đại học quốc gia hà nội
khoa luật
một số vấn đề pháp lý về
công ty quản lý nợ
chuyên ngành luật kinh Tế
mã số 5.0515 luận văn thạc sỹ khoa học luật
ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am hiểu Hà nội, 2002
Mục lục
Lời nói đầu
3
54
2.5Thủ tục giải thể công ty quản lý nợ
59
Ch-ơng III. Đánh giá chung và một số kiến nghị
61
3.1. Về xác định mục tiêu cho Công ty Quản lý nợ
62
3.2. Về cơ chế chuyển giao nợ quá hạn tồn đọng
64
3.3. Vấn đề chia sẻ lợi nhuận và tổn thất đối với những khoản nợ
quá hạn tồn đọng đ-ợc chuyển giao
67
3.4 Vấn đề tài trợ cho khách hàng để cơ cấu lại khoản vay
70
3.5. Các chính sách -u đãi về tài chính & thuế
72
3.6. Về quyền hạn của Công ty quản lý nợ
75
3.7. Về quyền miễn trừ trách nhiệm đối với nhân viên của công ty
quản lý nợ
79
3.8. Về kiểm soát sự lạm quyền của công ty quản lý nợ
82
Kết luận
Tài liệu tham khảo
lại nợ; phát mại tài sản cầm cố, thế chấp; khởi kiện khách hàng ra toà để đòi nợ; yêu
cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản; yêu cầu toà án giải quyết việc phá
sản doanh nghiệp Tuy nhiên, cho đến nay, tình trạng nợ khó đòi vẫn cha đợc
cải thiện đáng kể. Đây là một nguy cơ tiềm tàng gây ra khủng hoảng về tài chính tiền
tệ, gây bất ổn đối với nền kinh tế. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho
thấy, họ th-ờng thiết lập một mô hình chuyên biệt để quản lý, sắp xếp và xử lý hiệu
quả các khoản nợ quá hạn khó đòi, th-ờng đ-ợc gọi là công ty quản lý nợ, công ty
mua bán nợ hay công ty quản lý tài sản (Asset Management Company-AMC).
Trên cơ sở lộ trình cải cách hệ thống các ngân hàng Việt nam, Chính phủ đã
cho phép thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng
th-ơng mại, đồng thời tiếp tục nghiên cứu để cho ra đời công ty mua bán nợ của Nhà
nớc. Sau đây, luận văn sẽ sử dụng thống nhất thuật ngữ công ty quản lý nợ.
Mô hình công ty quản lý nợ xuất hiện trên thế giới, từ những năm 80, 90 của
thế kỷ 20. Đối với Việt nam mô hình này còn rất mới mẻ cả về lý luận cũng nh- thực
tiễn áp dụng. Để có đ-ợc một mô hình công ty quản lý nợ phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh của Việt nam, tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình này giải quyết nhanh
chóng, hiệu quả vấn đề nợ quá hạn, ngoài việc chuẩn bị về mặt kinh tế, chúng cần
phải đ-ợc nghiên cứu và chuẩn bị kỹ về mặt pháp lý. Dẫu biết rằng, hình thành ngay
một môi tr-ờng pháp lý phù hợp cho các công ty quản lý nợ của Việt nam là rất khó
khăn và phức tạp, nh-ng đây là yêu cầu tất yếu khách quan của công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-ớc.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn chủ đề "Một số vấn đề
pháp lý về Công ty quản lý nợ" làm nội dung luận văn Thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
ở Việt nam, mô hình công ty quản lý nợ vẫn còn rất mới. Mô hình này đ-ợc
Chính phủ chính thức quan tâm, đặt vấn đề nghiên cứu với việc NHNN Việt nam cho
thành lập tổ công tác liên ngành để xây dựng đề án thành lập Công ty mua bán tài
sản tồn đọng của các tổ chức tín dụng vào tháng 10/1999.
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này gồm:
Đề án xử lý nợ tồn đọng tại các ngân hàng th-ơng mại của Ngân hàng Nhà n-ớc
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu đ-ợc sử dụng
Luận văn sử dụng phép biện chứng duy vật và các quy luật của triết học Mác-
Lê nin làm cơ sở ph-ơng pháp luận cho việc nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn sử dụng
một số ph-ơng pháp nghiên cứu sau:
-Ph-ơng pháp phân tích và tổng hợp: phân tích các sự kiện, hiện t-ợng pháp lý đơn
lẻ phát sinh trong cuộc sống và tổng hợp những kinh nghiệm của những mô hình
công ty quản lý nợ thành công trên thế giới.
