Phân tích và dự báo cầu sản phẩm áo sơ mi nam của công ty cồ phần May 10 trên địa bàn Hà Nội tới năm 2015 - Pdf 12

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Năm 2009 là một năm đầy biến động đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung
và ngành Dệt – May nói riêng. Khi gặp khó trong xuất khẩu, doanh nghiệp dệt may
trong nước muốn chuyển hướng về thị trường nội địa. Việc tăng cường tiêu thụ nội
địa là một giải pháp cho các nhà xuất khẩu đang khó khăn vì suy thoái kinh tế, thế
nhưng đối với ngành dệt may với trên 90% doanh nghiệp chuyên làm hàng xuất khẩu
thì việc chuyển hướng này là không dễ dàng. Khi chuyển hướng về thị trường nội địa
thì doanh nghiệp mới hay mỡnh cũn yếu nhiều khâu, cụ thể là khâu thiết kế và phát
triển sản phẩm, chủ động nguồn nguyên phụ liệu và phát triển kênh phân phối, cũn
kộm trong công tác nghiên cứu phân tích dự báo nhu cầu của thị trường.
“ Thị trường nội địa với gần 87 triệu dõn, dự tất cả các doanh nghiệp dệt may
trong nước dồn sức phục vụ thì vẫn chưa xuể. Đó là lời nhận xét của Tổng giám đốc
công ty cổ phần May 10 – bà Nguyễn Thị Thanh Huyền. Trong năm 2009, doanh thu
từ thị trường nội địa của các đơn vị thành viên Tập đoàn Dệt may Việt Nam tăng 26%
so với năm trước. Từ Việt Tiến đạt trên 600 tỷ đồng, tăng gần 150 tỷ đồng so với năm
2008, Nhà Bè đạt gần 300 tỷ đồng, May 10 đạt trên 100 tỷ đồng, may Phương Đông
đạt gần 100 tỷ đồng…
(http://www.baomoi.com/Info/Nganh-Det-may-Viet-Nam-Phia-truoc-la-co-
hoi/45/3685553.epi).
Vậy làm thế nào để mở rộng tiêu thụ trên thị trường nội địa, làm thế nào để
thực hiện được chủ trương “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”. Đó vẫn là bài
toán đặt ra cho các doanh nghiệp dệt may nói chung và công ty cổ phẩn May 10 nói
riêng.
Trong những năm qua, May 10 đã cố gắng mở rộng mạng lưới kênh phân
phối của mình trên khắp cả nước cùng với đó là hoàn thiện khâu thiết kế mẫu mã,
giảm giá thành nên sản phẩm áo sơ mi của May 10 đã có được chỗ đứng nhất định
trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm áo sơ mi của May 10 mới
chỉ tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mà còn bỏ ngỏ thị
trường nông thôn. Theo kết quả phân tích số liệu sơ cấp, đa phần số người được hỏi

phương pháp phân tích và dự báo cầu, từ đó vận dụng các kiến thức để phõn tích và
dự báo cầu sản phẩm áo sơ mi nam (dòng sản phẩm có giá bán trung bình
dưới170.000đ) của công ty cổ phần May 10 trên địa bàn Hà Nội cũ tới năm 2015.
1.3.2. Mục dích thực tiễn
Một là, phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty May 10 và các
nhõn tố ảnh hưởng tới cầu về sản phẩm áo sơ mi nam của công ty.
Hai là, tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác phân tích và dự báo cầu về sản
phẩm áo sơ mi nam của công ty May 10 giai đoạn 2006-2009, đồng thời sử dụng mô
hình kinh tế lượng để xõy dựng nên hàm cầu về sản phẩm áo sơ mi nam của công ty.
Ba là, đưa ra một số dự báo về cầu sản phẩm áo sơ mi nam của công ty trên
địa bàn Hà Nội cũ tới năm 2015 kèm theo một số giải pháp đẩy mạnh công tác phõn
tích và dự báo cầu của công ty cùng với một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ trên thị
trường Hà Nội.
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cầu về sản phẩm áo sơ mi (sơ mi nam) của công ty
May 10, đồng thời nghiên cứu công tác phõn tích và dự báo cầu của công ty.
Đối tượng nghiên cứu có liên quan: tình hình hoạt động kinh doanh, định
hướng phát triển của công ty May 10, dõn số nam Hà Nội có độ tuổi từ 23-55, thu
nhập, giá bán sản phẩm sơ mi nam của May 10( dòng sản phẩm trung bình: Pharaon
EX, Pharaon Advancer có giá bán dưới 170.000VNĐ), giá bán sản phẩm áo sơ mi
cùng loại của Việt Tiến.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
 Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu cầu về sản phẩm áo sơ mi nam
trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên từ tháng 7/2008, địa giới hành chính thành phố Hà
Nội được mở rộng thêm. Do khó khăn trong việc thu thập số liệu từ khu vực mới
được sáp nhập vào Hà Nội cũ nên đề tài của tôi chỉ tập trung phõn tích cầu về sản
phẩm áo sơ mi nam trên địa bàn Hà Nội cũ.
 Thời gian: Đề tài tập trung phõn tích cầu về sản phẩm áo sơ mi nam
trong giai đoạn 2005 – 2009 và đưa ra những dự báo về cầu tới năm 2015.

