Một số vấn đề pháp lý về thương mại điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HÀ LAN ANH MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT
NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN HÀ NỘI – NĂM 2008
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, hỗ trợ của thầy cô, bạn
bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, chia sẻ trong quá trình hoàn thành
bản Luận văn này.

3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƢƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ…………………. 9
1.1 Khái lƣợc chung về thƣơng mại điện tử 9
1.1.1 Thương mại là gì? 9
1.1.2 Khái niệm thương mại điện tử 10
1.1.3 Pháp luật về thương mại điện tử 12
1.1.4 Các đặc trưng cơ bản của thương mại điện tử 14
1.2. Lƣợc sử hình thành và phát triển của thƣơng mại điện tử và pháp
luật về thƣơng mại điện tử trên thế giới và tại Việt Nam 16
1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử và pháp
luật về thương mại điện tử trên thế giới 16

KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Internet được cho là một trong những phát minh quan trọng nhất của
loài người trong thế kỷ XX. Sự phát triển mạnh mẽ của Internet với mạng
toàn cầu World Wide Web (WWW) đã tạo ra những biến chuyển to lớn
trong đời sống của con người, tạo ra sự gắn kết nhiều hơn và bền chặt hơn
các mối quan hệ giữa con người với con người từ mọi khu vực, mọi miền
văn hoá trên thế giới, xoá đi những cách biệt về cả không gian và thời gian.
Sự phát triển của Internet thực sự đã ảnh hưởng và làm biến đổi rất nhiều
các hoạt động trên thế giới trong đó có hoạt động thương mại.
Trước đây, để có thể thực hiện các giao dịch thương mại, người ta

cận nhanh hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu. Muốn vậy,
có được một khung pháp lý hoàn thiện về thương mại điện tử, nhận thức
đúng đắn về vai trò và lợi ích của thương mại điện tử, là đòi hỏi cấp thiết
trong tiến trình hội nhập ngày nay. Tuy vậy, chúng ta chưa kịp thời có được
một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của
thương mại điện tử. Theo Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2005
của Vụ Thương mại điện tử – Bộ Thương mại thì năm 2005 là năm đầu tiên
nhà nước ta đã bước đầu ban hành được một hệ thống các chính sách và văn
bản pháp luật quan trọng cho sự phát triển của thương mại điện tử.
Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cao học luật, tôi chọn đề
tài: "Một số vấn đề pháp lý về Thƣơng mại điện tử trong điều kiện Việt
Nam hội nhập quốc tế” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về thương mại điện tử và pháp
luật về thương mại điện tử.

7
- Đi sâu tìm hiểu và phân tích một vài vấn đề pháp lý về thương mại
điện tử theo quy định pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam hiện
hành.
- Tìm hiểu và phân tích vai trò quan trọng của pháp luật về thương mại
điện tử trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế.
- So sánh các quy định pháp luật về thương mại điện tử của Việt Nam
với pháp luật quốc tế và luật của một số nước như: Trung Quốc, Hoa
Kỳ, Singapore, …
- Nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật về thương mại điện tử ở
Việt Nam.
- Đề xuất một số kiến nghị, phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm
hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử đáp ứng được các đòi hỏi
của thực tiễn và điều kiện Việt Nam hiện nay.

9
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Khái lƣợc chung về thƣơng mại điện tử
1.1.1 Thương mại là gì?
Thương mại đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội
loài người, góp phần quan trọng thỏa mãn các nhu cầu của con người cũng
như thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ.
Theo định nghĩa tại Từ điển bách khoa Việt Nam, khái niệm thương
mại được hiểu là toàn bộ hoạt động trao đổi hàng hoá thông qua mua và bán
các hàng hoá, dịch vụ, các chứng từ có giá trong xã hội.
Về phương diện pháp lý, khái niệm hoạt động thương mại cũng được
các văn bản pháp luật quy định cụ thể.
Điều 3 khoản 1 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005
(“Luật Thƣơng mại”) quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”;

phương tiện điện tử.
Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu: “thương mại điện tử được hiểu
là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử, dựa
trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng chữ viết, âm thanh và
hình ảnh”
1

Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại thế giới - WTO: “thương
mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản
phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao 1
PGS.TS Nguyễn Bá Diến (Chủ biên) (2005), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội.