-Ph-ơng pháp phân tích quy phạm: Phân tích các quy phạm pháp luật thực định làm
sáng tỏ những điểm hợp lý, hạn chế cũng nh- mối quan hệ với các quy định khác
trong hệ thống pháp luật Việt nam.
-Ph-ơng pháp so sánh pháp luật: so sánh pháp luật của pháp luật Việt nam với một
số n-ớc có đặc điểm t-ơng đồng.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đ-ợc
chia làm ba ch-ơng: ch-ơng thứ nhất, là một số vấn đề chung về công ty quản lý nợ
nh- sự ra đời, đặc tr-ng và vai trò của công ty quản lý nợ, ch-ơng thứ hai trình bày
thực trạng pháp luật về công ty quản lý nợ ở việt nam, ch-ơng thứ ba đ-a ra những
đánh giá và một số khuyến nghị nhằm hình thành môi tr-ờng pháp lý phù hợp giúp
công ty quản lý nợ hoạt động hiệu quả.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp đã đóng góp
ý kiến, nhiệt tình giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Cho dù đã rất cố gắng, dành tâm huyết, song nh- đã trình bày, mô hình công
ty quản lý nợ còn rất mới mẻ đối với Việt nam và do thời gian có hạn nên luận văn sẽ
không tránh khỏi những những khiếm khuyết nhất định. Rất mong nhận đ-ợc sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những ng-ời quan tâm
đến vấn đề này.
Ch-ơng I. Một số vấn đề chung
về Công ty quản lý nợ
1. Sự ra đời của Công ty Quản lý nợ
và tạo nhiều cơ hội khác cho các doanh nghiệp phát triển trong nền kinh tế thị
tr-ờng. Các công ty quản lý nợ đ-ợc giao cho các quyền hạn đặc biệt nh- quyền bán
tài sản mà không cần sự đồng ý của bên vay, các nhân viên công ty quản lý nợ không
phải chịu trách nhiệm pháp lý trong công tác xử lý nợ. Kết quả là chỉ sau 03 năm,
hoạt động của hệ thống ngân hàng đ-ợc cải thiện rõ rệt, tiến trình tái cấp vốn đ-ợc
đẩy nhanh, uy tín quốc gia tăng lên, môi tr-ờng đầu t- đ-ợc cải thiện.
Từ năm 1997, nhiều quốc gia tại Châu á, trong đó gồm cả các quốc gia có
nền kinh tế hàng đầu thế giới nh Nhật Bản, Trung Quốc hay các con rồng Châu
á nh- Hàn quốc, Indonexia, Singapore, Malaysia, Thái Lan lâm vào khủng hoảng tài
chính, tốc độ tăng tr-ởng tổng sản phẩm quốc gia suy giảm Kết quả là, các khoản
nợ quá hạn khó đòi của các quốc gia Châu á này không những rất lớn về giá trị tuyệt
đối (Nhật Bản là 700 tỷ USD, Trung Quốc là 200 tỷ USD ) mà còn chiếm tỷ lệ
phần trăm cao (%) trong tổng d- nợ tín dụng quốc gia (Indonexia 70%, Thái Lan xấp
xỉ 36%, Trung Quốc 26,5%, Hàn Quốc 25%, Malaysia 17% và Philippin khoảng
10%). Trong khi, mức an toàn tín dụng cho phép theo thông lệ quốc tế là không quá
5% nợ quá hạn trên tổng d- nợ.
Gánh nặng nợ quá hạn khó đòi chồng chất đã đẩy hệ thống ngân hàng các
quốc gia này đến tr-ớc bờ vực phá sản. Nếu tính tổng cộng toàn khu vực thì hàng
trăm ngân hàng có nguy cơ phá sản đang hoạt động bằng tiền của nhà n-ớc. Nền
kinh tế quốc dân và hệ thống ngân hàng của các quốc gia này phải chịu áp lực rất
lớn, không thể tiến hành hoạt động một cách bình th-ờng. Chính phủ các n-ớc sớm
nhận thức đây không chỉ là mối quan tâm của hệ thống ngân hàng mà là vấn đề
mang tính quốc gia nên đã nhanh chóng cho ra đời một mô hình chuyên biệt để xử lý
hiệu quả vấn đề nợ quá hạn. Đó chính là mô hình công ty quản lý nợ d-ới những
hình thức khác nhau. Nhờ những đóng góp quan trọng của công ty quản lý nợ, một
số quốc gia Châu á đã cơ bản xử lý xong vấn đề nợ quá hạn khó đòi nh- Thái Lan,
Hàn Quốc tạo điều kiện cho nền kinh tế tiếp tục tăng tr-ởng và có những n-ớc đang
tiếp tục giải quyết nh- Nhật bản, Indonexia, Malaysia và Trung quốc.