 Phương pháp đồ thị hoá: phương pháp này là phương pháp phổ biến
trong phõn tích kinh tế nói chung cũng như phõn tích cầu nói riờng. Đõy là phương
pháp phõn tích các số liệu, dữ liệu thu thập được và mối quan hệ giữa các yếu tố
thông qua đồ thị.
 Phương pháp phân tích kinh tế lượng: Là phương pháp sử dụng các
phần mềm kinh tế lượng để ước lượng mô hình hồi quy.
 Phương pháp dự báo cầu theo dóy số thời gian. Thực chất của phương
pháp này là dựa vào hàm hồi quy để tính toán, ước lượng các giá trị tương lai của các
biến số trong mô hình từ đó tính toán giá trị tương lai của cầu ở giai đoạn tiếp theo.
1.7. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mục lục, túm lược, cảm ơn, lời cam kết,danh mục bảng biểu, danh
mục tài liệu tham khảo, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh mục từ viết tắt và phần phụ lục
thì luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Lý luận về phân tích, ước lượng và dự báo cầu.
Chương 3:Thực trạng phân tích và ước lượng cầu sản phẩm áo sơ mi của công
ty May 10 trên địa bàn Hà Nội từ năm 2005 tới nay.
Chương 4: Dự báo nhu cầu và một số giải pháp đẩy mạnh việc thụ sản phẩm
áo sơ mi nam của công ty cổ phần May 10 trên thị trường Hà Nội.
CHƯƠNG II
LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH, ƯỚC LƯỢNG VÀ DỰ BÁO CẦU
2.1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CẦU, PHÂN TÍCH CẦU, ƯỚC LƯỌNG
VÀ DỰ BÁO CẦU
2.1.1. Khái niệm cơ bản về cầu
2.1.1.1. Cầu, nhu cầu, lượng cầu
“Thuật ngữ “Demand” (Cầu), được sử dụng trong rất nhiều hoàn cảnh khác
nhau, chính điều này thường gây ra sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai trong phân tích. Chúng
ta thường nói tới đường cầu, biểu cầu, hàm cầu, điểm cầu. Nhưng khi các nhà kinh tế
học sử dụng thuật ngữ “demand “ là thể hiện diễn đạt mối quan hệ mà thường xuyên
được thể hiện trên đường cầu. Trong trường hợp này, cầu thể hiện số lượng mà người