11
nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những
thông tin số hóa thông qua mạng internet”.
2

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế của Liên hợp quốc (“OECD”)
định nghĩa: “thương mại điện tử là các gao dịch thương mại dựa trên truyền
dữ liệu qua các mạng truyền thông như internet”.
3

Với mục đích đưa ra định nghĩa đầy đủ và chính xác nhất về thương
mại điện tử để các quốc gia có thể tham khảo, tạo cơ sở cho việc xây dựng
chiến lược phát triển thương mại điện tử của quốc gia mình, Liên Hiệp quốc
đã đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử được phản ánh theo cả chiều dọc

tử”).
Thương mại điện tử ngày được sử dụng phổ biến trong các hoạt động
thương mại thế giới. Dựa vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân loại
thành các loại hình ứng dụng thương mại điện tử khác nhau.
Theo đó, căn cứ vào đối tượng giao dịch, loại hình ứng dụng của
thương mại điện tử được phân thành hai nhóm: (i) giao dịch buôn bán hàng
hóa vật chất và dịch vụ thông thường; (ii) giao dịch trao đổi trực tuyến thông
tin, hàng hóa, dịch vụ số hóa như phần mềm, âm nhạc, chương trình video
theo yêu cầu…
Căn cứ vào chủ thể tham gia giao dịch thương mại điện tử, loại hình
ứng dụng thương mại điện tử được phân loại thành: (i) giao dịch giữa doanh
nghiệp với doanh nghiệp (B2B); (ii) giao dịch giữa doanh nghiệp với khách
hàng (B2C); (iii) giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G);
(iv) giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau (C2C) và (v) giao dịch
giữa cơ quan nhà nước với cá nhân (G2C).
Các loại hình ứng dụng của thương mại ngày càng được sử dụng rộng
rãi và phổ biến, góp phần không nhỏ vào hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp, của nhà nước và người tiêu dùng, đóng góp không nhỏ vào tỷ trọng
thương mại của mỗi quốc gia nói riêng và của toàn cầu nói chung.
1.1.3 Pháp luật về thương mại điện tử
Sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động thương mại điện tử, đòi hỏi
các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động này cần được điều chỉnh bởi các
quy phạm pháp luật. Pháp luật về thương mại điện tử được hiểu là tổng thể
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động
thương mại điện tử.
Các hoạt động thương mại điện tử được điều chỉnh bởi các quy phạm
pháp luật quốc tế và quy phạm pháp luật quốc gia.

13
Về pháp luật quốc tế. Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử,

thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, hợp đồng điện tử, chữ ký
điện tử, … có ý nghĩa quan trọng, tạo hành lang pháp lý an toàn cho với sự
phát triển thương mại điện tử trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói
riêng.
1.1.4 Các đặc trưng cơ bản của thương mại điện tử
Xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
công nghệ thông tin đặc biệt là những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực
Internet, thương mại điện tử do vậy cũng mang nhiều đặc trưng khác với
thương mại truyền thống.
Thứ nhất, thương mại điện tử không thể hiện các văn bản giao dịch
trên giấy. Tất các thông tin, dữ liệu đều có thể lưu giữ, truyền gửi và thể
hiện bằng các phương tiện điện tử. Điều này giúp cho các chủ thể sử dụng
thương mại điện tử có thể tiết kiệm nhiều về thời gian và tiền bạc. Tuy nhiên
do được thực hiện qua các phương tiện điện tử cho nên thương mại điện tử
đòi hỏi phải có những tiêu chí kỹ thuật chặt chẽ nhất định để đảm bảo an
toàn, an ninh cho giao dịch thương mại điện tử.
Thứ hai, thương mại điện tử phụ thuộc hạ tầng công nghệ và trình độ
công nghệ thông tin của người sử dụng. Thương mại điện tử được thực hiện
qua các phương tiện điện tử, nó đòi hỏi tiêu chí kỹ thuật cao để đảm bảo an
toàn, an ninh cho các giao dịch được thực hiện thông qua các phương tiện
điện tử, điều đó đòi hỏi phải không ngừng phát triển, nâng cao hạ tầng công
nghệ, cũng như có đội ngũ con người vận hành các phương tiện điện tử
không chỉ thành thạo về công nghệ mà còn có kiến thức và kỹ năng về quản
trị kinh doanh, về thương mại.
Thứ ba, thương mại điện tử có tốc độ nhanh. Sở dĩ khẳng định như
vậy vì các bước giao dịch được thực hiện thông qua phương tiện điện tử, do
vậy góp phần rút ngắn thời gian, cũng như chi phí trong quá trình thực hiện

