Nâng cao năng lực thẩm mỹ cho sinh viên các trường nghệ thuật trên địa bàn hà nội - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN MAI HƢƠNG

NÂNG CAO NĂNG LỰC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG NGHỆ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ
NỘI
Chuyên ngành

: CNDVBC & CNDVLS

Mã số

: 60. 22. 80

Người hướng dẫn khoa học: PGS- TIẾN SỸ PHẠM DUY ĐỨC

HÀ NỘI - NĂM 2011

1


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Mở đầu Báo cáo phát triển con người thuộc Chương trình phát triển
của Liên Hợp Quốc công bố lần đầu tiên năm 1990 đã viết: “Của cải đích
thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích của sự phát
triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng
cuộc sống dài lâu, mạnh khoẻ và sáng tạo. Chân lý đơn giản nhưng đầy sức

lực hoạt động theo quy luật của cái đẹp.
Đảng ta luôn xác định sự nghiệp đổi mới đất nước là do thế hệ trẻ hiện
nay quyết định, trong đó sinh viên là lực lượng có vai trò quan trọng. Chính vì
vậy, sinh viên Việt Nam, bộ phận trí tuệ và ưu tú trong thanh niên, là nơi kết
tinh nhiều tài năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao, có chuyên sâu
ngày càng được xã hội quan tâm và coi trọng. Đặc biệt, sinh viên các trường
nghệ thuật là những chủ thể hoạt động sáng tạo nghệ thuật tương lai của xã
hội, có một vị trí rất quan trọng trong quá trình xây dựng con người mới của
xã hội.
Sinh viên các trường nghệ thuật là những sinh viên đó được tuyển chọn
trên cơ sở năng khiếu bẩm sinh phù hợp với loại hình nghệ thuật được đào
tạo. Trình độ phát triển năng lực thẩm mỹ của họ phụ thuộc vào hai yếu tố
chính: năng khiếu bẩm sinh và quá trình được giáo dục, rèn luyện trong thực
tiễn. Nâng cao năng lực thẩm mỹ cho sinh viên nghệ thuật chính là làm cho
thế giới tinh thần của họ ngày càng phong phú, làm cho họ có khả năng đánh
giá nhanh, nhạy với cái đẹp. Trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
với việc nâng cao năng lực thẩm mỹ, sinh viên nghệ thuật không chỉ có khả
năng học tập để sáng tạo theo quy luật của cái đẹp trong điều kiện nhu cầu về
cái đẹp ngày càng gia tăng, mà còn có khả năng phản ứng mạnh mẽ trước mọi
biểu hiện của cái xấu, cái lạc hậu, phản tiến bộ.

3


Đứng trước nhu cầu hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, tốc động
chuyển biến của nền kinh tế thị trường; hiện tượng xa rời, phai nhạt lý tưởng
cách mạng, sa sút về phẩm chất đạo đức, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội,
thực dụng có chiều hướng phát triển. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa
được ngăn chặn, đẩy lùi và đang là vấn đề xã hội bức xúc. Điều đáng lo ngại
nhất ở một bộ phận sinh viên có những biểu hiện của lối sống thực dụng, từ

nghệ thuật trở thành những người nghệ sỹ chân chính, đem lại lợi ích cho xã
hội, cho đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
* Trên bình diện tâm lý học:
- Vấn đề năng lực của con người đã được các nhà tâm lý học Liên Xô
như Ph.N.Golobolon, P.A. Ruđích, A.G. Covaliốp và một số nhà tâm lý học
đã xây dựng lý luận khoa học về năng lực.
- Các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc
Bích, Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân có nhiều công trình nghiên cứu về
năng lực của con người.
* Trên bình diện mỹ học
Vấn đề về năng lực thẩm mỹ được nhắc đến trong các thành tựu nghiên
cứu về thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ, và vai trò của giáo dục thẩm mỹ.
+ Các công trình nước ngoài tiêu biểu như sau:
- Các công trình “Nguyên lý Mỹ học Mác-Lênin” của đồng tác giả I. U.
Lukin và V.C.Xcacherơsicốp đã khảo sát bản chất của giáo dục thẩm mỹ, coi
giáo dục thẩm mỹ là một phương diện quan trọng trong việc xây dựng và phát
triển nhân cách con người, khẳng định vai trò to lớn của nghệ thuật đối với
giáo dục thẩm mỹ, nâng cao năng lực thẩm mỹ cho con người.
+ Các công trình nghiên cứu trong nước về giáo dục thẩm mỹ để nâng
cao năng lực thẩm mỹ cho nhân dân rất đa dạng và phong như:

5


- Trong cuốn “Giáo trình mỹ học Mác-Lênin” của PGS Đỗ Văn Khang
và GS Đỗ Huy trình bày một cách hệ thống cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ và
giáo dục thẩm mỹ bằng nghệ thuật.
- Các công trình “Giáo dục thẩm mỹ - Một số vấn đề về lý luận và thực
tiễn của giáo sư Đỗ Huy (1987).

những kết quả nghiên cứu trên gợi mở một hướng nghiên cứu còn đang bỏ
ngỏ là: Nghiên cứu năng lực thẩm mỹ trên bình diện mỹ học với khách thể là
sinh viên các trường nghệ thuật - một chủ thể hoạt động sáng tạo nghệ thuật
tương lai của xã hội.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Nâng cao năng lực thẩm
mỹ của sinh viên các trường nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ khái niệm năng lực thẩm mỹ, đề tài nghiên cứu đặc
điểm của năng lực thẩm mỹ của sinh viên các trường nghệ thuật trong địa bàn
Hà Nội. Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính định hướng nhằm
nâng cao năng lực thẩm mỹ của sinh viên các trường nghệ thuật trên địa bàn
Hà Nội.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống một số vấn đề lý luận về năng lực, năng lực thẩm mỹ.
- Phân tích đặc điểm năng lực thẩm mỹ của sinh viên các trường nghệ
thuật trên địa bàn Hà Nội.
- Trình bày một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thẩm mỹ của sinh
viên các trường nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu

7


Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về năng lực thẩm mỹ nói
chung, những biểu hiện của năng lực thẩm mỹ của sinh viên trong các trường
nghệ thuật trên địa bàn Hà nội.
*Phạm vi nghiên cứu

lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, … tiết:
Chƣơng 1: Năng lực thẩm mỹ của sinh viên các trường nghệ thuật Một số vấn đề lý luận.
Chƣơng 2: Thực trạng năng lực thẩm mỹ sinh viên các trường nghệ
thuật trên địa bàn Hà Nội.
Chƣơng 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng
lực thẩm mỹ của sinh viên các trường nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội.

9


Chƣơng 1
NĂNG LỰC THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN
CÁC TRƢỜNG NGHỆ THUẬT - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm năng lực thẩm mỹ
1.1.1. Định nghĩa năng lực thẩm mỹ
Trong tiến trình lịch sử, năng lực người (lực lượng bản chất người)
không ngừng được đổi mới trên cơ sở hoạt động lao động sáng tạo. Sự phân
công và chuyên môn hóa của lao động đã dẫn đến sự chuyên môn hóa những
năng lực của con người. Mác viết: “Sự phân hóa tài năng tự nhiên ở những cá
nhân không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của sự phân công lao
động”. Năng lực người của các thế hệ trước được kết tinh lại trên các sản
phẩm (vật chất và tinh thần) do họ làm ra. Muốn trở thành người, bằng hoạt
động của mình, thế hệ sau phải lấy lại những năng lực ấy và biến nó thành
năng lực riêng của mỗi người. Như vậy, năng lực của mỗi người bao giờ cũng
gắn liền với sản phẩm của chính hoạt động ấy. Năng lực chỉ được hình thành
và phát triển trong hoạt động. Đến lượt nó, kết quả của hoạt động lại tùy
thuộc vào trình độ phát triển của năng lực được hình thành trong hoạt động
này. Vì thế, khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực về
một hoạt động nào đó (năng lực về hoạt động chính trị - xã hội, năng lực về
hoạt động khoa học - kỹ thuật, năng lực về hoạt động nghệ thuật…). A.G.

