Một số vấn đề pháp lý về tổ chức lại doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp - Pdf 27

Lời nói đầu

Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 6 năm
1999 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2000, là cơ sở pháp lý quan trọng
nhất cho việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh
nghiệp như Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh
và Doanh nghiệp tư nhân. Sau khi Luật doanh nghiệp ra đời, Chính phủ, các
Bộ, ngành có liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành…
Cùng với Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật hợp tác xã, Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước..., Luật Doanh
nghiệp được ban hành đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hoàn
thiện pháp luật về địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tại
Việt Nam, phục vụ cho nền công nghiệp hoá, hiện đại hóa nước nhà.
Tuy nhiên sau hơn bốn năm thi hành, Luật doanh nghiệp cũng đã bộc lộ
những hạn chế nhất định; nhiều quy định tỏ ra bất hợp lý, cần phải có những
sửa đổi, bổ sung kịp thời; nhiều vấn đề phát sinh cần được nghiên cứu, lý giải
để để góp phần xây dựng cơ chế thi hành Luật doanh nghiệp có hiệu quả
trong đời sống xã hội. Nói cách khác là sau một thời gian phát huy hiệu lực,
bên cạnh những thành tựu rất đáng ghi nhận, thì cũng dần xuất hiện không ít
những vấn đề khó khăn cần phải được giải quyết, cả về lý luận cũng như cơ
chế thi hành. Việc nghiên cứu vấn đề pháp lý về tổ chức lại doanh nghiệp theo
luật doanh nghiệp trở nên hết sức cấp thiết, đặc biệt là trong giai đoạn hiện
nay, khi chúng ta đang cố gắng để hội nhập với nền kinh tế thế giới. Vì lý do
đó, tôi đã chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về tổ chức lại doanh nghiệp
theo Luật doanh nghiệp ”.
Do trình độ và thời gian còn nhiều hạn chế, cũng như phạm vi rộng và
tính phức tạp của đề tài, tiểu luận không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong
nhận được sự giúp đỡ và ý kiến đóng góp từ các thầy cô giáo để bài viết được
hoàn thiện hơn.
1
Chương I

Bốn là, Kế thừa những kinh nghiệm quý báu đúc kết được trong quá trình
thực hiện Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, cũng như học tập tham
khảo kinh nghiệm của các nước để xây dựng Luật doanh nghiệp hiện đại góp
phần thích nghi và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế nước ta vào kinh tế khu
vực và thế giới.
Trên tinh thần đó, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá X ngày 12/6/1999, Luật
doanh nghiệp đã được thông qua, đánh dấu một bước tiến mới, quan trọng
trong quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo môi trường kinh doanh
thuận lợi, thông thoáng hơn để thúc đẩy, khuyến khích các nhà đầu tư phát
triển các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, nhằm “góp phần phát huy
nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, đẩy mạnh
công cuộc đổi mới kinh tế, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật
trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo hộ
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cường hiệu lực quản lý Nhà
nước đối với các hoạt động kinh doanh”.
II. Những nội dung cơ bản của Luật doanh nghiệp
1. Phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp
Thay thế Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh
nghiệp quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại
hình công ty và doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp Nhà nước sau khi
được cổ phần hoá, kể cả trường hợp Nhà nước có cổ phần chi phối tại doanh
nghiệp; doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội sau khi
chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn cũng
thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp.
Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000
của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp thì
3
những loại hình doanh nghiệp sau đây thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật
doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và