15
giao dịch – điều này đã góp phần tạo nên những biến chuyển quan trọng

Mô hình giao tiếp nhiều người với
nhiều người

16
Tư duy thiên về phía cung
Tư duy thiên về phía cầu
Khách hàng là mục tiêu
Khách hàng là đối tác
Thị trường phân tách
Thị trường công đồng
Sản phầm và dịch vụ vật chất
Sản phẩm và dịch vụ số hóa
Nhãn hiệu trên hàng hóa
Giao tiếp, mô tả
Sử dụng trung gian
Không sử dụng trung gian hoặc
trung gian kiểu mới
Danh mục hàng hóa trên giấy
Danh mục hàng hóa điện tử
Nguồn: TS. Trần Văn Hòe (Chủ biên) (2006), Giáo trình Thương mại
điện tử, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống Kê Hà Nội.
1.2. Lƣợc sử hình thành và phát triển của thƣơng mại điện tử và pháp
luật về thƣơng mại điện tử trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử và pháp
luật về thương mại điện tử trên thế giới.
Thương mại điện tử được hình thành và phát triển cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, hệ thống mạng toàn cầu, đặc biệt là
sự hình thành và phát triển của Internet.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều doanh nghiệp trên thế giới
đã thực hiện việc trao đổi dữ liệu điện tử và thư tín điện tử qua mạng nội bộ

bán hàng hóa quốc tế quy định “cho mục đích của Công ước này, văn bản
bao gồm cả điện báo và fax”); Công ước Rome 1980 về luật áp dụng cho
các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng; Những nguyên tắc pháp lý thống nhất
về hợp đồng thương mại quốc tế, … mới đây nhất là Công ước của Liên
Hiệp quốc về việc sử dụng phương tiện điện tử trong Hợp đồng quốc tế năm
2005.
Nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của thương mại điện tử và tạo hành
lang pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của thương mại điện tử, nhiều quốc

18
gia trên thế giới cũng nhanh chóng ban hành hệ thống các quy định pháp
luật của mình về thương mại điện tử: Luật Thống nhất về Giao dịch điện tử
của Hoa Kỳ; Luật Chữ ký điện tử trong thương mại quốc gia và quốc tế của
Hoa Kỳ; Luật Chữ ký điện tử của Trung Quốc; Luật Giao dịch điện tử
Singapore, ….
Thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu, của chữ ký điện
tử, quy định về việc giao kết hợp đồng điện tử, về an toàn, bảo mật trong
giao dịch điện tử, …là nền tảng cơ sở - hành lang pháp lý cho sự tồn tại và
phát triển bền vững của thương mại điện tử.
1.2.2 Lược sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử và pháp
luật về thương mại điện tử tại Việt Nam.
Internet mới chỉ bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng năm
1997. Cùng với sự xuất hiện của Internet các hoạt động thương mại điện tử
bắt đầu xuất hiện và không ngừng được phát triển ở Việt Nam.
Báo cáo hiện trạng ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam – năm
2003 của Ban Công nghệ thông tin và Thương mại điện tử - Bộ Thương mại
nhận định: “Càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp thấy được các lợi ích
của TMĐT và muốn ứng dụng TMĐT; Thương mại điện tử đã được ứng
dụng ngày càng rộng rãi để tiếp thị và quảng bá doanh nghiệp; Việc giao
kết, ký hợp đồng và thanh toán trực tuyến trong TMĐT chưa thực hiện được

mại điện tử giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg
ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ”.
Cho tới nay, hàng loạt các văn bản pháp luật về thương mại điện tử đã
được ban hành và có hiệu lực tại Việt Nam: Nghị định số 57/2006/NĐ-CP
ngày 9/6/2006 của Chính phủ về Thương mại điện tử; Nghị định số
26/2006/NĐ-CP ngày 15/2/2007 của Chính phủ về hướng dẫn Luật Giao
dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số
27/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/2/2007 về giao dịch điện tử trong