khẳng định mình như những lực lượng bản chất người”. Mác coi hoạt động
sản xuất của cải vật chất là dạng hoạt động cơ bản nhất, tạo cơ sở cho các
“hoạt động sản xuất tinh thần”, xem đó như là tiền đề đầu tiên của sự tồn tại
và sáng tạo. Như vậy, “những lực lượng bản chất của con người” trước hết
phải kể đến lao động, cùng với lao động là sự phát triển của tư duy, ngôn ngữ;
thống nhất với quá trình ấy là từng bước hoàn thiện dần của tổ chức thể xác
với dáng đứng thẳng, đôi bàn tay trở nên khéo léo, các giác quan trở nên có
tính người, đặc biệt là tai và mắt ngày càng trở nên tinh tế trong việc cảm
nhận cái đẹp.

11


Tính sáng tạo là một đặc điểm nổi bật của hoạt động thẩm mỹ. Sáng tạo
thẩm mỹ là một hoạt động tinh thần thể hiện rõ nét sự tinh tế, đa dạng, phong
phú, độc đáo, đầy cá tính của năng lực thẩm mỹ của mỗi cá nhân. Nó đòi hỏi
sự phát huy tới mức cao độ những phẩm chất của tư duy như khả năng tưởng
tượng, khái quát hóa, trừu tượng hóa, khả năng liên tưởng, so sánh, tư duy
hình tượng v.v... nhằm xây dựng thế giới các biểu tượng vừa phản ánh được
đúng đắn, chân thực thực tại, vừa đạt tới hình thái lý tưởng, hoàn thiện, hoàn
mỹ trong xu hướng vươn tới của hiện thực, giúp định hướng cho mọi hoạt
động thực tiễn của con người. Sáng tạo thẩm mỹ đòi hỏi ở con người với tư
cách chủ thể thẩm mỹ không chỉ những năng khiếu bẩm sinh thuộc tư chất cá
nhân mà cả một quá trình không ngừng học tập, trau dồi tri thức, khả năng
nghề nghiệp một cách thực sự nghiêm túc và với niềm say mê vô hạn với
công việc trong phạm vi hoạt động thực tiễn của mình. Hoạt động thẩm mỹ,
do vậy, chính là dạng hoạt động mang tính tự do. Tham gia vào lĩnh vực hoạt
động này, con người không còn bị ràng buộc bởi những nhu cầu vật chất trực
tiếp, không còn bị “giới hạn” trong những hạn chế của điều kiện, hoàn cảnh
khách quan mà hoàn toàn do sự thôi thúc bởi khát khao sáng tạo và mục tiêu

những phẩm chất đặc biệt về thể chất và tinh thần mà con người có được
trong suốt quá trình hình thành, phát triển nhân cách, giúp con người tự khẳng
định mình với tư cách là chủ thể thẩm mỹ có khả năng cảm thụ, đánh giá,
sáng tạo các giá trị thẩm mỹ trong đời sống thực tại. Năng lực thẩm mỹ biểu
hiện trước hết ở trình độ phát triển của ý thức thẩm mỹ. Đồng thời, năng lực
thẩm mỹ về cơ bản là một năng lực thực tiễn chỉ có ở con người đã phát triển.
Theo Mác, nhân loại đã phải tiến một bước dài để thực hiện sự cải biến mình
từ tư cách chủ thể người thành chủ thể thẩm mỹ. Chỉ khi có sự xuất hiện “khả
năng về sự hưởng thụ có tính chất người” và sự khẳng định mình như những
“lực lượng bản chất người”, thì khi đó con người mới xuất hiện và tự biểu
hiện mình với tư cách chủ thể thẩm mỹ. Nhờ năng lực thẩm mỹ phát triển,
con người mới có khả năng thực hiện các hoạt động sản xuất vật chất và tinh
thần đạt tới tính sáng tạo cao nhất, để con người có thể “đối diện một cách tự