Nh- vậy, việc sử dụng một mô hình chuyên biệt làm công cụ để quản lý các
khoản nợ quá hạn tồn đọng ngày càng phát triển, kể từ lần đầu tiên mô hình này
tốc độ tăng tr-ởng của nền kinh tế sẽ phá vỡ sự cân bằng trong bảng tổng kết tài sản
của các ngân hàng, khiến các ngân hàng không thể đạt đ-ợc tỷ lệ vốn chủ sở hữu
trên tài sản có rủi ro ở mức an toàn ( 8%). Gánh nặng cho vay khó đòi chồng chất
đẩy nhiều ngân hàng đến bờ vực phá sản. Lúc này, khả năng phá sản của các ngân
hàng hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ tin t-ởng của công chúng. Một khi các ngân
hàng bị phá sản sẽ nhanh chóng đẩy nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và
gây ảnh h-ởng trực tiếp đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, làm giảm uy tín và vị
thế của quốc gia trên tr-ờng quốc tế.
Các ngân hàng tích cực thực hiện nhiều giải pháp để giải quyết tình trạng khó
khăn về tài chính của mình nh- bán quyền đòi nợ cho đối tác khác; cơ cấu lại khoản
nợ (nếu thấy khách hàng còn khả năng trả nợ); xử lý tài sản đảm bảo hoặc dùng tài
sản đảm bảo để gán nợ (nếu khoản vay có bảo đảm), dùng các nguồn dự phòng rủi ro
để xoá nợ (nếu khách hàng chết, mất tích, phá sản hay không còn khả năng trả nợ);
khởi kiện ra toà để đòi nợ (nếu khách hàng chây ỳ, cố tình không trả nợ hoặc có dấu
hiệu tẩu tán tài sản); thắt chặt thủ tục cho vay, hạn chế cho vay, cơ cấu lại danh
mục cho vay đối với những khoản vay mới
Về nguyên tắc, nhà n-ớc không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động của nền
kinh tế. Tuy nhiên, khi các ngân hàng không thể tự giải quyết tình trạng khó khăn
của mình, khả năng tự điều tiết của nền kinh tế tỏ ra không còn hiệu quả, buộc Nhà
n-ớc phải thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế bằng các công cụ tài chính và
pháp luật để duy trì ổn định xã hội. Tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội, tình hình
chính trị trong từng giai đoạn, Chính phủ các n-ớc sẽ can thiệp vào nền kinh tế thông
qua những giải pháp mang tính hành chính, kinh tế, chính trị khác nhau nh- nhà
n-ớc ban hành các quy định về việc thắt chặt quản lý đối với các ngân hàng, buộc
các ngân hàng phải th-ờng xuyên theo dõi, báo cáo về tình trạng nợ quá hạn khó đòi
hoặc cho phép mở cửa nền kinh tế, thúc đẩy tự do hoá hệ thống tài chính; buộc giải
thể, sáp nhập cổ phần hoá hoặc quốc hữu hoá đối với những ngân hàng làm ăn kém
hiệu quả; sử dụng ngân sách quốc gia hoặc thành lập các quỹ để đầu t- thêm vốn cho
hệ thống ngân hàng
Tuy nhiên, các giải pháp truyền thống trên không phải lúc nào cũng đ-ợcthực
nhanh chóng thoát khỏi khó khăn. Khi nợ quá hạn tồn đọng đ-ợc giải quyết, cơ sở
tồn tại không còn thì công ty quản lý nợ cũng chấm dứt hoạt động.