không đổi, giá cả tăng thì số lượng hàng hóa hay dịch vụ người tiêu dùng có thể mua
được giảm xuống. Ngược lại, khi giá giảm thì số lượng hàng hóa hay dịch vụ họ có
thể mua được tăng lên. Ví dụ : khi thu nhập của người dân không đổi song giá cả của
mặt hàng áo sơ mi cao thì cầu của người tiêu dùng về áo sơ mi giảm xuống và họ sẽ
tìm mặt hàng khác thay thế áo sơ mi ( T – shirt ), còn khi giá bán áo sơ mi giảm
xuống thì người dân có cầu về áo sơ mi tăng lên.
Vậy làm thế nào để thể hiện lượng cầu, làm thế nào để cụ thể hóa một cách
giản đơn mối quan hệ giữa giá và lượng cầu như đã thể hiện trong luật cầu. Các nhà
kinh tế học đã đưa ra khái niệm đường cầu, đồng thời cũng đưa ra mô hình về hàm
cầu.
“Đường cầu là một đường mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hóa hay
dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng mua ở các mức giá khác nhau khi mà các
yếu tố khác không thay đổi”. (Nick, 2005, 86).Theo quy ước, trục tung biểu diễn giá,
trục hoành biểu diễn lượng cầu.
Đồ thị 2.1. Đường cầu áo sơ mi nam.
Qua đồ thị ta thấy đường cầu về áo sơ mi nam của công ty cổ phần may là
đường có độ dốc âm. Cầu là toàn bộ đường cầu, song lượng cầu thể hiện thông qua
các điểm trên đường cầu, tại A là Q
1
chiếc, tại B là Q
2
chiếc. Đường cầu áo sơ mi
cũng thể hiện đúng luật cầu.
2.1.1.3. Hàm cầu
Nếu chỉ xét sự biến đổi của lượng cầu theo giá, với giả định rằng các yếu tố
khác không thay đổi thì hàm cầu đơn giản có dạng như sau :
Hàm cầu: Q
D
= a – bP
Trong đó: Q

 P
Y
: Giá cả của hàng hóa Y
 Y : Thu nhập của người tiêu dùng
 A
X
: Chi phí quảng cáo
 T : Thị hiếu của người tiêu dùng
 O : Các nhân tố khác.
Một sự thay đổi nhỏ của các nhân tố trên đều tạo áp lực thay đổi lượng cầu.
Lấy ví dụ : lượng cầu về những chiếc mũ sẽ tăng lên khi thị hiếu hay có sự thay đổi
trong phong cách thởi trang, lượng cầu về những chiếc mũ sẽ giảm đi khi những
chiếc mũ không còn hợp với xu hướng hay phong cách thời trang của người tiêu
dùng, với giả định rằng các yếu tố khỏc khụng thay đổi”.
2.1.2. Khái niệm về phân tích cầu
“Phõn tớch, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng
trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó”.
(Gái,2004,16).
Phân tich hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu, đánh giá toàn bộ quá
trình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng
hoạt động kinh doanh, những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và các
nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh ngiệp. (Sơn, 2005,20)
Dựa trên những khái niệm cơ bản về cầu cùng với khái niệm về phân tích, ta
có thể hiểu phân tích cầu là phân tích các nhân tố tác động, ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp tới lượng cầu. Phân tích cầu thực chất là một phần công việc của ước lượng
và dự báo cầu. Ước lượng và dự báo cầu chỉ thực hiện được dựa trên những kết quả
thu được từ phân tích cầu.
2.1.3. Các khái niệm về ước lượng và dự báo cầu
Ước lượng cầu là quá trình lượng hóa cỏc mối quan hệ giữa lượng cầu và các

Ban đầu lựa chọn tiêu dùng tối ưu là điểm E
1
là điểm tiếp xúc giữa đường U
1
và I
1
, tại E
1
người tiêu dùng này có sản phẩm áo sơ mi nam của may 10 và
sản phẩm áo sơ mi nam của may Nhà Bè. Song vì một lý do nào đó khiến giá áo sơ
mi May 10 tăng lên, điều này làm cho ngân sách của người tiêu dùng xoay vào trong
từ I
1
sang I
2
. Ngân sách thay đổi, lúc này điểm lựa chọn tiêu dùng tối ưu là E
2
là giao
điểm của đường U
2
và I
2
. Tại đây người tiêu dùng phải giảm lượng áo sơ mi của may
10 mà tăng lượng áo sơ mi của may Nhà Bè. Khi giá áo sơ mi may 10 tăng làm cho
lượng cầu về nó giảm từ

xuống từ
.
Từ đó ta xác định được đường cầu cá
nhân về áo sơ mi nam là là đường D đi qua hai điểm A và B. (Minh hoạ phụ lục số 1).