13


do với sản phẩm của mình” (tức thế giới các giá trị do chính mình tạo ra) với
tư cách chủ thể sáng tạo. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu và khát vọng của
con người vươn tới cái đẹp ngày càng tăng, năng lực khám phá, thưởng thức,
sáng tạo cái đẹp trong mọi lĩnh vực của cuộc sống ngày càng phát triển. Do
đó, trình độ của năng lực thẩm mỹ ngày càng trở thành một trong những
thước đo quan trọng để đánh giá về chất lượng cuộc sống, về mục tiêu và mức
độ vươn tới sự hài hòa, hoàn thiện của cá nhân và xã hội. Mác đã chỉ rõ:
Súc vật chỉ tái sản xuất ra bản thân mình, còn con người thì tái
sản xuất ra toàn bộ tự nhiên; sản phẩm của súc vật trực tiếp gắn với cơ
thể vật chất của nó, còn con người thì đối lập một cách tự do với sản
phẩm của mình. Súc vật chỉ biết nhào nặn vật chất theo thước đo và
nhu cầu giống loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo thước
đo của bất cứ giống nào và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích

mới được sản sinh ra: lỗ tai thính âm nhạc, con mắt cảm thấy cái đẹp
của hình thức [62, tr.56].
Năng lực thẩm mỹ về cơ bản là một năng lực thực tiễn. So với các năng
lực khác của con người thì sự hình thành, phát triển năng lực thẩm mỹ đòi hỏi
một quá trình giáo dục, rèn luyện công phu, nghiêm ngặt hơn nhiều. Trình độ
phát triển của năng lực lực thẩm mỹ ở mỗi người phụ thuộc vào hai yếu tố
chính: năng khiếu bẩm sinh và quá trình được giáo dục, rèn luyện trong thực
tiễn. Năng lực thẩm mỹ là năng lực được hình thành ở con người đã phát
triển, tuy có yếu tố bẩm sinh nhưng điều kiện quyết định nhất cho sự hình
thành và phát triển của nó là hoạt động thực tiễn.
Mỗi con người có thể tích hợp trong mình nhiều năng lực tiềm ẩn,
nhưng dạng năng lực tiểm ẩn đó có được bộc lộ ra hay không, điều đó còn tùy
thuộc vào hàng loạt những điều kiện chủ quan và khách quan. Đối với nhiều
người có tài năng đặc biệt, năng lực của họ đạt đến mức kỳ diệu, khiến họ đạt
tới đỉnh cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong tác phẩm Văn hóa thẩm mỹ và
nhân cách, Lương Quỳnh Khuê định nghĩa:

15


Năng lực thẩm mỹ là một tập hợp các thuộc tính tâm, sinh lý
cùng với những phẩm chất đặc biệt về thể chất và tinh thần giúp cho cá
nhân có khả năng cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị
thẩm mỹ trong cuộc sống [50, tr.14].
Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng những khả năng thẩm mỹ ở
dạng năng khiếu ban đầu như vậy nếu không xã hội hóa liên tục thì không đủ
sức cải tạo các quan hệ thực tiễn. Những khả năng ấy chủ yếu gắn liền với các
hoạt động sống ở những thời kỳ còn rất nhỏ tuổi và chưa tham gia nhiều vào
các hoạt động thẩm mỹ. Về cơ bản, năng lực thẩm mỹ không phải là năng lực
bẩm sinh mà nó được xây trên và được biểu hiện qua thực tiễn, có nghĩa là