Tóm lại, sự ra đời và phát triển của mô hình công ty quản lý nợ là giải pháp
kinh tế tình thế tất yếu khi nợ quá hạn tại các định chế tài chính v-ợt quá ng-ỡng an
toàn cho phép đi kèm với khủng hoảng tài chính hoặc nền kinh tế của quốc gia bị
tụt dốc nghiêm trọng. Ngoài ra, trong một số trờng hợp công ty quản lý nợ còn
đ-ợc thành lập theo nhu cầu chính trị, xã hội, kinh tế và tài chính của các quốc gia
và các tổ chức liên quan.
2. Một số mô hình của Công ty Quản lý nợ trên thế giới
Hình thức tổ chức của công ty quản lý nợ là cách thức tổ chức và hoạt động
của công ty quản lý nợ nhằm đạt đ-ợc mục tiêu chính là thu hồi tối đa giá trị của các
khoản nợ quá hạn, giảm tổn thất, hạn chế tối đa chi phí phát sinh trong quá trình xử
lý nợ hoặc nhanh chóng chuyển tài sản đảm bảo tồn đọng thành tiền, giúp cơ cấu lại
tình hình tài chính của các ngân hàng. Tuỳ vào điều kiện kinh tế, tình hình chính trị -
xã hội, hệ thống pháp luật và các mục tiêu cụ thể, mỗi quốc gia sẽ hình thành những
mô hình khác nhau về xử lý nợ.
Đến thời điểm hiện nay, trên thế giới đã tồn tại một số mô hình chuyên biệt
khác nhau về xử lý nợ nh- sau:
2.1 Ngân hàng lập bộ phận tự xử lý nợ hoặc thông qua hệ
thống cơ quan nhà n-ớc
Trong điều kiện hoạt động tín dụng diễn ra bình th-ờng, bộ phận kinh doanh
trong các ngân hàng vừa có nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng, cho vay đối với những
khách hàng đủ điều kiện, đồng thời theo dõi tình hình trả nợ, đốn đốc khách hàng trả
nợ khi đến hạn. Đến khi xuất hiện tình trạng nhiều khách hàng không trả đ-ợc nợ
đúng hạn, chất l-ợng tín dụng có chiều h-ớng sụt giảm, buộc ngân hàng phải thành
lập riêng một bộ phận chuyên theo dõi những khoản nợ bị chuyển sang quá hạn. Bộ
phận này có nhiệm vụ quản lý, kiểm tra, đôn đốc việc trả nợ của những khách hàng
nợ quá hạn; xử lý tài sản đảm bảo nếu khách hàng không có khả năng trả nợ; cung
cấp kịp thời những thông tin quan trọng cho bộ phận điều hành về tình hình hoạt
lập, chuyển nợ thành vốn góp Bên thứ ba đ-ợc h-ởng một khoản tiền thù lao theo
tỷ lệ phần trăm trong tổng số nợ quá hạn đ-ợc uỷ thác. Cũng nh- tr-ờng hợp trên,
mô hình xử lý nợ này hoạt động dựa trên cơ sở những quy định pháp luật sẵn có, nhà
n-ớc không phải ban hành những quy định riêng.
Ưu điểm của mô hình xử lý nợ này, sau khi uỷ thác cho bên thứ ba, ngân hàng
có điều kiện tập trung vào các hoạt động kinh doanh của mình. Việc xử lý nợ đ-ợc
chuyên môn hoá. Tuy nhiên, mô hình này có nh-ợc điểm là bảng tổng kết của ngân
hàng không đ-ợc sạch, quy mô xử lý nợ nhỏ. Nợ quá hạn đ-ợc uỷ thác xử lý th-ờng
phát sinh do nguyên nhân khách quan hoặc do quản lý yếu kém của bên vay.
2.3 Một định chế mua, bán, đẩy nhanh quá trình chuyển
nh-ợng tài sản tồn đọng thành tiền với khối l-ợng lớn.
Về mặt kinh tế, mô hình xử lý nợ này đ-ợc đánh giá có những -u điểm sau:
tài sản đ-ợc quản lý tập trung, giá bán tài sản cao, khả năng tận thu nợ lớn, ngân
hàng có điều kiện tập trung vào hoạt động kinh doanh của mình.
Tuy nhiên, mô hình này có một số hạn chế nh-: việc xử lý tài sản diễn ra
trong một thời gian dài, ảnh h-ởng đến các nghiệp vụ xử lý nợ khác. Việc quản lý tài
sản gặp nhiều khó khăn. Th-ờng chịu những sức ép nhất định về chính trị.
