Một số vấn đề pháp lý về công ty chứng khoán theo Luật chứng khoán năm 2006 - Pdf 34

Một số vấn đề pháp lý về công ty chứng khoán theo Luật chứng
khoán năm 2006
11/11/2008 in Phap luat chung khoan
NCS VŨ VĂN CƯƠNG – ĐH LUẬT HÀ NỘI
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian, có
vị trí, vai trò rất quan trọng trong thị trường chứng khoán. Lịch sử
hình thành và phát triển thị trường chứng khoán đã chứng minh:
“Một thị trường chứng khoán không thể thiếu loại chủ thể này, nó
cần cho cả người phát hành, người đầu tư chứng khoán. Nó là một
trong những nhân tố quyết định đến phát triển, sự sôi động của thị
trường chứng khoán”. Những ảnh hưởng tác động của công ty
chứng khoán đối với các chủ thể tham gia thị trường và sự vận
hành của thị trường chứng khoán là rất lớn. Để công ty chứng
khoán phát huy hết vai trò to lớn của mình, ngăn ngừa những hiện
tượng tiêu cực có thể xảy ra, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
của các nhà đầu tư và sự phát triển lành mạnh và ổn định của thị
trường chứng khoán thì vấn đề tổ chức và hoạt động của công ty
chứng khoán phải được đặt trong hành lang pháp lý chặt chẽ với
những điều kiện đòi hỏi cao khác hẳn với các doanh nghiệp thông
thường. Vì vậy, các quốc gia đều sử dụng pháp luật để điều chỉnh
việc tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán. Thậm chí có
những nước ban hành đạo luật riêng để quy định việc tổ chức và
hoạt động của công ty chứng khoán như Mỹ, Nhật, Thái lan… còn
một số nước các quy định về tổ chức và hoạt động của công ty
chứng khoán là một phần trong đạo luật về chứng khoán và thị
trường chứng khoán như: Malaixia, Trung quốc …
Ở Việt Nam vấn đề tổ chức và hoạt động của công ty chứng
khoán trước đây được quy định trong Nghị định 48/1998/NĐ-CP
ngày 11/07/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán và
các văn bản hướng dẫn thi hành[1]. Sau này vấn đề tổ chức và hoạt
động của công ty chứng khoán được quy định tại Nghị định

được thành lập, hoạt động theo Luật chứng khoán và các các quy
định của pháp luật có liên quan để thực hiện một, một số hoặc toàn
bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán dưới đây theo giấy phép do
UBCKNN cấp: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
Từ định nghĩa nêu trên, có thể khái quát các đặc điểm pháp lý
cơ bản của công ty chứng khoán nói chung như sau:


Một là, công ty chứng khoán là loại hình doanh nghiệp được
thành lập, hoạt động trên cơ sở Luật chứng khoán và các quy định
của pháp luật có liên quan.
Hai là, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức
pháp lý là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. ở
Việt Nam đặc trưng này của công ty chứng khoán được Luật
chứng khoán chỉ rõ trong Điều 66, khoản 1.
Ba là, công ty chứng khoán có hoạt động kinh doanh chính,
thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh dịch vụ
chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
Pháp luật một số nước chỉ rõ nghiệp vụ kinh doanh chứng
khoán nào do công ty chứng khoán thực hiện, nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán nào thì công ty chứng khoán không được thực
hiện nhằm tránh thao túng và mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các
hoạt động kinh doanh chứng khoán. Thậm chí trong các hoạt động
kinh doanh chứng khoán thuộc về công ty chứng khoán, pháp luật
một số nước chỉ cho phép một công ty chứng khoán thực hiện một
số hoạt động nhất định mà không được thực hiện toàn bộ các hoạt
động kinh doanh chứng khoán thuộc về công ty chứng khoán.
Chẳng hạn, nếu đã thực hiện hoạt động tự doanh thì không được
hoạt động môi giới và ngược lại. Tuy nhiên, cũng có nước cho

đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp
vụ lưu ký chứng khoán khi được cấp giấy phép thực hiện nghiệp
vụ môi giới chứng khoán hoặc tự doanh chứng khoán. Ngoài các
nghiệp vụ kinh doanh theo giấy phép được cấp, công ty chứng
khoán được cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ
tài chính khác.
Như vậy, ở Việt Nam công ty chứng khoán có thể thực hiện
nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, (trừ nghiệp vụ quản lý
danh mục đầu tư và quản quỹ đầu tư chứng khoán) nếu có đủ điều
kiện và được UBCKNN cấp giấy phép cho tất cả các hoạt động đó.
Đây là một đặc trưng pháp lý cơ bản để nhận biết và phân biệt
công ty chứng khoán với các chủ thể kinh doanh khác trên thị
trường chứng khoán như: Công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư
chứng khoán… So với trước đây, nghiệp vụ kinh doanh chứng
khoán của công ty chứng khoán có điểm khác biệt là nghiệp vụ
quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng không được phép thực
hiện mà chuyển sang cho công ty quản lý quỹ thực hiện nghiệp vụ
này, do tính đặc thù của nghiệp vụ này và để hạn chế xung đột lợi


ích giữa các hoạt động nghiệp vụ trong công ty chứng khoán. Quy
định này phù hợp quy định trong luật chứng khoán của nhiều nước.
Đồng thời Luật chứng khoán Việt Nam có quy định cụ thể
các điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty
chứng khoán[1] tương tự như pháp luật các nước khác.
Bốn là, Công ty chứng khoán đặt dưới sự quản lý nhà nước
trực tiếp của một cơ quan quản lý chuyên trách. ở Việt Nam, công
ty chứng khoán chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp bởi Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN).
Sau đây là một số nhận xét, đánh giá về các quy định của

Luật Chứng khoán quy định : “Giấy phép thành lập và hoạt động
công ty chứng khoán đồng thời có giá trị là giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh”. Hoặc về thời hạn cấp giấy phép thành lập hoạt
động cho công ty chứng khoán trước đây quy định tối đa không
quá 60 ngày kể từ ngày UBCKNN nhận được hồ sơ hợp lệ[1]. Luật
chứng khoán quy định thời hạn cấp Giấy phép thành lập và hoạt
động cho công ty chứng khoán tối đa là 30 ngày kể từ ngày
UBCKNN nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Hoặc về thời hạn cấp chứng chỉ
hành nghề kinh doanh chứng khoán, trước đây quy định: Trong
thời hạn tối đa là 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ,
UBCKNN thông báo bằng văn bản việc cấp chứng chỉ hành nghề
kinh doanh chứng khoán”[1]. Theo luật chứng khoán hiện nay quy
định: Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ,
UBCKNN cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán[1].
Về điều kiện và thủ tục cấp giấy phép, Luật chứng khoán đã
quy định đơn giản, rõ ràng và thực chất hơn. Chẳng hạn về cấp
giấy phép thành lập hoạt động cho công ty chứng khoán trước đây
quy định 5 điều kiện, hiện nay Luật chứng khoán chỉ quy định 3
điều kiện[1] : Một là, có trụ sở chính và trang thiết bị phục vụ hoạt
động kinh doanh chứng khoán (đối với tổ chức xin phép chỉ thực
hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng
điều kiện về trang thiết bị); Hai là, có đủ vốn pháp định theo quy
định; Ba là, Giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán. Về
hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập hoạt động của công ty chứng
khoán, trước đây quy định đến 10 loại giấy tờ khác nhau thì Luật
chứng khoán quy định 8 loại giấy tờ cần thiết[1]. Đặcbiệt hồ sơ xin
cấp chứng chỉ hành nghề trước đây quy định trường hợp ít nhất cần
đến 6 loại giấy tờ khác nhau thì nay Luật quy định chỉ có 3 loại
giấy tờ cần thiết trong hồ sơ [1].

Bên cạnh đó, Luật còn cho phép công ty chứng khoán nước ngoài
mở chi nhánh hoạt động tại Việt Nam (Điều 72) hoặc được mở văn
phòng đại diện tại Việt Nam sau khi đăng ký với UBCKNN.
Thứ tư, về nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán Luật chứng
khoán đã chú trọng hơn đến vấn đề xung đột lợi ích giữa các
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trong công ty chứng khoán.


