BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
.............../ ...............
BỘ NỘI VỤ
......../ ........
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ KIM LOAN
QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM
VỀ THÂN THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ - TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS – TS LÊ THỊ HƢƠNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực, phản ánh khách quan quá trình nghiên
cứu. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
THÂN THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ ............... 6
1.1. Nhận thức chung về hoạt động điều tra các vụ án hình sự .............................. 6
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động điều tra các vụ án hình sự .................6
1.1.2. Vai trò của hoạt động điều tra các vụ án hình sự ..................................12
1.2. Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm thân thể trong hoạt động điều tra các
vụ án hình sự .........................................................................................................13
1.2.1. Khái niệm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong hoạt động điều tra
các vụ án hình sự .............................................................................................. 13
1.2.2. Đặc điểm của quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự ........................................................................................18
1.2.3. Ý nghĩa của quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự ........................................................................................19
1.2.4. Nội dung của quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự ........................................................................................21
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về
thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự .............................................26
1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong
hoạt động điều tra các vụ án hình sự ............................................................... 26
1.3.2. Các điều kiện bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt
động điều tra các vụ án hình sự .......................................................................30
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM THÂN
THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC
TRẠNG THỰC HIỆN TẠI TỈNH PHÚ YÊN ................................................................. 35
2.1. Quy định pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động
điều tra các vụ án hình sự .....................................................................................35
2.1.1. Quy định pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt
động điều tra các vụ án hình sự từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi năm 2001) ..................................................................................35
3.2.4. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong hoạt động tố tụng.....85
3.2.5. Xử lý vi phạm quyền con người trong điều tra vụ án hình sự ................86
KẾT LUẬN............................................................................................................................. 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 91
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
- TTHS: Tố tụng hình sự
- VAHS: Vụ án hình sự
- VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Quyền con người là một phạm trù chính trị - xã hội – lịch sử, phản ánh
nhu cầu, năng lực vốn có, chỉ có ở con người dưới hình thức các chuẩn mực
khách quan được xã hội thừa nhận và bảo đảm bằng các quy định của pháp
luật.
Hiến pháp năm 2013, với rất nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng ở
Chương II, thể hiện rõ sự thay đổi trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các
quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là các quyền dân sự, chính trị ở
Việt Nam.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong các quyền cơ bản
của con người, được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc
năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights - UDHR), Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (International Covenant on Civil and
Political Rights - ICCPR) và được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự
kiện gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày
Trong khoa học pháp lý nước ta, vấn đề bảo đảm quyền con người
được nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình với các góc độ khác nhau,
chẳng hạn:
Từ góc độ nghiên cứu về quyền con người nói chung có công trình sau:
- Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã
hội của GS.TS Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm Ích (1995).
- Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội của PGS.TS Chu Hồng Thanh (1997).
Từ góc độ nghiên cứu quyền con người trong lĩnh vực Tư pháp có một
số công trình như:
2
- Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nhà xuất
bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh (2010);
- Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia (2011);
- Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của
Ngô Thị Thanh, (2013), Luận văn thạc sĩ Luật học Khoa Luật - Đại học quốc
gia Hà Nội;
- Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học của Lại Văn Trình (2011)
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Dưới góc độ nghiên cứu về Luật Hiến pháp có:
- Nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, Luận văn thạc sĩ của Lưu Đức Quang (2016), Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh;
- Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân của tác
giả Lưu Đức Quang (2016), Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi các quy định Hiến pháp và các
quy định pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân
thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự tại tỉnh Phú Yên.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và bảo vệ quyền bất khả xâm
phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân
thể theo Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật liên quan trong hoạt
động điều tra các vụ án hình sự.
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu tại tỉnh Phú Yên.
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn lấy lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh cũng như quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về
quyền con người nói chung và quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong
hoạt động điều tra các vụ án hình sự nói riêng.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng
hợp, lịch sử, so sánh, thống kê...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau:
- Góp phần làm rõ hơn căn cứ lý luận và thực tiễn về quyền bất khả
xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
- Đề xuất và đưa ra những quan điểm, giải pháp hoàn thiện quyền bất
khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
- Những kết luận và những giải pháp rút ra từ luận văn có thể làm tài
thống nhất giải thích: “Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình
sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự
quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm
sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc
xét xử của Tòa án”[3]; hoặc, “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng
hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ
luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội”[7];
hoặc “Điều tra tội phạm là giai đoạn đầu, giữ vai trò rất quan trọng trong tố
tụng hình sự (TTHS). Giai đoạn này kéo dài, rất phức tạp và có ý nghĩa chi
phối cả tiến trình tố tụng” [18].
6
Cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay cho rằng điều tra là hoạt động
của cơ quan điều tra trong điều tra vụ án hình sự. Quan điểm này cho rằng
điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra và do
một cơ quan điều tra thực hiện. Cách hiểu này thể hiện ranh giới không rõ
ràng giữa chức năng của cơ quan điều tra với hoạt động điều tra, đồng nhất
giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra, coi hoạt động điều tra gồm mọi hoạt
động tố tụng trong giai đoạn điều tra; nhìn nhận về hoạt động điều tra mang
tính cục bộ, phiến diện, bó hẹp phạm vi hoạt động điều tra chỉ được tiến hành
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Trên thực tế hoạt động điều tra được
tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử
vụ án hình sự với những mục đích khác nhau để xác định sự thật khách quan
của vụ án.