Mỹ là quốc gia điển hình cho áp dụng mô hình này. Trong bối cảnh lạm phát
những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ 20, nhiều ngân hàng và tổ chức tiết
kiệm ở Mỹ đã tiến hành vay ngắn hạn để cho vay dài hạn bằng cách huy động tiền
gửi với lãi suất cao hơn thị tr-ờng và cho vay với lãi suất thấp, chủ yếu d-ới dạng
cầm cố th-ơng mại. Do bị hạn chế hoạt động trong một vài khu vực địa lý nhất định
nên các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đã chấp nhận mạo hiểm tiến hành đầu t- vào
những lĩnh vực có rủi ro cao đ-ợc bảo đảm bằng bảo hiểm tiền gửi. Khi kinh tế rơi
vào tình trạng suy thoái và thị tr-ờng bất động sản sụp đổ, nhiều ngân hàng và tổ
chức tiết kiệm phải đối mặt với các khoản nợ quá hạn khó đòi gia tăng. Từ năm 1980
đến năm 1988, ở Mỹ đã có khoảng 1.400 ngân hàng bị phá sản hoặc phải nhận sự
giúp đỡ của Chính phủ và 1.100 tổ chức tiết kiệm bị phá sản. Kèm theo hiện t-ợng
này là việc Công ty Bảo hiểm các tổ chức cho vay và tiết kiệm Liên bang và Công ty
bảo hiểm tiền gửi Liên bang, nơi chuyên cung cấp các khoản bảo hiểm của Chính
tài sản lớn trong một khoảng thời gian ngắn nh-:
-Công ty tín thác có quyền xử lý những ngân hàng và tổ chức đang có dấu
hiện xấu đi nhanh chóng do các khoản lỗ gia tăng, tiền gửi cạn kiệt hay đ-ợc quyết
định ph-ơng thức mua tài sản từ các những ngân hàng và tổ chức tiết kiệm gặp khó
khăn.
-Công ty tín thác có quyền thành lập các trung tâm bán đấu giá tài sản với
phạm vi hoạt động trên toàn quốc để bán tài sản theo lô, đồng thời đ-ợc phép xây
dựng những chính sách khuyến khích sự tham gia của các công ty quản lý tài sản t-
nhân vào quá trình quản lý tài sản.
-Công ty tín thác không đ-ợc phép gia hạn những khoản tiền gửi mà mình
đang kiểm soát, nếu nh- khoản tiền gửi này có mức lãi suất cao hơn mức lãi suất
hiện hành trên thị tr-ờng.
Luật về Công ty tín thác cũng cho phép công ty có một quy trình định giá và
bán đấu giá tài sản riêng trên nguyên tắc đảm bảo tính công khai, minh bạch trong
quá trình xử lý tài sản.
Ngoài ra, với vai trò là ng-ời quản lý tài sản, Công ty tín thác đ-ợc pháp luật
trao cho một số quyền hạn đặc biệt nh- quyền huỷ bỏ những hợp đồng hay điều
khoản tạo ra gánh nặng cho Công ty tín thác; quyền loại bỏ một số khoản nợ; đ-ợc
bán trực tiếp những khu nhà tập thể cho cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu không qua
đấu giá
Bên cạnh những thuận lợi, Công ty tín thác cũng gặp không ít khó khăn, đặc
biệt là khó khăn về tài chính khi Công ty tín thác chỉ có nguồn tài chính duy nhất do
ngân sách cấp, trong Chính phủ lại không muốn dùng tiền ngân sách để thanh toán
cho các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đã mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, bằng
những nỗ lực nội tại và những cơ chế phù hợp, đến năm 1996, về cơ bản nợ tồn đọng
cùng các tài sản đảm bảo của các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đã đ-ợc Công ty tín
thác giải quyết xong.
2.4 Một định chế duy nhất ở trung -ơng hoặc thuộc chính phủ
Mô hình này có một số -u điểm sau:
Tiềm lực kinh tế mạnh để có thể xử lý đ-ợc nợ với quy mô lớn.
tăng nợ quá hạn tồn đọng lên tới 28.5 nghìn tỷ won (tính đến thời điểm 9/97) do tình
trạng đổ vỡ của các tập đoàn kinh tế khổng lồ nh- thép Hanbo, ô tô Deawoo, Kia,
Sammi
(1)
Tr-ớc tình hình đó, tháng 11/1997, KAMCO đ-ợc tổ chức lại theo Luật
về xử lý hiệu quả các tài sản tồn đọng của các định chế tài chính và thành lập Công
ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc, nhằm tăng c-ờng khả năng thanh toán và duy trì sự
lành mạnh cho khu vực tài chính. Phạm vi chức năng và nhiệm vụ của Công ty Quản
(1)Jae Ryong Chung-Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành KAMCO: Kinh nghiệm hoạt động
của KAMCO, Tài liệu do Ngân hàng nhà n-ớc Việt nam dịch tháng 8/2000, Tr.2
lý Tài sản Hàn Quốc lúc này đã đ-ợc mở rộng rất nhiều.