các công cụ pháp lý để tập trung huy động vốn kinh doanh. Để huy động mọi
nguồn lực cho phát triển kinh tế, Luật doanh nghiệp mở rộng tối đa phạm vi
các chủ thể có nguồn lực được đóng góp vào hoạt động kinh doanh.
3. Thủ tục thành lập doanh nghiệp.
So với Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh nghiệp
đã có bước tiến quan trọng trong các quy định về thủ tục thành lập doanh
nghiệp. Luật doanh nghiệp xoá bỏ thủ tục “xin – cho” trong thành lập doanh
nghiệp.
Nhằm khắc phục những hạn chế của Luật công ty và Luật doanh nghiệp
tư nhân và thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong việc thành
lập doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp đã hoàn thiện những quy định về thành
lập và đăng ký kinh doanh theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính và hồ
sơ, đề cao trách nhiệm của người đăng ký kinh doanh trong việc bảo đảm tính
chính xác, trung thực. So với Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, các
quy định về thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh của Luật doanh nghiệp
đã có những đổi mới cơ bản như: xoá bỏ chế độ xin phép thành lập, chỉ thực
hiện việc đăng ký kinh doanh; coi việc thành lập doanh nghiệp là quyền tự do
kinh doanh, được pháp luật bảo đảm, góp phần xoá bỏ cơ chế “xin-cho” đang
tồn tại khá phổ biến trong đời sống kinh tế-xã hội nước ta. Đây chính là một
bước tiến mới trong việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh của Luật
doanh nghiệp.
Luật doanh nghiệp quán triệt tư tưởng “thành lập doanh nghiệp và đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là quyền của công dân và tổ chức
được Nhà nước bảo hộ” đã quy định giản đơn về hồ sơ đăng ký kinh doanh.
Ngoại trừ việc thành lập doanh nghiệp kinh doanh một số ngành nghề kinh
doanh phải có vốn pháp định và chứng chỉ hành nghề, hồ sơ đăng ký kinh
5
doanh chỉ bao gồm: (i) Đơn đăng ký kinh doanh; (ii) Điều lệ đối với công ty;
(iii) Danh sách thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, danh sách
thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, danh sách cổ đông cổ đông

nghiệp khi quy định về các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp là nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong tổ chức vận hành hoạt động kinh
doanh. Bởi vì có thể cũng là một loại hình kinh doanh, nhưng tại giai đoạn
này thì phù hợp , nhưng sang giai đoạn khác lại không phù hợp nữa. Việc quy
định các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp đã tạo ra cơ hội cho các nhà đầu
tư có thể thay đổi hình thức kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển kinh tế.
Hơn nữa, việc đưa ra một khung pháp lý để tổ chức lại doanh nghiệp nhằm
giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, bảo vệ được lợi ích của các bên
liên quan như chủ nợ, người lao động, Nhà nước ..
Luật doanh nghiệp đã quy định khá đầy đủ về vấn đề tổ chức lại doanh
nghiệp. Các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp đ-
ược xây dựng trên cơ sở vận dụng những nguyên tắc chung về tổ chức lại
pháp nhân đợc quy định trong Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, các biện pháp tổ
chức lại doanh nghiệp được đề cập trong Luật doanh nghiệp có nội dung là tổ
chức lại công ty, cụ thể như sau:
4.1.Chia doanh nghiệp
Chia doanh nghiệp là biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp được áp dụng
cho công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, theo đó công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được chia thành một số công ty mới cùng
loại. Viêc chia công ty do Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại
hội đồng cổ đông của công ty quyết định. Quyết định chia công ty phải có các
nội dung chủ yếu: tên, trụ sở công ty hiện có, số lượng công ty sẽ thành lập;
nguyên tắc và thủ tục chia tài sản công ty; phương án sử dụng lao động, thời
hạn và thủ tục chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị
chia sang công ty mới thành lập; nguyên tắc giải quyết các nghĩa vụ của công
ty bị chia, thời hạn chia công ty.
7
Sau khi xác lập tư cách pháp lý cho các công ty mới (đăng ký kinh
doanh), công ty bị chia chấm dứt sự tồn tại. Các công ty mới thành lập phải
cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán và các nghĩa

công ty bị hợp nhất thành vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty hợp nhất;
thời hạn thực hiện hợp đồng hợp nhất. Các thành viên, cổ đông của công ty bị
hợp nhất thông qua hợp đồng hợp nhất, Điều lệ công ty hợp nhất, thiết lập bộ
máy tổ chức quản lý công ty và đăng ký kinh doanh cho công ty hợp nhất.
Sau khi đăng ký kinh doanh cho công ty hợp nhất, các công ty bị hợp nhất
chấm dứt sự tồn tại, công ty hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp
pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động
và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ty bị hợp nhất.
4.4. Sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập là biện pháp tổ chức lại được áp dụng cho tất cả các loại hình
công ty, theo đó một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp
nhập) sáp nhập vào một công ty mới (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp
nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
Để thực hiện việc sáp nhập, các công ty có liên quan (công ty bị sáp
nhập và công ty nhận sáp nhập) phải thiết lập một hợp đồng gọi là hợp đồng
sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu: tên, địa chỉ trụ sở
công ty bị sáp nhập và công ty nhận sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập;
phương án sử dụng lao động; thời hạn, thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài
sản; chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập
thành vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực
hiện hợp đồng sáp nhập. Các thành viên, cổ đông của các công ty có liên quan
thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và đăng ký kinh
doanh cho công ty nhận sáp nhập. Sau khi đăng ký kinh doanh cho công ty
nhận sáp nhập, các công ty bị sáp nhập chấm dứt sự tồn tại, công ty nhận sáp
nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các
9
khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác
của các công ty bị sáp nhập.
4.5. Chuyển đổi doanh nghiệp

6. Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp
Mục tiêu của Luật doanh nghiệp trong việc đưa ra những quy định về
quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp là tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu tư trong việc thành lập doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nư-
ớc bằng pháp luật đối với doanh nghiệp; góp phần ngăn ngừa khả năng một số
cán bộ, công chức lợi dụng quyền hạn được giao để sách nhiễu, gây phiền hà
cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp.
II. Những thành tựu đạt được
Trong hơn 3 năm thi hành Luật doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước từ
Trung ương đến địa phương, cộng đồng doanh nghiệp đã làm được nhiều việc
và thu được những kết quả nổi bật trong đổi mới phát triển kinh tế đất nước.
Những kết quả quan trọng phải kể đến là:
1. Về phía các cơ quan Nhà nước,
Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình, các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền đã ban hành tương đối kịp thời và đầy đủ các văn bản hướng dẫn
thi hành. Để thi hành Luật doanh nghiệp, ngày 3 tháng 2 năm 2000, Thủ
tướng Chính phủ đã ký 3 văn bản quan trọng hướng dẫn thi hành Luật doanh
nghiệp, đó là: Nghị định số 02/2000/NĐ - CP về đăng ký kinh doanh; Nghị
định số 03/2000/ NĐ - CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh
nghiệp; Quyết định 19/2000/QĐ -TTg về bãi bỏ 84 loại giấy phép trái với quy
định của Luật doanh nghiệp. Ngày 2/3/2000, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban
hành Thông tư 03/2000/TT-BKH hướng dẫn về trình tự, thủ tục đăng ký kinh
doanh đối với các doanh nghiệp quy đinh tại Luật doanh nghiệp và hộ kinh
doanh cá thể, ban hành 25 biểu mẫu về kinh doanh và đăng ký thay đổi nội
dung đăng ký kinh doanh áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước. Như vậy,
chỉ sau một tháng, kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực, Chính phủ đã ban
11
hành được các văn bản quan trọng nhất hướng dẫn thi hành Luật doanh
nghiệp, đảm bảo thực thi những tư tưởng đổi mới chủ yếu của Luật về quyền
tự do kinh doanh theo pháp luật, đảm bảo việc đăng ký kinh doanh được tiến

