Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và cá nhân đến hành vi lựa chọn trung tâm học tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ thuật trên địa bàn hà nội - Pdf 37

MỤC LỤC

GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


DANH MỤC BẢNG BIỂU

GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
1.1. Bối cảnh nghiên cứu
Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, ngày càng nhiều các tập đoàn lớn, công ty
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để mở rộng thị trường. Trước những cơ hội đó,
tiếng Anh trở thành một công cụ đắc lực để người lao động khẳng định năng lực của
mình. Thực tế cho thấy giới trẻ đang có nhiều cơ hội tại các môi trường quốc tế bởi
khả năng nắm bắt nhanh và tư duy nhạy bén, tuy nhiên hơn nửa sinh viên ra trường
vẫn bơi trước dòng biển tìm việc mà không thể chớp lấy cơ hội bởi năng lực tiếng
Anh còn hạn chế dù được học bài bản ngoại ngữ từ trên ghế nhà trường.
Theo khảo sát của Vụ Giáo dục Đại học về việc sinh viên sau khi ra trường
đáp ứng yêu cầu kỹ năng tiếng Anh, có khoảng 49,3% sinh viên đáp ứng được yêu
cầu của người sử dụng, 18,9% sinh viên không đáp ứng được và 31,8% sinh viên
cần đào tạo thêm. Điều này cho thấy hơn nửa số sinh viên sau khi ra trường không
đáp ứng đủ yêu cầu về kỹ năng tiếng Anh. Đây là một thực trạng đáng lo ngại khi

Lý do chọn đề tài

Khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong mọi cơ
chế nói chung cũng như cơ chế thị trường nói riêng, do đó người làm Marketing
phải nghiên cứu kỹ những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định mua của
khách hàng như: văn hoá, xã hội, cá nhân, tâm lý. Đặc biệt là yếu tố tâm lý và yếu
tố cá nhân đóng góp rất nhiều vào quyết định mua hàng nên người làm Marketing
phải hiểu được ảnh hưởng của chúng tới quyết định mua của khách hàng để có thể
có được chiến lược kinh doanh phù hợp hay mở rộng được quy mô thị trường giúp
cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường
Quay trở lại với câu chuyện của những trung tâm tiếng Anh với sinh viên.
Giữa “ma trận” các trung tâm/lớp học mở ra ngày càng nhiều, bắt buộc các bạn sinh
viên phải có những tiêu chuẩn, lực chọn thông minh để tìm được địa chỉ tin tưởng,
phù hợp với yêu cầu và năng lực bản thân. Trước bối cảnh như trên, đứng trên nhìn
nhận của trung tâm tiếng Anh, một nhà cung cấp dịch vụ giáo dục, họ cần biết được
những yêu cầu, mối quan tâm của khách hàng của mình là gì để thu hút, đáp ứng
khách hàng và cạnh tranh trên thị trường, bởi hiểu khách hàng là lá bài tiên quyết sự
thành bại trong kinh doanh nói chung và hoạt động marketing nói riêng.
Sinh viên kĩ thuật với những đặc điểm và yêu cầu khác biệt, liệu những tiêu
chí, mối quan tâm và yếu tố tâm lý, cá nhân của họ có khác với đối tượng quen
thuộc hơn với các trung tâm tiếng Anh, sinh viên khối ngành kinh tế không? Mức
độ như thế nào? Để trả lời những câu hỏi đó và đưa ra được một bức tranh tổng quát
về ảnh hưởng của tâm lý, cá nhân đến hành vi lựa chọn trung tâm tiếng Anh của
sinh viên ngành kĩ thuật, tôi đề xuất đề tài “Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và cá
nhân đến hành vi lựa chọn trung tâm học tiếng Anh của sinh viên khối ngành kĩ
thuật trên địa bàn Hà Nội” để thực hiện nghiên cứu cho Chuyên đề Thực tập –
Quản trị Marketing lần này. Kết quả của cuộc nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo
cho các tổ chức, trung tâm anh ngữ đưa ra những điều chỉnh chính sách đào tạo,
marketing và chăm sóc phù hợp nhất cho khách hàng, học viên của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và cá
nhân đến hành vi lựa chọn trung tâm học tiếng Anh của sinh viên khối ngành
kĩ thuật.
- Khách thể nghiên cứu: sinh viên các trường chuyên đào tạo về kĩ thuật trên
địa bàn Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: đề tài được nghiên cứu tập trung theo hai hướng địa lý
và nhân khẩu học:
+ Địa lý: nghiên cứu tập trung tại những trường đại học chuyên đào tạo về
kĩ thuật, tập trung nhiều tại các quận Hai Bà Trưng, Đống Đa, Cầu Giấy.
+ Nhân khẩu: nghiên cứu khảo sát trải rộng từ sinh viên năm nhất đến năm
cuối.
- Phạm vi thời gian: đề tài được nghiên cứu trong tháng 4 năm 2016.
5. Cấu trúc đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP
Phụ lục (Bảng câu hỏi, kết quả xử lý dữ liệu…)
Tài liệu tham khảo

GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


6






Nhu cầu sinh lý
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu tự thể hiện bản thân

Với lý thuyết này, Maslow đã giúp cho người làm Marketing có thể hiệu được
các sản phẩm khác nhau phù hợp như thế nào đối với ý đồ, mục đích tiêu dùng. Có
nghĩa là ta không thể mang những sản phẩm xa xỉ đến những vùng xa xôi hẻo lánh
để bán khi mà ở đó người dân vẫn chưa đủ cơm để ăn , áo để mặc. Mặt khác ta còng
GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


7

không thể mang những sản phẩm may mặc tồn khi lỗi mốt đến những thành thị có
mức sống cao và tiêu dùng đòi hỏi cao hơn. Nghiên cứu về thứ bậc nhu cầu của
Maslow sẽ giúp cho người làm Marketing hoạch định chiến lược sản phẩm phù hợp
với từng đoạn thị trường mục tiêu.
 Yếu tố nhận thức
Nhận thức: là tập hợp những thông tin được thu nhập, xử lý và lưu trữ trong
bộ nhớ. Lượng thông tin càng nhiều, được tổ chức càng hợp lý, khách hàng cnagf
có khả năng đưa ra các quyết định đúng đắn, khi đó, trình độ nhận thức của khách
hàng càng cao (và ngược lại). Những thông tin mà khách hàng sử dụng trên thị

không kèm theo cảm xúc.
Thái độ cho thấy sự đánh giá, cảm nghĩ, khuynh hướng nhất quán tương đối
của con người đối với một khách thể hay một ý kiến nào đó. Thái độ đặt con người
vào khuôn khổ suy nghĩ về những thứ họ thích hoặc không thích, lại gần hay tránh
xa chúng ra.
1.1.2. Ảnh hưởng của yếu tố tâm lý đến hành vi lựa chọn sản phẩm của khách hàng
Tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng có thể được mô hình hóa thành
năm giai đoạn: Ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án,
quyết định mua và hành vi sau khi mua. Như vậy, tiến trình quyết định mua của
người tiêu dùng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau
khi mua.
Ý thức về

Tìm kiếm

Đánh giá các

Quyết định

Hành vi sau

nhu cầu

thông tin

phương án

mua

khi mua



9

mua sắm của họ. Cả bốn yếu tố : Động cơ, nhận thức, tri thức, niềm tin và thái độ
đều có ảnh hưởng nhất định đến quyết định mua sắm. Người ta không thể mua thứ
gì mà họ không có động cơ thúc đẩy. Niềm thôi thúc càng mạnh thì việc mua sẽ
được quyết định nhanh hơn để có thể làm giảm bớt trạng thái căng thẳng về tâm lý.
Việc mua chính là hành động bị thội thúc chính là bởi động cơ.
Nếu yếu tố đông cơ tác động trực tiếp vào quyết định mua theo chiều hướng
nhanh hơn thì yếu tố nhận thức lại có ý nghĩa về mặt tích cực khi người ta hiểu
được việc mua và từ vấn đề nhận thức được của việc cần thiết thoả mãn nhu cầu mà
người ta đưa ra quyết định mua. Khi đã lĩnh hội được tri thức từ việc tiêu dùng sản
phẩm của nhãn hiệu nào đó thì quyết định mua sản phẩm khách của nhãn hiệu đó sẽ
diễn ra nhanh khi người ta hài lòng và tin tưởng vào sản phẩm đã tiêu dùng.
Nhưng việc ra quyết định mua lại chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi yếu tố niềm
tin và thái độ. Khi mua người tiêu dùng sẽ phải giải thích được tại sao mua sản
phẩm của nhãn hiệu này mà không phải của nhãn hiệu khác. Vì người ta sẽ phải
cảm thấy không hối hận sau quyết định mua của mình. Ở đây chỉ có niềm tin của
khách hàng về sản phẩm mới có thể giúp họ ra quyết định một cách nhanh chóng
được bởi vì họ sẽ tin tưởng rằng mình sẽ thoả mãn được điều gì khi tiêu dùng sản
phẩm đó. Khách hàng càng có niềm tin cao lớn thì càng sớm quyết định mua hơn .
Việc người ta thích hay không thích sản phẩm nhãn hiệu cũng tạo nên một ảnh
hưởng lớn do việc ra quyết định mua. Sẽ là mua ngay sản phẩm nếu như thái độ của
khách hàng là cảm thấy thích sản phẩm, nhưng không thích hay bằng quan thì việc
ra quyết định có thể chậm hơn hoặc không thành.
Điều này lý giải bởi tại sao những thanh niên vào hàng nước có thể gọi ngay
nước uống Pepsi vì anh ta tin rằng mình có thể thành đạt được như thần tượng
David Beckham.
Việc ra quyết định mua của khách hàng không đồng nghĩa với việc sản phẩm