KAMCO đ-ợc đặt d-ới sự giám sát trực tiếp của Uỷ ban Giám sát Tài chính
(FSC) và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính - Kinh tế (MOFE) với số vốn điều lệ là
130 tỷ Won. Cổ đông chính của KAMCO là Chính phủ Hàn Quốc và Ngân hàng
Phát triển Hàn Quốc. Chính phủ sở hữu 38% cổ phần, Ngân hàng Phát triển Hàn
Quốc chiếm 31% cổ phần và 31% còn lại do các ngân hàng khác nắm giữ. Ngoài ra,
KAMCO còn vay của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc là 500 tỷ Won và huy động từ
việc phát hành trái phiếu là 20.500 tỷ Won.
Theo Luật về xử lý hiệu quả các tài sản tồn đọng của các định chế tài chính,
KAMCO có nhiệm vụ chuyên xử lý các khoản nợ tồn đọng của các định chế tài
chính với mục tiêu nâng cao giá trị và khả năng chuyển nh-ợng các khoản nợ quá
hạn thông qua nhiều ch-ơng trình xử lý nợ, đồng thời tiết kiệm tối đa chi phí phát
sinh trong quá trình tái cơ cấu lĩnh vực tài chính trong khi phải nâng cao tỷ lệ thu hồi
các tài sản tồn đọng và phục hồi khả năng lành mạnh của ngành tài chính d-ới sự hỗ
trợ của Uỷ ban Giám sát Tài chính và Bộ Tài chính - Kinh tế.
Để hỗ trợ KAMCO hoạt động hiệu quả, pháp luật quy định cho KAMCO
đ-ợc sử dụng nhiều quyền hạn quan trọng nh- quyền đình chỉ việc sử dụng các thủ
tục pháp lý thông th-ờng đối với việc đòi nợ, quyền đình chỉ việc tịch thu tài sản của
bên vay để xiết nợ, quyền chuyển các khoản cho vay thành vốn cổ phần, quyền mua
0.1
Thu hồi tài sản thế chấp
11.3
5.9
6.5
Tổng cộng
16.5
8.1
8.8
Pengurusan Danaharta Nasional Berhad (gọi tắt là Danaharta) là một công
ty cổ phần ra đời năm1998 theo Luật công ty trực thuộc Bộ Tài chính. Công ty hoạt
động trên cơ sở độc lập với Chính phủ Maylaisia trong việc ra các quyết định hàng
ngày của mình, đồng thời đ-ợc giao trọng trách đặc biệt trong việc giải quyết các
khoản nợ quá hạn của các ngân hàng Malaysia và quản lý tài sản cho một số khu vực
t- nhân đ-ợc lựa chọn.
Danaharta ra đời nh- một công cụ của Chính phủ Malaysia trong nỗ lực nhằm
củng cố lại khu vực tài chính, giúp các ngân hàng thoát khỏi các khoản nợ quá hạn
chồng chất, có điều kiện tập trung thực hiện kế hoạch kinh doanh để thúc đẩy nhanh
viễn cảnh phục hồi nền kinh tế Malaysia.
Vốn hoạt động của Danaharta do Chính phủ cấp thông qua Bộ Tài chính.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động Luật thành lập quỹ phát triển năm 1998 cho phép
công ty Danaharta đ-ợc huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu có
bảo đảm của Chính phủ. Tổng số vốn đầu t- ban đầu của Danaharta khoảng 15 tỷ
RM, trong đó vốn góp của chính phủ là 3 tỷ RM (chiếm 20%), trái phiếu phát hành
để bán cho các tổ chức tài chính là 10 tỷ RM (chiếm 67%), vốn vay từ Quỹ dự phòng
cho nhân viên và Khazanah (một công ty đầu t- của Bộ Tài chính) là 2 tỷ RM (chiếm
13%).