thẩm mỹ tượng trưng cho lẽ sống, điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi chủ
thể thẩm mỹ. Theo tác giả Đỗ Huy:
Nhu cầu thẩm mỹ là trạng thái cần thiết đòi hỏi thỏa mãn các thiếu hụt
về mặt thẩm mỹ mà trung tâm là thỏa mãn về cái đẹp [39, tr.245].
Với định nghĩa này tác giả đã làm rõ nội dung của khái niệm nhu cầu
thẩm mỹ đó là trạng thái thiếu hụt về mặt thẩm mỹ, đòi hỏi được thỏa mãn
những thiếu hụt về mặt thẩm mỹ, đặc biệt là sự thiếu hụt về cái đẹp trong đời
sống tinh thần của con người.
Cảm thụ và sáng tạo cái đẹp là nhu cầu tinh thần - cảm tính đặc biệt của
con người. Loại nhu cầu này chỉ xuất hiện khi loài người đạt tới một trình độ
phát triển nhất định. Chiều hướng phát triển của hoạt động thẩm mỹ và toàn
bộ năng lực thẩm mỹ, trước hết phụ thuộc vào nhu cầu thẩm mỹ.
Người ta thường chia khát vọng về cái đẹp của con người thành hai
loại: các nhu cầu chính và nhu cầu giả tạo, xa xỉ. Những nhu cầu chính đáng
thường được biểu hiện ở các chủ thể có ý thức đúng, có tình cảm mạnh, có
thái độ tốt. Còn những nhu cầu giả tạo thường có ở những chủ thể ít rèn luyện
trong thực tế, xa lao động, nhiều ảo tưởng, lười biếng và ích kỷ. Càng khát
khao vươn tới cái đẹp, con người càng rời xa khỏi điểm xuất phát của những
nhu cầu thực dụng thô thiển và trực tiếp, những đòi hỏi bản năng. Cả hai loại

17


nhu cầu này đều tham gia hình thành năng lực thẩm mỹ của chủ thể và đều có
khả năng tồn tại trong một chủ thể thẩm mỹ. Vấn đề chính là ở mối liên hệ
của chủ thể ấy với thực tiễn cuộc sống như thế nào để phát triển những nhu
cầu lành mạnh, tạo một sức sống, một sắc thái cho năng lực thẩm mỹ.
Trong quá trình tìm kiếm sự thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của mình, con
người vừa tìm cách tiếp xúc, hòa nhập với cái chung, cái phổ biến mang tính
nhân loại, lại vừa tách mình ra để nhận thức, tự khẳng định cá tính độc đáo

xã hội.
Mối quan hệ giữa nhu cầu thẩm mỹ, trình độ thẩm mỹ, năng lực thẩm
mỹ ở cá nhân đối với xã hội được biểu hiện ở chỗ xã hội là điều kiện để nhu
cầu phát triển và khi những nhu cầu tốt đẹp ra đời càng chứng minh, càng
thúc đẩy tính ưu việt của xã hội. Vì thế, để phát triển các năng lực thẩm mỹ cả
cá nhân và xã hội đều có trách nhiệm.
Có thể nói nhu cầu thẩm mỹ của con người như thế nào thì năng lực
thẩm mỹ của con người như thế ấy. Vì thế việc phấn đấu lành mạnh hóa nhu
cầu cũng là phấn đấu nâng cao năng lực thẩm mỹ ở chủ thể con người.
1.1.2.2. Tình cảm thẩm mỹ
Những tình cảm thẩm mỹ và nhu cầu thẩm mỹ gắn bó hữu cơ với nhau.
Sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ đã làm nảy sinh tình cảm
thẩm mỹ ở con người. Đó là loại tình cảm đặc thù xuất hiện trong quá trình
cảm thụ và sáng tạo các hiện tượng thẩm mỹ trong cuộc sống cũng như trong
tác phẩm nghệ thuật. Là hình ảnh chủ quan về hiện thực khách quan, tình cảm
thẩm mỹ chỉ hình thành khi con người tiếp xúc, tri giác các khách thể đặc biệt
- các tác phẩm nghệ thuật, sản phẩm đẹp của lao động, vẻ đẹp của tự nhiên.
Những tình cảm đó kích thích tích cực về mặt xã hội của con người, điều tiết
hành vi của họ và tác động đến sự hình thành những lý tưởng chính trị - xã
hội, thẩm mỹ, đạo đức của cá nhân M.F.Ốpxiannhicốp viết:
Tình yêu đối với cái đẹp là tình yêu cuộc sống, sự sáng tạo, việc
đấu tranh vì những lý tưởng cao cả. Tình yêu đối với cái đẹp chắp cánh