thiết bị trò chơi hai người thì thị trường mục tiêu của họ sẽ là những người trẻ tuổi
độc thân. Những doanh nghiệp kinh doanh ôtô, tủ lạnh, bếp, đồ gỗ cần thiết và bền,
đi nghỉ… thì thị trượng mục tiêu là các cặp vợ chồng mới cưới chưa có con…
 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến việc mua sắm và tiêu dùng
hàng hóa và dịch vụ. Một người công nhân sẽ mua những quần áo và giày dép lao
động, hộp thức ăn trưa và tìm cách ngủ một giấc lấy sức vào giờ nghỉ trưa. Chủ tịch
của một công ty thì mua những quần áo đắt tiền, du lịch bằng máy bay và làm hội
viên câu lạc bộ quần vợt.
Những người làm marketing cố gắng định dạng những nhóm nghề nghiệp có
nhiều quan tâm đến các sản phẩm và dịch vụ của mình. Một doanh nghiệp thậm chí
có thể chuyên hóa vào việc sản xuất các sản phẩm mà một nhóm nghề nghiệp đặc
thù nào đó cần đến.
 Hoàn cảnh kinh tế
Hoàn cảnh kinh tế của một người sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn sản
phẩm của người đó. Hoàn cảnh kinh tế của một người bao gồm số thu nhập dành
cho tiêu dùng (mức độ, tính ổn định và kết cấu thời gian của số thu nhập đó), số tiền
gửi tiết kiệm và tài sản, kể cả khả năng vay mượn và thái độ đối với việc chi tiêu và
GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


11

tiết kiệm.
Những người làm marketing đối với những nhóm sản phẩm thuộc loại nhạy
cảm với thu nhập (income - sensitive goods) cần thường xuyên chú ý đến các xu
hướng thay đổi của thu nhập cá nhân, tiết kiệm và lãi suất. Nếu các chỉ số kinh tế
cho thấy đang có sự suy thoái, những người làm marketing có thể áp dụng những


SVTT: Trương Thị Hiền


12

tiêu dùng, vì nó có thể phân loại các kiểu nhân cách và có mối tương quan chặt chẽ
giữa các kiểu nhân cách nhất định với cách lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu của
người tiêu dùng.
Một khái niệm khác gắn liền với khái niệm nhân cách là “sự ý niệm về bản
thân” hay hình ảnh về cá nhân theo cách quan niệm của chính người đó. Đây là một
khái niệm khá phức tạp, cần được hiểu trong mối quan hệ giữa một người với
những người khác. Ý niệm thực tế về bản thân (một người nghĩ về mình như thế
nào) có thể khác ý niệm lý tưởng về bản thân (một người muốn nghĩ về mình như
thế nào) và cũng có thể khác ý niệm về bản thân ở người khác (điều mà người đó
nghĩ người khác ý niệm về mình như thế nào). Điều quan trọng là người làm
marketing phải hiểu được khách hàng của mình muốn thỏa mãn ý niệm bản thân
nào khi chọn mua một sản phẩm hay nhãn hiệu cụ thể.
1.2.2. Ảnh hưởng của yếu tố cá nhân đến hành vi lựa chọn sản phẩm của khách
hàng
Ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân làm cho mỗi khách hàng có cách quyết
định, lựa chọn sản phẩm khác nhau; cách thức mua cũng khách nhau. Nếu tuổi và
giai đoạn của chu kì sống ảnh hưởng đến việc người ta chọn mua, có xu hướng mua
loại sản phẩm gì thì yếu tố nghề nghiệp và hoàn cảnh kinh tế chi phối việc họ chọn
mua sản phẩm ở định vị nào, khoảng giá là bao nhiêu.
Hành vi lựa chọn sản phẩm của khách hàng ngoài việc họ lựa chọn sản phẩm
gì với mức giá bao nhiêu, mà với mỗi cá nhân hành vi lựa chọn còn được đặc trưng
bởi cách họ mua như thế nào, thời gian ra quyết định mua,…Và các yếu tố phong
cách sống, nhân cách (ý niệm về bản thân) ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đó.
Tác động của yếu tố cá nhân đến hành vi lựa chọn sản phẩm của khách hàng là