Thực chất, các định nghĩa trên là định nghĩa về hoạt động điều tra của
cơ quan điều tra nên nó thiếu tính toàn diện, chưa nói lên được tính bản chất
và nội hàm của loại hoạt động này. Quan điểm này chỉ thừa nhận cơ quan
điều tra là chủ thể duy nhất có thẩm quyền được phép thực hiện các hoạt động
điều tra. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Tố tụng hình
hiện thường xuyên trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng khoa
học pháp lý và thực tiễn hiện nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống
nhất nhận thức về hoạt động điều tra, vẫn có sự nhầm lẫn giữa các khái niệm
điều tra, thẩm quyền điều tra vụ án và hoạt động điều tra; giữa giai đoạn điều
tra với hoạt động điều tra. Chính vì vậy mà vô tình đồng nhất hoạt động điều
tra với các hoạt động khác của cơ quan điều tra, bó hẹp phạm vi chủ thể,
phạm vi thời gian của hoạt động điều tra. Trong khoa học pháp lý Việt Nam
hoạt động điều tra chưa được tập trung sự chú ý nghiên cứu sâu sắc, mà còn
đang bỏ ngỏ nên có những cách hiểu, nhận thức khác nhau về hoạt động điều
tra là không thể tránh khỏi.
8
Theo tác giả Nguyễn Viết Hoạt: “Từ giác độ bản chất nhận thức của
hoạt động điều tra chúng ta có thể định nghĩa hoạt động điều tra là một sự
kết hợp các thao tác có tính chất tìm kiếm, nhận thức, xác nhận phù hợp với
đặc thù của các dấu vết tội phạm, phát hiện, thu giữ, củng cố một cách có
hiệu quả các thông tin có giá trị chứng minh trong các dấu vết đó theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện
nhằm mục đích thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ chứng minh sự
kiện phạm tội” [11].
Theo Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBNTQH11 về tổ chức điều tra hình sự
ngày 20/08/2004 quy định một số cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành một
số hoạt động điều tra bao gồm: Bộ đội biên phòng, Cơ quan hải quan, Cơ
quan kiểm lâm, Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Cảnh sát nhân dân, An
ninh nhân dân và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân. Như vậy chủ thể
hoạt động điều tra ngoài điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán còn có các
chủ thể khác thuộc các cơ quan nêu trên.
Cách tiếp cận như vậy về hoạt động điều tra là cơ sở có thể cho phép
chúng ta làm rõ cơ cấu bên trong của hệ thống cấu thành của hoạt động điều
Khi tiến hành các biện pháp điều tra phải có mặt của những người theo
luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt động điều tra (như khám nghiệm
hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại…).
Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và các thủ tục tố
tụng được tiến hành, còn nội dung, kết quả điều tra thì phải bí mật. Việc giữ
bí mật điều tra là yêu cầu nghiệp vụ, một nguyên tắc được luật định có ý
nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động điều tra, làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan nhằm
bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
10
dân. Vì vậy, hoạt động điều tra gắn liền chặt chẽ với quyền con người. Hoạt
động điều tra là một loại hoạt động đặc thù của Nhà nước, thực hiện quyền
lực Nhà nước vì nó đụng chạm nhiều tới các quyền con người, quyền công
dân. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là vừa đấu tranh chống tội phạm vừa bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước ban hành nhiều quy
định pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những tiêu cực có thể xảy ra trong
quá trình điều tra, truy tố tội phạm. Đồng thời, để đạt được mục đích của hoạt
động điều tra, Nhà nước ban hành một số quy định hạn chế quyền con người
trong đó có các biện pháp tác động đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể
của con người. Trong hoạt động điều tra các VAHS có thể áp dụng các biện
pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện pháp cưỡng
chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, khám xét thân thể. Do đó,
thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền con người, quyền công dân.
- Trong quá trình điều tra vụ án các cơ quan có thẩm quyền điều tra
phải tuân thủ triệt để các quy định pháp luật, chỉ được áp dụng những biện
pháp, những phương tiện theo quy định của pháp luật để làm rõ vụ án. Kết
quả tiến hành các hoạt động điều tra được phản ánh trong các văn bản tố
Hoạt động điều tra có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng hình
sự, phục vụ cho việc thực hiện mục đích chung của quá trình tố tụng đó là:
“Phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.”
Hoạt động điều tra có vai trò trong chứng minh sự thật vụ án theo
yêu cầu pháp luật. Chỉ sau khi chứng minh sự thật của vụ án mới có đủ căn
cứ để khẳng định một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội, là cơ sở
để Tòa án quyết định áp dụng hình phạt. Tội phạm chỉ có thể được chứng
minh làm rõ bằng con đường chứng minh, bởi vì tội phạm xảy ra trong quá
khứ so với thời điểm tiến hành điều tra. Tội phạm là sự kiện vật chất, do đó
12
có thể được chứng minh bằng những tài liệu thực tế, đó là những chứng cứ
pháp lý.