(1)Jae Ryong Chung-Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành KAMCO: Kinh nghiệm hoạt động
của KAMCO, Tài liệu do Ngân hàng nhà n-ớc Việt nam dịch tháng 8/2000, Tr.150
đ-a ra), quyền chỉ định ng-ời quản trị đặc biệt để đề xuất kế hoạch cơ cấu lại nợ mà
không cần toà án, quyền tịch thu tài sản đảm bảo sau khi thông báo tr-ớc cho bên
vay 30 ngày và bán thông qua th-ơng l-ợng cá nhân mà không cần thông qua quy
trình đấu giá của toà án, quyền chỉ định ng-ời quản trị, giám sát hoạt động của
khách hàng mắc nợ, thay thế cho đội ngũ quản trị, điều hành cũ của doanh nghiệp,
quyền cơ cấu lại hoạt động kinh doanh của bên vay thay vì chỉ đ-ợc cơ cấu lại khoản
nợ và đặc biệt là quyền đợc bảo vệ đối với Danaharta và các nhân viên của nó
khỏi các trách nhiệm pháp lý trừ tr-ờng hợp sai sót cố ý.
Kết quả là, tính đến tháng 6/2001, Danaharta đã mua đ-ợc các khoản nợ quá
hạn với tổng trị giá khoảng 48,03 tỷ RM bao gồm 2.928 khoản nợ liên quan đến
2.598 khách hàng khác nhau. Danaharta đã thanh toán cho các tổ chức tài chính 1,02
tỷ RM bằng tiền mặt và 8,07 tỷ RM bằng trái phiếu. Hơn 80% nợ quá hạn đ-ợc
Danaharta giải quyết bằng nhiều ph-ơng pháp khác nhau với tỷ lệ thu hồi dự kiến
khoảng 57%. Tỷ lệ không trả đ-ợc nợ đúng hạn sau khi đ-ợc Danaharta cơ cấu lại
khoảng 14%
(1)
.
2.5 Công ty con của từng ngân hàng
Mô hình xử lý nợ này có những -u điểm sau: công ty quản lý nợ là một pháp
nhân độc lập, chủ động hơn trong hoạt động xử lý nợ; có điều kiện áp dụng các kỹ
năng chuyên môn hoá trong hoạt động xử lý nợ theo h-ớng tái cơ cấu nợ và tổ chức
lại hoạt động sản xuất kinh doanh của bên vay; có điều kiện dự đoán t-ơng đối chính
xác những tổn thất có thể xảy ra đối với khoản vay; giúp cho các ngân hàng làm sạch
bảng tổng kết tài sản của mình sau khi chuyển giao nợ cho công ty quản lý nợ; là cơ
sở hình thành thị tr-ờng mua bán nợ.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số nh-ợc điểm sau: thiếu thông tin về
bên vay, do vậy phải mất nhiều thời gian để đ-a ra đ-ợc ph-ơng án xử lý nợ phù
hợp; khả năng tài chính hạn chế nên quy mô xử lý nợ không lớn; mức thiệt hại có thể
xảy ra đối với khoản nợ lớn hơn nếu đ-ợc chuyển giao cho công ty quản lý nợ tập
trung và ngân hàng không đủ tiền để bù đắp những thiệt hại này.
trữ ngoại tệ tăng, lãi suất tiết kiệm đ-ợc điều chỉnh giảm, ch-a xuất hiện sức ép quá
lớn về nợ quá hạn. Năm 1999, Chính Phủ Trung quốc cho thành lập 4 Công ty Quản
lý nợ thuộc 4 ngân hàng th-ơng mại chuyên doanh thuộc sở hữu nhà n-ớc:
Công ty China orient Asset Management thuộc Ngân hàng Ngoại th-ơng Trung
Quốc;
Công ty Vạn lý Tr-ờng thành thuộc Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc;
Công ty CHAMC thuộc Ngân hàng Công th-ơng Trung Quốc;
Công ty CINDA thuộc Ngân hàng Xây dựng.
Mục tiêu của các công ty này là ngăn chặn và khắc phục những rủi ro tài
chính tiềm tàng, cải thiện danh mục tài sản của các ngân hàng th-ơng mại quốc
doanh, tăng c-ờng cải cách doanh nghiệp nhà n-ớc và sự phát triển lành mạnh của
hệ thống tài chính, duy trì giá trị của các tài sản và giảm thiểu các khoản lỗ thông
qua việc tối -u hoá giá trị tài sản đảm bảo tồn đọng.