Trong các văn bản pháp luật trước đây có cho phép công ty chứng
khoán có thể đựơc thực hiện các loại hình kinh doanh chứng khoán
chính bao gồm cả nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
chỉ trừ nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Luật chứng
khoán quy định cụ thể các nghiệp vụ mà công ty chứng khoán
được phép thực hiện trong đó nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư,
quản lý quỹ đầu tư thì công ty chứng khoán không được phép thực
hiện những nghiệp vụ kinh doanh này do công ty quản lý quỹ thực
hiện để hạn chế xung đột lợi ích.
Thứ năm, vấn đề cấp giấy phép hành nghề chứng khoán
Một trong những điều kiện để cấp giấy phép thành lập và
hoạt động cho công ty chứng khoán là: Giám đốc (Tổng Giám
đốc), các nhân viên kinh doanh của công ty chứng khoán phải có
chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán.
Trước đây, pháp luật quy định: Chứng chỉ hành nghề kinh
doanh chứng khoán được cấp cho các cá nhân theo đề nghị của
công ty chứng khoán nơi cá nhân đó làm việc hoặc theo đề nghị
của người đại diện thành viên sáng lập, người đại diện cổ đông
sáng lập, chủ sở hữu tổ chức xin phép kinh doanh chứng khoán đối
với trường hợp xin cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng
khoán cùng với việc xin cấp phép kinh doanh chứng khoán, khi
đáp ứng đủ các điều kiện. Chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng

ty chứng khoán nơi người hành nghề đó làm việc đã gây ra nhiều
thủ tục phiền hà, phức tạp, tính hiệu quả không cao. Thời hạn cấp
lại chứng chỉ hành nghề là 3 năm là không phù hợp với thực tế vì
hai lý do: Thứ nhất, năng lực của những người hành nghề luôn
được nâng cao qua sự trải nghiệm về thời gian. Thứ hai các công ty
chứng khoán đều hoạt động theo cơ chế thị trường, họ tự quyết
định việc tuyển dụng nhân viên, nhân viên tại công ty chứng khoán
mà không đáp ứng được yêu cầu thì sẽ bị sa thải hoặc chậm thăng
tiến . việc sử dụng và đánh giá năng lực của từng người thuộc thẩm
quyền lãnh đạo doanh nghiệp chứ không phải là của cơ quan quản
lý nhà nước.
Hiện nay, Luật chứng khoán có quy định mới phù hợp hơn cụ
thể: UBCKNN cấp chứng chỉ hành nghề cho từng cá nhân, còn
việc cá nhân có chứng chỉ hành nghề làm cho công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ nào do công ty đó tuyển dụng. Tuy
nhiên, để đảm bảo sự quảnlý, phòng tránh trừơng hợp các cá nhân
cá chứng chỉ lợi dụng để lừa đảo gây thiệt hại cho nhà đầu tư. Luật


quy định rõ: Chứng chỉ hành nghề chứng khoán chỉ có giá trị khi
người được cấp chứng chỉ hành nghề làm việc cho một công ty
chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; Công
ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có trách
nhiệm đăng ký người được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán
làm việc cho công ty của mình và thông báo với UBCKNN trong
vòng 24 giờ trường hợp người được cấp chứng chỉ hành nghề
không còn làm việc cho công ty của mình. Luật còn quy định
chứng chỉ hành nghề bị thu hồi trong trường hợp người được cấp
chứng chỉ không hành nghề chứng khoán trong thời hạn 5 năm kể
từ ngày được cấp chứng chỉ hành nghề.