Hoạt động điều tra có nhiệm vụ thu thập chứng cứ làm rõ sự thật khách
quan của vụ án, kể cả chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội. Kết quả xác minh
tố giác, tin báo về tội phạm, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu là cơ sở
để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, quyết định việc khởi tố vụ án, khởi
tố bị can; quyết định hạn chế quyền con người, quyền công dân đối với người
phạm tội, thay đổi giai đoạn tố tụng hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng. Tác
động của kết quả điều tra không chỉ giới hạn ở số lượng, chất lượng chứng cứ
mà còn là nhận định, đánh giá tội phạm, áp dụng pháp luật của cơ quan điều
tra. Những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động điều tra tất yếu sẽ ảnh hưởng
tiêu cực đến việc giải quyết vụ án hình sự, như truy tố, xét xử oan người vô
tội, bỏ lọt tội phạm [19].
Ngoài ra, hoạt động điều tra tội phạm còn phục vụ nhiều yêu cầu
nghiệp vụ khác, tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công
dân, góp phần có hiệu quả vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
trong toàn xã hội.
thể hóa quyền con người) được ban hành và chi tiết.
Theo quy định của Hiến pháp, quyền con người được gắn liền với
quyền công dân và không có sự tách biệt hoàn toàn. Quyền công dân là một
bộ phận của quyền con người được pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo vệ.
Quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội nhất định được
pháp luật của quốc gia cụ thể ghi nhận. Quyền con người và quyền công dân
trong mối quan hệ thống nhất biện chứng đều ghi nhận các quyền của cá
nhân. Song, không thể đồng nhất hai khái niệm đó xét cả hai phương diện chủ
thể của quyền và khái niệm của quyền. Quyền con người là khái niệm rộng
hơn, nó vừa ghi nhận trạng thái pháp lý về quyền cá nhân ở phạm vi quốc tế,
14
vừa là quyền công dân ở trong phạm vi từng quốc gia nhất định. Một mặt,
quyền con người không lọai trừ khái niệm quyền công dân, bao hàm quyền
công dân như là một bộ phận của quyền con người. Ngược lại, quyền công
dân là khái niệm hẹp hơn. Trong ý nghĩa pháp lý, khái niệm quyền công dân
hẹp hơn chỉ trong phạm vi từng quốc gia nhất định, không bao quát hết các
quyền của cá nhân con người. Về phương diện chủ thể, quyền con người
ngoài những cá nhân được xác định là công dân, còn những người không phải
là công dân nước đó (người nước ngòai, người không có quốc tịch, người bị
pháp luật tước quyền công dân). Những người này tuy không được hưởng các
quyền công dân nhưng vẫn có các quyền về con người với tư cách là một thực
thể tự nhiên – xã hội.
Ngày nay, với sự phát triển của giá trị nhân đạo, cộng đồng quốc tế
ngày càng quan tâm và có ảnh hưởng nhiều hơn trên lĩnh vực quyền con
người, con người không chỉ tồn tại với tư cách là một thành viên công dân của
một quốc gia mà còn là thành viên “công dân” của cộng đồng quốc tế. Có thể
nói, ở một mức độ nhất định thì trong mỗi nước, việc ghi nhận và bảo vệ
quyền công dân tức là đã ghi nhận và bảo vệ quyền con người nói chung được
quyền công dân trong khi Hiến pháp năm 2013 đã quy định theo hướng:
quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền tự nhiên, quyền bẩm sinh của
con người, đồng thời quy định rõ nội hàm và các yêu cầu của quyền này. Việc
Hiến định quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 là sự ghi nhận thành
quả đạt được trong việc phát triển, bảo đảm quyền con người, quyền công
dân. Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đặt ra những
yêu cầu mới trong việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh và các văn kiện của Đảng đã khẳng định:
“Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm
lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” [6, 34, tr.85] và quan tâm
16
hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con
người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực
hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền con
người cơ bản được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật
trong nước. Tại Điều 5 của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm
1948 có nêu rằng “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô
nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” và Điều 7 Công ước quốc tế về các quyền
dân sự, chính trị năm 1966 nêu rõ “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc
trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp phẩm giá; không ai có thể bị sử
dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự
nguyện của người đó”.
Bên cạnh đó, vấn đề tra tấn còn được đề cập trong một số điều ước
quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Công ước về chống tra tấn và các hình
thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm
1984 (Việt Nam gia nhập công ước này từ 28-11-2014).
Từ các quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong các văn
hoạt động điều tra các vụ án hình sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ
án hình sự có thể bị hạn chế trong một số trường hợp theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự.
Tố tụng hình sự là hoạt động phát hiện và xử lý hành vi nguy hiểm cao
cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm nhằm bảo vệ trật tự pháp
luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, hoạt
động tố tụng gắn liền chặt chẽ với quyền con người. Để đạt được mục đích
phát hiện, điều tra, xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người phạm tội,
18