Nhân cách và ý
niệm bản thân

Động cơ
Nhận thức
Lĩnh hội
Niềm tin
và thái độ

Hành vi lựa chọn học tại trung tâm
tiếng anh

Sinh viên khối ngành kĩ thuật
Các yếu tố tâm lý
Sơ đồ 1.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Yếu tố nghề nghiệp thuộc các yếu tố cá nhân, tuy nhiên do tính chất đề tài nghiên
cứu tập trung đối tượng là sinh viên khối ngành kĩ thuật do đó biến nghề nghiệp không
nghiên cứu độc lập mà kết hợp xuyên suốt đề tài với các biến khác trong cả 2 loại yếu
tố cá nhân và tâm lý.
1.3.2. Các giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết H1: Yếu tố tâm lý có tác động tích cực tới hành vi lựa chọn học
tại trung tâm tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ thuật.
Trong đó:
+ Đối với sản phẩm là các khóa học tại các trung tâm tiếng anh, động cơ
của người theo học là nhu cầu từ tổng quát đến nhu cầu cụ thể về việc học tại
các trung tâm và mức độ quan trọng, cấp thiết của các yếu tố thuộc động cơ
lý trí và động cơ tình cảm. Yếu tố động cơ sẽ làm tăng hay giảm sự thúc đẩy
GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến


Giả thuyết H1.4: niềm tin và thái độ có tác động tích cực tới hành vi lựa chọn
học tại trung tâm tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ thuật.
Giả thuyết H2: Yếu tố cá nhân có tác động tích cực tới hành vi lựa chọn học
tại trung tâm tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ thuật.
Trong đó:
+ Tuổi & giai đoạn sống của người dùng với đề tài nghiên cứu “Ảnh
hưởng của các yếu tố tâm lý và cá nhân đến hành vi lựa chọn học tại trung
tâm tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ thuật” được cụ thể hóa là sinh viên
năm thứ mấy trong quá trình học tại các trường đại học. Và việc là sinh viên
năm nào sẽ tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hành vi lựa chọn học tại
trung tâm.
Giả thuyết H2.1: tuổi và giai đoạn sống có tác động tích cực tới hành vi lựa
chọn học tại trung tâm tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ thuật.
+ Nhân cách và ý niệm về bản thân đối với đối tượng cụ thể của đề tài
nghiên cứu là cách nhìn nhận về cách tiếp nhận thông tin của chính bản thân
mình. Điều này có ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi tiếp sau đó của
sinh viên khối ngành kĩ thuật đối với việc lựa chọn học tại trung tâm tiếng

GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


15

anh.
Giả thuyết H2.2: nhân cách và ý niệm về bản thân có tác động tích cực tới
hành vi lựa chọn học tại trung tâm tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ
thuật.
+ Hoàn cảnh kinh tế có tác động đến các bạn sinh viên kĩ thuật từ nhu cầu

2.2. Thiết kế bảng hỏi nghiên cứu
Quy trình xây dựng bảng hỏi
-

Xác định các khái niệm lý thuyết của các biến và cách đo lường các biến
trong mô hình hình lý thuyết.
- Thiết kế bảng hỏi và chỉnh sửa.
- Bảng hỏi được đưa cho 10 đối tượng là sinh viên trường Đại học Xây dựng
và giảng viên hướng dẫn để có những đánh giá, nhận xét đảm bảo bảng hỏi
đáp ứng đúng mục tiêu nghiên cứu, không có sự sai sót, hiểu nhầm về nội
dung.
- Hoàn chỉnh phiên bản chính thức: Nội dung bảng hỏi gồm 2 phần chính:
(Nội dung cụ thể của bảng hỏi được trình bày ở phụ lục của chuyên đề).
• Phần thông tin thống kê: Phần này người được hỏi sẽ cung cấp các thông tin
cá nhân để giúp cho việc thống kế, mô tả và giải thích rõ thêm những thông
tin chính cần thiết và đánh giá đo lường.
• Phần nội dung chính: Bao gồm các câu hỏi, câu phát biểu được thiết kế theo
mô hình nghiên cứu. Người trả lời sẽ khoanh tròn vào ý kiến mà họ cho là
đúng với các mức độ phù hợp phát biểu về ý kiến đó.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Phương pháp này dựa trên nguồn thông tin thu thập từ các trang mạng, chủ
yếu là từ các bài báo, các báo cáo, các thống kê có nội dung liên quan đến cuộc
nghiên cứu chủ yếu được tìm kiếm thông qua mạng internet.
2.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi. Người nghiên cứu
tiến hành khảo sát các đối tượng theo các khu vực đã định sẵn.
- Các thông tin sơ cấp cần thu thập:
+ Thông tin phản ánh nhận thức và thái độ của người được phỏng vấn đối
với các trung tâm tiếng Anh trên địa bàn Hà Nội.

Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để tổng hợp, phân tích số liệu thu thập.
Sử dụng Excel 2010 để vẽ các biểu đồ.
Mô tả mẫu nghiên cứu
Phương pháp lập mẫu
Tổng thể mục tiêu:
Với vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và cá nhân đến hành
vi lựa chọn học tại trung tâm tiếng anh của sinh viên khối ngành kĩ thuật thì
tổng thể mục tiêu sẽ là những sinh viên hiện đang theo học tại các trường đào
tạo về kĩ thuật trên địa bàn Hà Nội.
Khung lấy mẫu:
Do điều kiện hạn hẹp về nhân lực và tài chính nên trong cuộc nghiên cứu lần
này, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu phi ngẫu nhiên tiện lợi.
Khi chọn phương pháp lấy mẫu phi ngẫu nhiên tiện lợi này, tác giả
tìm được đối tượng phỏng vấn phù hợp với những đặc điểm của mẫu. Đồng
thời phương pháp này giúp cho tác giả có thể lấy được thông tin nhanh trong
thời gian nghiên cứu hạn chế 4 tháng và tiết kiệm được một khoản chi phí
lớn.
Mặc dù có những ưu điểm đã nêu, nhưng với phương pháp này, tác giả cũng
nhận thấy một số nhược điểm phát sinh nhất định như sau:
+
Các phần tử đại diện trong nhóm sẽ không được lựa chọn một cách
ngẫu nhiên và chịu ảnh hưởng trực tiếp vào định kiến của người đi hỏi trực
tiếp khi tâm lý chung là muốn hỏi người dễ nói chuyện và dễ dàng nhận lời
phỏng vấn.
Để khắc phục nhược điểm này, tác giả đã chủ động trong việc không lựa
chọn đối tượng theo cảm tính mà là theo một cách ngẫu nhiên nhất có thể.
Kích thước mẫu:
Do nguồn giới hạn về nhân lực và tài chính, trong cuộc nghiên cứu này tác
giả lựa chọn kích thước mẫu là 200 phần tử.
Kích thước mẫu nghiên cứu

trăm

Nam

Số
lượn
g
139

Nữ

51

26.8%

Tổng

190

100%

73.2%

 Cơ cấu theo trường học
Lựa chọn phương pháp chọn mẫu tiện lợi theo nguồn lực của cá nhân nên đề
tài tiếp cận khảo sát tập trung tại một số trường, tuy không đủ để bao quát toàn bộ
tổng thể nhưng vì các trường tập trung khảo sát là những trường tiêu biểu trong khối
ngành kĩ thuật nên ý kiến của các phần tử trong mẫu thu thập được coi là đại diện
cho nghiên cứu chung sinh viên kĩ thuật trên toàn Hà Nội.
Cụ thể, số lượng người được khảo sát tại trường Đại học Xây dựng chiếm tỉ lệ

4

2.1

ĐH Giao thông Vận tải

51

26.8

ĐH Kiến Trúc

5

2.6

ĐH Thủy Lợi

8

4.2

ĐH Xây dựng

70

36.8

190



Năm 2

24

12.6%

Năm 3

15

7.9%

Năm 4

126

66.3%

Năm 5

10

5.3%

Tổng

190

100%

g

Phần
trăm



159

83.7%

Không

31

16.3%

Tổng

190

100%

Nhận xét:
• Theo kết quả bảng 3.1, có thể thấy nhu cầu học tiếng anh nói chung và cụ
thể học tại các trung tâm nói riêng là rất cao (chiếm 83,7%), lí do nào dẫn
đến kết quả này? Có thể thấy với việc kí kết các hiệp định thương mại tự
do, nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới ở mọi ngành
nghề, mọi lĩnh vực kinh tế. Cũng chính vì lí do đó mà tiếng anh trở thành
một hành trang rất cần thiết cho tất cả sinh viên ở mọi ngành học. Bên cạnh

