là anh Quý và anh Sửu. Chị Toan là vợ anh Quý bị
Nguyễn Tùng Lâm trêu ghẹo và chặn đánh. Ông Chứ cũng bị Lâm hành hung. Khoảng
21h30 Lâm kéo vài chục người đến vây nhà, ném gạch đá, dùng kiếm đâm thủng cửa
nhà ông Chứ. Ông Chứ ném gạch xuống không cho Lâm và đồng bọn đến gần, sau đó
nhóm của Lâm bỏ chạy. Hôm sau, mẹ và chú của Lâm đến nhà ông Chứ bắt đền vì làm
gẫy răng của Lâm (và phải đền mỗi cái đến hai triệu đồng). Vụ việc được đưa đến cơ
quan pháp luật. Sáng ngày 25/10/2005 anh Quý đến trụ sở công an huyện Yên Mỹ theo
giấy triệu tập và bị bắt giam tại trại tạm giam công an tỉnh Hưng Yên, mãi tới 22 giờ
cùng ngày công an huyện mới thông báo cho gia đình bà Vuốt. Trước đó ngày
20/6/2005 anh Sửu (em trai anh Quý) đang lao động tại trại nuôi lợn của nhà thì bị ba
cán bộ công an huyện mặc thường phục đến chở thẳng lên công an huyện Yên Mỹ bắt
giam.
- Tình trạng truy bức, nhục hình vẫn xảy ra. Gần đây, báo chí đưa tin nhiều vụ mà
người bị tạm giữ, tạm giam chết trong phòng tạm giam hoặc chết ngay sau khi được thả.
Câu hỏi đặt ra là: tại sao họ lại chết khi mà họ bị cách li với xã hội ? trong khi chỉ có cơ
9


quan điều tra là thường xuyên tiếp xúc. Giải thích được hiện tượng này chỉ có nguyên
nhân duy nhất là họ truy bức, nhục hình.
2.Nguyên nhân vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phậm về thân
thể của công dân trong tố tụng hình sự.
1, Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa hoàn thiện
Pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng do điều kiện kinh tế,
chính trị và xã hội quyết định. Trước những biến đổi to lớn của đất nước trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội thì pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
chưa hoàn thiện là điều dễ hiểu bởi đó là quy luật khách quan.
Nghiên cứu nội dung chế định bắt, tạm giữ, tạm giam trong BLTTHS hiện hành, có
thể liệt kê một số điểm không phù hợp với thực tiễn dưới đây:
- Thứ nhất, vẫn còn những căn cứ được quy định chung chung, không xác định, làm

đó, cơ quan tiến hành tố tụng phần do hạn chế về số lượng, phần do hạn chế về chất
lượng mà không đáp ứng đủ yêu cầu dẫn đến hiện tượng “quá tải” trong tố tụng.
- bên cạnh đó, kinh phí, trang thiết bị còn thiếu thốn cùng với việc chưa xử lí
nghiêm những cán bộ làm sai cũng là nguyên nhân gây ra thực trạng trên.
3.Kiến nghị nâng cao.
Từ những phân tích trên, để bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân chúng tôi xin kiến nghị một số vấn đề sau:
- Thứ nhất, hoàn thiện một số quy định của Luật Tố tụng Hình sự, Luật cần quy
định chặt chẽ hơn nữa về một số vấn đề như đề cao trách nhiệm cá nhân của người ra
lệnh bắt, người thi hành lệnh bắt để bắt đúng người phạm tội để tránh oan sai, bên cạnh

11


đó cũng cần tôn trọng và bảo đảm những quyền và lợi ích chính đáng của người bị bắt.
Luật Tố tụng Hình sự năm 2003 cũng cần quy định rõ hơn về các điều:
+ Cần sửa đổi bổ sung điều 80 về bắt bị can bị cáo để tạm giam theo hướng quy
định cụ thể bị can bị cáo để tạm giam nhằm đảm bảo bắt đúng người đúng đối tượng,
tránh tình trạng bắt tràn lan, không cần thiết,bắt để tạm giam nhưng không đủ điều kiện
cần thiết để tạm giam.
+ Điều 84 Biên bản về việc bắt người quy định: Người thi hành lệnh bắt trong mọi
trường hợp đều phải lập biên bản...Tuy vậy đây mới chỉ là điều kiện cần mà còn thiếu
điều kiện đủ; Luật mới chỉ đề ra các quy định nhìn từ góc độ bảo đảm các quyền của
Nhà nước mà chưa xem xét từ góc độ bảo đảm quyền của người bị bắt. Do vậy biên bản
về việc bắt người cần bổ sung thêm “biên bản cần được lập làm hai bản và người bị bắt
phải được giao một bản” để nhằm tránh sự thất lạc, mất mát sai soát, tùy tiện của chủ
thể tiến hành tố tụng và thể hiện sự tôn trọng người bị bắt.
+ Khoản 2 Điều 87 quy định về thời hạn tạm giữ: “trong trường hợp cần thiết,
người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng khĩng qú ba ngđy; trong
trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần hai nhưng



/>option=com_content&view=article&id=377:bqcntvbtgtg&catid=105:ctc20063&Itemid=109
http//www2.thanhnien.com.vn/phapluat/2006/3/15/142136.tno
http//www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/index.aspx?ArticleID=27059&chanell
Theo http//www.vietnamnet.vn/phongsu/2003/12/41100

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status