khoán. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu[1], bán khống
có mặt tích cực của nó cụ thể: bán khống cung cấp tính thanh
khoản cho thị trường; Bán khống tạo ra tính hiệu quả về giá chứng
khoán… Đối với hành vi bán khống chứng khoán ở nhiều nước
pháp luật của họ quy định không cấm tuyệt đối mà họ đặt giao dịch
bán khống dưới sự kiểm soát của nhà nước. Trong đó có quy định
rõ đối tượng và những điều kiện được phép thực hiện giao dịch bán
khống và những trường hợp, hoàn cảnh trong đó bán khống bị coi
là bất hợp pháp. Chẳng hạn Luật thị trường chứng khoán Mỹ chỉ
cấm bán khống đối với người nội bộ công ty của họ. Còn đối với
những người khác chỉ cấm bán khống trong trường hợp giá của
loại chứng khoán đó trên thị trường đang giảm nhằm ngăn chặn
hiện tượng bán khống để lũng đoạn thị trường để đẩy nhanh sự
giảm giá chứng khoán. Điều này chứng tỏ rằng Luật chứng khoán
được xây dựng trên cơ sở có tiếp thu có chọn kinh nghiệm của
nước ngoài…
Bên cạnh những ưu điểm trên Luật chứng khoán quy định về
tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán còn có một số vần
đề cần trao đổi thêm cụ thể:
Thứ nhất, Về hình thức tổ chức pháp lý của công ty chứng
khoán.
Tại khoản 1, điều 66, Luật chứng khoán quy định: “Công ty
chứng khoán phải được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn (công ty TNHH) hoặc công ty cổ phần do UBCKNN cấp
giấy phép thành lập và hoạt động”.
Việc quy định về hình thức tổ chức công ty chứng khoán
trong Luật không có sự khác biệt so với Luật chứng khoán của
nhiều quốc gia. Tuy nhiên, cơ sở để pháp luật có quy định này còn
có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng


các trường hợp cá nhân lợi dụng để lừa đảo gây thiệt hại cho nhà
đầu tư…Nếu Luật cho phép cá nhân người Việt Nam được phép
thành lập công ty chứng khoán dưới hình thức công ty TNHH một
thành viên sẽ dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc “không phân biệt
đối xử” giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Bởi


tại điều 71 Luật chứng khoán quy định công ty chứng khoán có
vốn đầu tư nước ngoài…Bên nước ngoài phải là pháp nhân đang
hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
Luật chứng khoán hiện còn quy định quá chung chung, câu
hỏi đặt ra trên có lẽ phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành luật. Như
vậy, pháp luật về chứng khoán Việt Nam lại rơi vào tình trạng
“trên buông, dưới thắt”. Luật chứng khoán chưa thể hiện được
nguyên tắc: chủ thể kinh doanh được làm những gì mà pháp luật
không cấm mà vẫn theo tư duy cũ là chỉ được làm những gì mà
pháp luật cho phép.
Thứ hai, Vấn đề cơ quan cấp chứng chỉ hành nghề chứng
khoán.
Pháp luật nhiều nước quy định: Hiệp hội kinh doanh chứng
khoán là cơ quan cấp chứng chỉ hành nghề cho các cá nhân. ở Việt
Nam hiện nay việc cấp chứng chỉ hành nghề do UBCKNN thực
hiện. Theo quan điểm chúng tôi, việc Luật chứng khoán quy định
như hiện nay là phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, khi Hiệp
hội kinh doanh chứng khoán chưa đủ mạnh, chưa có đủ cơ sở vật
chất, chươngtrình đào tạo, đội ngũ giảng viên có thể đảm đương tốt
nhiệm vụ này. Tuy nhiên, trong tương lai cần chuyển trung tâm
nghiên cứu và đào tạo chứng khoán sang mô hình chuyên nghiệp
và chuyển về Hiệp hội kinh doanh chứng khoán và chuyển giao
chức năng cấp chứng chỉ hành nghề cho hiệp hội kinh doanh

Xét trên phương diện hình thức đầu tư, thì nhà đầu tư nước
ngoài muốn đầu tư kinh doanh chứng khoán (hình thức đầu tư trực
tiếp) thì có thể đầu tư dưới hình thức đứng ra thành lập công ty
chứng khoán liên doanh hoặc công ty chứng khoán 100%
vốn nước ngoài.
Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán thì tại điều 61
khoản 1 đã quy định công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu
tư chứng khoán phải được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH
hoặc công ty cổ phần… thì cho dù công ty chứng khoán có vốn
đầu tư trong nước hay có vốn đầu tư nước ngoài thì đều phải tổ
chức dưới hình thức pháp lý này. Hơn nữa công ty chứng khoán
liên doanh bản chất là công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên
trong đó có thành viên là nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn
thành lập mà thôi.
NGUỒN: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ THÁNG 8/2006




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status