Các khoản nợ quá hạn đ-ợc chuyển giao cho các công ty quản lý nợ từ các
ngân hàng mẹ với giá trị sổ sách nh- một phần của nghiệp vụ tái cơ cấu vốn ngân
hàng, để đổi lấy trái phiếu dài hạn đ-ợc Bộ Tài chính đảm bảo.
Việc chuyển giao nợ tồn đọng đ-ợc hạn chế ở những khoản nợ đã gia hạn từ
tr-ớc năm 1995, khi Trung Quốc ban hành luật ngân hàng th-ơng mại.
Do hoàn cảnh ra đời đặc biệt nên địa vị pháp lý của các công ty quản lý nợ chỉ
đ-ợc quy định trong Quy chế tạm thời do Hội đồng Nhà n-ớc ban hành. Công ty
quản lý nợ không đ-ợc Chính phủ Trung Quốc trao cho bất kỳ quyền hạn pháp lý
đặc biệt nào ngoài các quyền hạn mà ngân hàng chuyển giao đ-ợc h-ởng (nh- quyền
kiện ng-ời đi vay).
Cho đến nay, vẫn còn quá sớm để đánh giá sự thành công hay thất bại của mô
hình này tại Trung Quốc cũng nh- ch-a thể rút ra bất kỳ kết luận gì từ kinh nghiệm
của Trung Quốc.
Thực tiễn xử lý nợ quá hạn tồn đọng và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở các
n-ớc đã cho thấy, mô hình công ty quản lý nợ tập trung với một hệ thống pháp lý
phù hợp tăng c-ờng quyền hạn của công ty quản lý nợ tỏ ra có hiệu quả hơn cả.
Tóm lại, mỗi mô hình có những -u điểm và hạn chế nhất định. Nếu loại bỏ
trắng. Bằng các kỹ năng đặc biệt nh đầu t thêm chi phí, cơ cấu lại khoản nợ hoặc
tối -u hoá giá trị tài sản đảm bảo, công ty quản lý nợ mới hy vọng thu hồi nợ gốc đã
cho vay. Trong khi đó, các doanh nghiệp đòi nợ thuê luôn hoạt động vì lợi nhuận.
Doanh thu từ việc đòi nợ thuê đ-ơng nhiên bù đắp những chi phí phát sinh, đồng thời
phải đem lại cho doanh nghiệp những khoản thu nhập nhất định. Tỷ suất lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu chắc chắn cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm và cao hơn tỷ suất lợi
nhuận bình quân của nền kinh tế. Bởi, nếu tỷ suất này bằng lãi suất gửi tiết kiệm thì
chủ doanh nghiệp có thể gửi tiền tại ngân hàng h-ởng lãi suất chứ không phải bỏ sức
ra kinh doanh. Ngoài ra, đòi nợ thuê, kinh doanh nợ là lĩnh vực có rủi ro, nếu tỷ suất
lợi nhuận không cao thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn những lĩnh vực khác đầu t- để
tránh rủi ro, mạo hiểm.
2. Công ty quản lý nợ có thời gian hoạt động xác định và t-ơng đối ngắn
Thời gian hoạt động của công ty quản lý nợ là khoảng thời gian hợp lý, cần
thiết đủ để nó tiếp quản, xây dựng và triển khai các hoạt động xử lý nợ quá hạn tồn
đọng theo kế hoạch đã đ-ợc phê chuẩn. Kết quả cuối cùng là, các khoản nợ quá hạn
và tài sản đảm bảo đ-ợc công ty quản lý nợ tái cơ cấu, chuyển nh-ợng để thu hồi vốn
sau khi đã làm tăng tối đa giá trị. Đến đây, công ty quản lý nợ hoàn thành nhiệm vụ
và kết thúc hoạt động.
Tuỳ theo tình trạng nợ khó đòi, hoàn cảnh và mục tiêu của mỗi quốc gia mà
xác định cụ thể thời gian tồn tại phù hợp cho công ty quản lý nợ. Tuy nhiên, do yêu
cầu cấp bách giải quyết nhanh chóng tình trạng khủng hoảng của hệ thống tài chính
ngân hàng, đảm bảo ổn định trật nên quá trình này không thể diễn ra quá lâu. Thông