19


cho con người, làm cho cuộc sống của họ trở nên có hồn, làm nó đầy ý
nghĩa và nội dung sâu sắc. Trong cái đẹp thể hiện khát vọng vươn tới
hạnh phúc, tự do, điều thiện, sự thông tuệ, sự lớn lao về đạo đức. Người
nào có khả năng hiểu và đánh giá đúng cái đẹp, sẽ trở thành phong phú

ta. Trong quá trình tiến hoá của nhân loại, con người đã từng bước biến năm
giác quan bản năng thành giác quan của con người rồi tiếp tục biến các giác
quan đó có khả năng tiếp nhận nghệ thuật. Nghệ thuật đi qua hai cửa ngõ tâm
hồn, hai giác quan phong phú nhất là: thị giác và thính giác. Đó là hai giác
quan thẩm mỹ cao cấp của con người. Cảm xúc thẩm mỹ là khâu đầu tiên có
vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thẩm mỹ. Tsecnưxepxki đã nói về vấn
đề này như sau:
Gây được cảm xúc vui thú trong sáng, một cảm xúc say sưa hình
như là vô tư, được mệnh danh là cảm xúc đặc biệt của sự thưởng thức
nghệ thuật thì trong điều kiện đó, sự hiểu biết nghệ thuật và sự sáng tạo
nghệ thuật mới có thể trở thành một hoạt động thẩm mỹ được. Giá trị
thẩm mỹ của đối tượng được đánh giá qua hai mức độ cảm xúc mà nó
gây được ở chủ thể thẩm mỹ. Không có cảm xúc, quan hệ con người và
thế giới chỉ là quan hệ nhận thức lạnh lùng khô cứng. Cảm xúc thẩm
mỹ được nảy sinh trên cơ sở tính tập trung, tính cường độ và tính thẩm
mỹ luôn gắn với sự rung động bên trong của con người, đem lại sự
thích thú thưởng ngoạn của con người [79, tr.120].
Những xúc động thẩm mỹ vốn là những xúc động thường đến đột ngột.
Ta vui tươi sảng khoái trước những hiện tượng đẹp nào đó thường là phản ứng
tức thời. Cũng như thế nếu ta cười nhạo những thói xấu đứng trên tư thế của kẻ
mạnh thì tiếng cười ấy cũng hồn nhiên mau lẹ. Một cảnh đẹp của thiên nhiên
như hoa nở rực ngày xuân, biển thanh bình, mênh mông vô tân, núi mùa thu in
đáy nước đã gây cho ta niềm xúc động, tạo cho ta trạng thái tâm lý thoải mái
ngay từ những quan sát đầu tiên chưa kịp suy nghĩ, chưa tính toán cá nhân,
chưa theo đuổi mục đích. Nhiều người lầm tưởng cảm giác đột nhiên này là vô
mục đích và vô tư. Sự thực thì sự hân hoan nhanh nhạy với các cảnh vật là do

21





hiếu thẩm mỹ thì không có cuộc sống đẹp, vì vậy thị hiếu thẩm mỹ được coi
là một phần của tiềm năng sáng tạo của con người và cũng là thước đo của
một phẩm cách văn hoá.
Thị hiếu là một khái niệm bao hàm những nội dung trong cuộc sống rất
đa dạng. Thị hiếu hiểu theo đúng nghĩa của từ này là là khả năng lựa chọn phổ
biến của con người, là sở thích trong mọi lĩnh vực của cá nhân và tập thể. Thị
hiếu, nói chung là sở thích. Sở thích đó rất phong phú bao trùm trong toàn bộ
lãnh vực đời sống, đạo đức, tâm hồn và nghệ thuật. Sở thích này gần như là
thói quen của từng người trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. Thị hiếu
là sự nhạy cảm về cái đẹp, là khả năng nhận biết và phản ứng tức thời của chủ
thể trong việc đánh giá tiếp nhận và sáng tạo thẩm mỹ. Thị hiếu bộc lộ thành
thái độ, hành vi trong ứng xử hàng ngày của chủ thể, đó là cách đánh giá đối
với các hiện tượng thẩm mỹ. Thị hiếu thẩm mỹ là sở thích của con người về
phương diện thẩm mỹ. Đó là thái độ tình cảm của con người trước cái đẹp, cái
xấu, cái bi, cái hài, cái trác tuyệt trong cuộc sống và nghệ thuật. Vì vậy, thị
hiếu thẩm mỹ còn được coi là một năng lực đánh giá thẩm mỹ cá nhân của
con người. Tính chất cá nhân còn thể hiện đặc biệt rõ trong sự khác biệt về
năng lực cảm thụ, chiếm lĩnh các giá trị thẩm mỹ của đối tượng. Trước cùng
một đối tượng, nhưng chủ thể này có khả năng bao quát nhanh nhạy, chính
xác các giá trị, nhờ vậy có thế bộc lộ thái độ cảm xúc một cách mau lẹ, đúng
đắn, còn chủ thể khác thì ngược lại. Hoặc cũng là đối tượng ấy, có chủ thể
chiếm lĩnh được các giá trị thẩm mỹ ở mức trọn vẹn, sâu sắc, đạt đến tầng sâu
triết - mỹ của nó, nhưng chủ thể khác lại mới chỉ dừng ở mức cảm xúc được
cái vẻ bề ngoài của đối tượng, thậm chí có chủ thể còn cảm nhận sai lạc, méo
mó các giá trị đích thực vốn có. Nguyên nhân của sự khác biệt về mức độ
chiếm lĩnh các giá trị thẩm mỹ của đối tượng giữa chủ thể này so với chủ thế
khác là do chỗ, năng lực, trình độ, hay "khiếu" thẩm mỹ của họ phát triển
không như nhau. Thường thì chủ thể cảm thụ nào có "khiếu” thẩm mỹ tốt, tức