Nhận thấy tiếng anh không cần thiết cho ngành
nghề theo học
Nhận thấy tiếng anh không cần thiết cho bản thân,
xu hướng không thích hướng ngoại, chỉ muốn tập
trung cho chuyên môn
Những người có kinh nghiệm đi trước thành công
mà không cần giỏi tiếng anh
Việc học tiếng anh tại các trung tâm không hiệu
quả hơn việc tự học hoặc học theo các cách khác
Không tin tưởng hoặc không thấy các trung tâm
tiếng anh mang lại hiệu quả như mong đợi
Điều kiện kinh tế không phù hợp với việc học tiếng
anh tại trung tâm nên không bao giờ nghĩ đến
Ít hiểu biết về các trung tâm tiếng anh
Khác
Tổng

Số lượng
0

Phần trăm
0.0%

3

6.8%

3

6.8%

• Nhìn vào bảng và biểu đồ 3.2 nhận thấy phần lí do khác chiếm tỉ trọng cao
nhất (27,3%). Lí do khác ở đây đó là với việc hoàn thành đồ án các môn
học nên sinh viên khối ngành kĩ thuật khó có thể sắp xếp thời gian để học
tiếng anh một cách cẩn thận để đạt được kết quả tốt nhất, qua đó phục vụ
cho việc đi phỏng vẫn và đi làm sau này.
• Với lí do cụ thể thì lí do “không tin tưởng hiệu quả các trung tâm mang lại”
chiếm tỉ trọng cao nhất (22,7%), đây cũng là một lí do dễ hiểu vì các trung
tâm tiếng anh cũng nhận thấy sự hội nhập và nhu cầu học tiếng anh ngày
một cao và đây cũng là một lĩnh vực kinh doanh tốt để mang lại lợi nhuận
cao. Chính vì thế mà các trung tâm tiếng anh đã mọc lên như nấm với chất
lượng giảng dạy lẫn lộn, thậm chí nhiều trung tâm chỉ chay theo lợi nhuận
do đó sinh viên ngày một cẩn thận trong việc lựa chọn trung tâm cũng như
những yêu cầu khắt khe với lợi ích và thành quả mà trung tâm mang lại.
• Lí do “Nhận thấy tiếng Anh không cần thiết cho bản thân” và “Những
người đi trước thành công mà không cần tiếng anh” là 2 lí do cụ thể có tỉ
trọng thấp nhất dẫ đến quyết định không học tiếng anh tại trung tâm của các
GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


24

sinh viên khối ngành kĩ thuật.
3.1.2. Đo lường thực trạng học tại các trung tâm tiếng anh của sinh viên kĩ thuật
Bảng 3.3. Thực trạng đăng kí học tiếng anh tại trung tâm của sinh viên kĩ thuật
Thực
trạng

Số

sống và yêu cầu học tập tại trường thay đổi rất nhiều.
• Tuy nhiên với con số 53.5% sinh viên kĩ thuật chưa đi học tại các trung tâm
tiếng anh thì đây lại là con số mang ý nghĩa nghiên cứu rất lớn, kèm theo cả
cơ hội và thách thức chia đều cho tất cả các trung tâm tiếng anh. Do đó, để
dành phần ưu thế về mình, các trung tâm cần chú trọng và nghiên cứu chi
tiết hành vi, tâm lý và các yếu tố cá nhân của nhóm đối tượng này.

GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền


25

Xem xét cụ thể hơn với sinh viên từng năm, ta có kết quả sau đây:
Bảng 3.4. Thực trạng đăng kí học tiếng anh của sinh viên kĩ thuật các năm

Sinh viên năm

Đã/đang học

Chưa học

Tổng

1

3

6

sinh viên đã và đang học tiếng anh tại các trung tâm. Nắm bắt được yếu tố này các
trung tâm tiếng Anh nên có các biện pháp tập chung vào đối tượng khách hàng này
với tâm lí sinh viên năm cuối cần có các chứng chỉ Ngoại ngữ để đạt yêu cầu học
tập tại trường và chuẩn bị hành trang tốt cho cuộc sống, công việc sau khi rời ghế
nhà trường.

GVHD: PGS.TS Trương Đình Chiến

SVTT: Trương Thị Hiền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status