triệu đồng) thì nay giảm xuống còn 500 ngàn đồng.
Thành tựu đạt được từ việc thực hiện Luật Doanh nghiệp còn thể hiện ở
chỗ quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của người dân được thể chế hoá và
đảm bảo tốt hơn; nhờ đó, mọi tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp
đều thành lập được doanh nghiệp một cách kịp thời và nhanh chóng. Khảo sát
thực tế cho thấy không ít người đã có ý định thành lập doanh nghiệp từ 2 - 3
năm trước đây nhưng đã không làm được điều đó; bởi vì, họ không xin được
giấy phép thành lập, hoặc khi đã xin được giấy phép thành lập rồi thì lại
không xin được các loại giấy phép kinh doanh khác. Luật doanh nghiệp đã trở
thành công cụ pháp lý bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp; là yếu tố
góp phần củng cố niềm tin của ngời dân vào công cuộc đổi mới. Có thể nói,
việc thực hiện Luật doanh nghiệp đã thổi một luồng sinh khí mới vào môi tr-
ờng kinh doanh, khơi dậy và thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần kinh doanh, tinh
thần tự do sáng tạo và tự chủ trong kinh doanh, làm cho cộng đồng doanh
nghiệp tự tin hơn trong hoạt động đầu tư và kinh doanh; tăng thêm sự tin t-
ưởng của nhân dân vào đường lối và chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước.
Nhân dân nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng đã ủng hộ, h-
ưởng ứng và đón nhận “luồng sinh khí mới” một cách tích cực trên phạm vi
toàn quốc. Đa số các doanh nghiệp đã nhận thức được sự thay đổi và quyền
kinh doanh và nhanh chóng phát huy sáng kiến, tận dụng các cơ hội kinh
doanh, trên nguyên tắc được kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không
cấm. Rõ ràng, Luật doanh nghiệp là một trong các điển hình về “ý Đảng hợp
lòng dân”, nhanh chóng phát huy tác dụng trong thực tế cuộc sống. Thực tế
cho thấy: Số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập tăng gấp
nhiều lần so với những năm trước đây. Ngay sau khi Luật doanh nghiệp có
hiệu lực, trong năm 2000, đã có hơn 14.417 doanh nghiệp mới đăng ký kinh
13
doanh, gấp khoảng 2,5 lần so với năm 1999. Số doanh nghiệp mới đăng ký
kinh doanh ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng nhiều
so với trước; có những tỉnh như Bắc Giang, Hà Giang, Hà tĩnh, Quảng Bình,

dụng thêm lao động, v.v… cũng là hiện tượng mới rõ nét hơn nhiều so với
thời kỳ trước đó. Nhờ môi trờng kinh doanh được cải thiện, nhất là không bị
ràng buộc, khống chế bất hợp lý của các loại giấy phép, một số doanh nghiệp
đã tận dụng hết năng lực sản xuất được xây dựng từ trước, hoặc đầu tư mở
rộng thêm quy mô, địa bàn kinh doanh. Riêng trong năm 2000, trong cả nước
có hơn 5000 chi nhánh, văn phòng đại diện được thành lập; có hơn 4000
doanh nghiệp đăng ký bổ sung thêm vốn kinh doanh, khoảng hơn 8000 doanh
nghiệp đăng ký bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh tập trung chủ yếu ở các
ngành nghề đã bị bãi bỏ giấy phép. Ví dụ, ở Hà Nội, số doanh nghiệp đăng ký
bổ sung ngành nghề kinh doanh trong các ngành, nghề bãi bỏ giấy phép tăng
từ 6,7% năm 1999 lên 65% năm 2000. Số lượng lớn doanh nghiệp hiện có mở
thêm chi nhánh, văn phòng đại diện, bổ sung thêm vốn, ngành, nghề kinh
doanh trong năm 2000 cũng là hiện tượng chưa từng có trước đây ở nước ta.
Xét về khía cạnh pháp lý, với những quy định mới trong Luật Doanh
nghiệp, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên ổn định và chắc chắn
hơn; không còn bị giới hạn cả về nội dung và thời gian hạn hẹp và cứng nhắc
của giấy phép (ví dụ, trước đây có giấy phép quy định doanh nghiệp chỉ được
đóng tàu có trọng tải không quá 200 tấn; nếu doanh nghiệp đóng tàu có trọng
tải lơn hơn 200 tấn thì bị coi là kinh doanh trái phép; có giấy phép quy định
thời hạn 3 tháng như giấy chứng nhận đủ điều kiện phòng cháy, chữa cháy;
hay kinh doanh photocopy cứ 2 tháng lại phải gia hạn một lần). Do không còn
bị giới hạn phụ thuộc vào nội dung giấy phép, không phải đối mặt với nguy
cơ không gia hạn được giấy phép hoặc gia hạn không kịp thời, doanh nghiệp
đã được an toàn và yên tâm hơn trong đầu tư mở rộng kinh doanh. Nhờ đó,
việc thi hành Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành đã khích
15
lệ tinh thần kinh doanh, tạo điều kiện và thúc đẩy sự sáng tạo và linh hoạt
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo điều tra của Phòng th-
ương mại và Công nghiệp Việt nam thì việc bãi bỏ 84 loại giấy phép con theo
Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã tiết kiệm trung