20
hoạt động tài chính; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 8/3/2007 của Chính
phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, …
Thương mại điện tử ngày càng trở thành phương thức giao dịch được
ưa thích và sử dụng phổ biến trên thế giới, góp phần quan trọng vào sự phát
triển của thương mại thế giới. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện về thương
mại điện tử chắc chắn sẽ là hành lang quan trọng để thương mại điện tử tại
Việt Nam không ngừng được phát triển, để chúng ta có thể nắm bắt được tất
cả các cơ hội cũng như sẵn sàng đương đầu với các thách thức của qua trình
hội nhập quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
của Tổ chức Thương mại thế giới - WTO.
1.3. Vai trò của thƣơng mại điện tử và pháp luật về thƣơng mại điện
tử
1.3.1 Vai trò của thương mại điện tử
Thương mại điện tử tuy có lịch sử phát triển chưa lâu nhưng nó đã và
đang có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của thương mại thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Như đã đề cập ở trên, thương mại
điện tử được hiểu một cách nôm na là thực hiện các hoạt động thương mại
thông qua các phương tiện điện tử. Thương mại điện tử có những đặc trưng
so với hoạt động thương mại truyền thống, những đặc trưng đó mang lại cho
người sử dụng thương mại điện tử rất nhiều ích lợi khác nhau. Chính bởi vậy

qua việc giảm giá mua hàng ước tính khoảng từ 5% - 15%; chi phí quản lý
hành chính ước tính khoảng 80%
6
.
Thương mại điện tử hỗ trợ doanh nghiệp rất nhiều trong việc củng cố
quan hệ với khách hàng. Thuận lợi của việc giao tiếp qua mạng không chỉ
giúp doanh nghiệp tiếp cận và mở rộng mạng lưới khách hàng, mà còn củng
cố các quan hệ với khách hàng của mình. Việc cá biệt hóa các sản phẩm, 5
Trung tâm thông tin thương mại, Bộ Thương mại (2006), Thương mại điện tử dành cho doanh nghiệp,
NXB Lao động Xã hội.
6
Trung tâm thông tin thương mại, Bộ Thương mại (2006), Thương mại điện tử dành cho doanh nghiệp,
NXB Lao động Xã hội.

22
dịch vụ của doanh nghiệp cũng góp phần củng cố mối quan hệ giữa khách
hàng với doanh nghiệp.
Ngoài những lợi ích được kể trên thì thương mại điện tử còn mang lại
cho doanh nghiệp vô số các ích lợi khác: đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy
trình giao dịch, tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh,
thuận lợi trong việc tìm kiếm các đối tác mới, cải thiện hình ảnh và nâng cao
uy tín của doanh nghiệp,…
Thứ hai, đối với người tiêu dùng.
Thương mại điện tử giúp khách hàng vượt qua những giới hạn về
không gian và thời gian, có thể mua được các sản phẩm, dịch vụ ở mọi nơi,
mọi lúc trên toàn cầu. Thông qua các phương tiện công nghệ và Internet,
người tiêu dùng có thể đặt mua hàng trực tuyến thay vì phải đến tận địa

hẹp khoảng cách giữa nước phát triển và các quốc gia đang phát triển.
Thương mại điện tử tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp các dịch
vụ công: giáo dục, y tế, cấp các loại giấy phép qua mạng … được thực hiện
với chi phí thấp hơn, thuận tiện hơn, tạo ra những động lực cải cách mạnh
mẽ cho các cơ quan quản lý nhà nước để theo kịp sự phát triển chung của xã
hội.
Thương mại điện tử và sự phát triển của thương mại điện tử vẫn đang
phải đối mặt với rất nhiều thách thức về độ an toàn, rủi ro, về nhân lực, rào
cản của thương mại truyền thống, … nhưng như đã đề cập ở trên, nó đang
và sẽ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội, mang
lại những ích lợi to lớn cho đời sống và sự phát triển của con người.
1.3.2 Vai trò của pháp luật về thương mại điện tử
Như đã đề cập ở trên, sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của thương
mại điện tử cũng như xuất phát từ vai trò quan trọng của thương mại điện tử
đối với đời sống kinh tế xã hội, đòi hỏi các hoạt động thương mại điện tử

Trích đoạn Văn bản viết, văn bản gốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status