Sự phản ứng mau lẹ gần như là bản năng của chủ thể thẩm mỹ trước
các hiện tượng đẹp, xấu, bi,hài chính là đặc trưng đầu tiên của thị hiếu thẩm

24


mỹ. Do tình cảm thẩm mỹ tinh luyện, những kinh nghiệm, tích luỹ những giá
trị thẩm mỹ mà tạo thành mức ổn định của tình cảm. Tính ổn định này được
hình thành từ hàng ngàn mối quan hệ hình thành trong cuộc sống của chủ thể.
Do những mối quan hệ tốt, do được huấn luyện kiên trì, các kinh nghiệm
thẩm mỹ trở thành giá trị thẩm mỹ mà từ đó chi phối sự đánh giá tức thời của
chủ thể. Sự ổn định của tình cảm thẩm mỹ có thể tạo cho chủ thể phản ứng
mau lẹ, phán đoán đúng và cũng có thể phán đoán không đúng trước đối
tượng. Vì thế các kinh nghiệm thẩm mỹ phong phú và sâu sắc càng được tích
luỹ một cách đúng đắn bao nhiêu thì thị hiếu càng phản ứng mau lẹ và càng
đúng bấy nhiêu. Có người nhận thấy, phát hiện và xúc cảm ngay tức khắc
trước những hiện tượng thẩm mỹ mới và lành mạnh xuất hiện trong đời sống.
Ngược lại có người không thể phát hiện và không nhận thấy cái mới ấy ra đời
có hợp quy luật không hoặc có lành mạnh không. Sở dĩ có hiện tượng ấy vì sự
ổn định, tích luỹ các kinh nghiệm thẩm mỹ của các cá nhân này rất nghèo nàn
và thiếu sâu sắc.
Nét độc đáo của thị hiếu thẩm mỹ là ở chỗ nó bao chứa trong mình sự
thống nhất của mặt tình cảm thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ. Một mặt, thị hiếu
thẩm mỹ biểu thị khả năng đánh giá giá trị thẩm mỹ ở đối tượng, mặt khác nó
bộc lộ nhân tố chủ quan, sự độc đáo cá thể của họ.
Thực ra, thị hiếu thẩm mỹ là sự thống nhất hài hòa giữa tình cảm và lý
trí. Điều đó khiến cho nó vừa mang bản chất xã hội lại vừa in đậm dấu ấn cá
nhân. Yếu tố lý trí trong thị hiếu do lý tưởng thẩm mỹ quy định. Một thị hiếu
thẩm mỹ phát triển ở một mức độ nhất định bao giờ cũng thấm nhuần một lý
tưởng thẩm mỹ cụ thể. Lý tưởng thẩm mỹ còn đóng vai trò tiêu chuẩn trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status