hơn 939 loại ngành, nghề kinh doanh trong nền kinh tế.
4. Việc thực hiện Luật Doanh nghiệp đã góp phần tích cực tạo
thêm việc làm cho người lao động
Theo báo cáo chưa đầy đủ của của các Sở Kế hoạch và Đầu tư, riêng các
doanh nghiệp, các chi nhánh và văn phòng đại diện mới thành lập trong 2 năm
qua đã tạo ra được khoảng từ 650.000 đến 750.000 chỗ làm việc mới cho ngư-
ời lao động. Ngoài ra, một số lượng không nhỏ doanh nghiệp đã tăng thêm
vốn đầu tư, mở rộng thêm quy mô kinh doanh, và do đó cũng đã thu hút thêm
lao động mới. Đó là chưa kể số việc làm mới được tạo ra bởi các hộ kinh
doanh cá thể trong cả nước. Số công ăn việc làm mới được tạo ra nhờ tác
động trực tiếp của Luật doanh nghiệp đã giải quyết công ăn việc làm cho
khoảng gần 1/3 số lao động mới tăng thêm hàng năm trong nên kinh tế. Thực
tế cho thấy các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể
đã và đang là nguồn chủ yếu tạo ra chỗ làm việc mới cho người lao động; góp
phần không nhỏ vào việc cải thiện mức sống, đồng thời giải quyết các vấn đề
bức xúc về xã hội.
II. Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện luật doanh nghiệp
1. Về các loại hình doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp đã góp phần vào việc mở rộng mô hình tổ chức kinh
doanh bằng việc quy định thêm mô hình công ty hợp danh và công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên do một tổ chức làm chủ. Đây là một tiến bộ
mới trong việc đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, góp phần mở rộng
quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư.
2. Về vấn đề thành lập doanh nghiệp.
17
Thứ nhất, việc đăng ký kinh doanh đối với những ngành nghề kinh
doanh đòi hỏi phải có vốn pháp định.
Trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tại khoản 4 điều13
Luật doanh nghiệp có qui định: “đối với những doanh nghiệp kinh doanh các
ngành nghề đòi hỏi phải có vốn pháp định thì phải có thêm xác nhận về vốn

trong Luật doanh nghiệp. Những quy định tổ chức lại doanh nghiệp trong đó
có chuyển đổi công ty đã đáp ứng được nhu cầu của các công ty, tạo điều kiện
cho các công ty cải tổ, đổi mới lại cơ cấu tổ chức, loại bỏ các doanh nghiệp
yếu kém, trì trệ, thua lỗ kéo dài nhằm cơ cấu lại nền kinh tế. Tuy nhiên, đây là
vấn đề mới và phức tạp nên Luật doanh nghiệp mới chỉ quy định về việc
chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại
(Điều 109 Luật doanh nghiệp), chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên.
Việc quy định như trên đã phần nào hạn chế quyền tự do kinh doanh
của chủ doanh nghiệp, giảm tính năng động của thị trường. Với quy định này,
nhu cầu tổ chức lại doanh nghiệp trong nhiều trường hợp sẽ không được đáp
ứng cho dù doanh nghiệp hoàn toàn có thể giải quyết tốt quyền lợi của các
chủ nợ, cũng như của tập thể người lao động khi tiến hành tổ chức lại.
4. Về vấn đề giải thể doanh nghiệp
Gỉải thể doanh nghiệp là một thủ tục mang tính chất hành chính, hậu
quả của nó là chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trên thực tế. Giải thể trư-
ớc hết là quyền của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Khoản 4 Điều 111 Luật
doanh nghiệp còn quy định trường hợp giải thể bắt buộc, trường hợp này thì
giải thể là một nghĩa vụ. Đó là khi doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh (khoản 4 điều 111 Luật doanh nghiệp). Đây là một điểm
mới của Luật doanh nghiệp so với luật Công ty năm 1990. Luật Công ty chỉ
quy định về các trường hợp giải thể tự nguyện. Quy đinh về trường hợp giải
thể bắt buộc là cần thiết, thể hiện tính chất cưỡng chế của Nhà nước đối với
những doanh nghiệp có sự vi phạm luật dẫn đến bị thu hồi giấy chứng nhận
19

Trích đoạn Tăng cường năng lực của bộ máy hành chính thực thi Luật doanh nghiệp. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong đầu tư kinh doanh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status