)
trên đồ thị 2.3. Đường cầu thị trường là một đường có độ dốc âm và thoải hơn đường
cầu cá nhân.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu
Tác giả Nick Wilkinson đã chia các nhân tố ảnh hưởng tới cầu theo hai nhóm
chớnh : nhóm các nhân tố kiểm soát được và nhúm cỏc nhân tố không kiểm soát
được.
2.2.2.1. Nhúm cỏc nhân tố chủ quan
Nhúm các nhân tố kiểm soát được mà ảnh hưởng tới cầu gồm có : giá cả của
bản thân hàng hóa, hàng hóa (sản phẩm) ,các chưởng trình xúc tiến, địa điểm.
a, Bản thân giá cả hàng hóa
Giá cả của bản thân hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cầu vè hàng hóa
đó. Khi giá tăng lên thì lượng cầu về hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại (xét trong
trường hợp các yếu tố khác không có sự biến đổi)
b, Sản phẩm
Chất lượng của sản phẩm hay hàng hóa có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cầu
về hàng hóa đó. Mỗi một sản phẩm đều có tính năng công dụng riêng. Với những sản
phẩm có giá thành cao và công nghệ sản xuất tiên tiến như điện thoại di động thì
người tiêu dùng thường tìm kiếm một sản phẩm có thiết kế tốt, kích thước nhỏ gọn,
tính năng đa dạng, có nhiều ứng dụng mạng, một thưởng hiệu nổi tiếng … Ngược
lại với một sản phẩm có giá thành rẻ như kem đánh răng thì dường như người tiêu
dùng không chỉ quan tâm tới công dụng của nó với răng miệng mà còn chú trọng vào
hưởng thơm, sự tiện dụng trong tiêu dùng. Người tiêu dùng thường đòi hỏi một sản
phẩm với nhiều tính năng và phù hợp với mọi tầng lớp khách hàng. Điều này rất quan
trọng cho các nhà hoạch định cũng như nhà quản lý trong việc thiết kế, tìm kiếm và
đưa ra thị trường những dòng sản phẩm mới.
c, Các chương trình xúc tiến
Các chưởng trình xúc tiến thường là những hoạt động cộng đồng của công ty
với nguời tiêu dùng nhằm khuyến khích mua sản phẩm của mình. Hay nói cách khác
là một trong hoạt động quảng bá giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp. Nội dung

thị hiếu với nhóm sản phẩm này ví dụ như Coke, ti vi, tủ lạnh. Tất nhiên, thị hiếu là
một nhân tố không kiểm soát được song các công ty luôn nỗ lực tìm hiểu ảnh hưởng
của thị hiếu tới lượng cầu thông qua các chưởng trình, chiến dịch quảng cáo.
c, Chính sách của chính phủ
Chính sách của chính phủ gây ra ảnh hưỏng ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Chính
phủ đôi khi khuyến khích hay hạn chế ,nghiêm cấm chúng ta mua những sản phẩm
này sản phẩm kia. Đối với nhóm sản phẩm như thuốc lá, rươu, thuốc ( tuy nhiên trong
thực tế rất khó hạn chế ), vũ khí, những sản phẩm mà việc tiêu dùng có thể tổn hại tới
môi trương vĩ mô sẽ bị hạn chế hoặc cấm tiêu thụ. Các biện pháp hạn chế mà chính
phủ sử dụng là các hàng rào : hàng rào thuế quan, hạn ngạch và hàng rào phi thuế
quan như các tiêu chuẩn kiểm định, đo lường chất lượng. Những biện pháp đó đều
ảnh hưởng tới lượng cầu.
d, Đối thủ cạnh tranh
Giá cả không phải là nhân tố duy nhất mà các công ty còn cạnh tranh với nhau
theo nhiều cách thức : cạnh tranh bằng chất lượng, cạnh tranh bằng thưởng hiệu.
Công ty nào có lợi thế cạnh tranh có thể làm lượng cầu tăng lên hoặc ngược lại.
e, Nhân khẩu học
Nhân khẩu học không chỉ bao gồm quy mô dân số. Dân số trong từng độ tuổi
ảnh hưởng tới lượng cầu về hàng hóa theo nhiều cách khác nhau. Khi dân số nam
Số lượng
Thu
Nhập
Hàng hóa
thứ cấp
Hàng hóa
thông
thường
trong độ tuổi 23-55 trên địa bàn Hà Nội tăng nhanh thì cầu về áo sơ mi nam của công
ty May 10 cũng tăng lên theo .
f, Giá cả của hàng hóa thay thế hoặc bổ sung

khi các nhân tố ảnh hưởng tới lượng cầu như : giá cả của hàng hóa đó, thu nhập, giá
của hàng hóa liên quan thay đổi 1 % (với điều kiện là các nhân tố khác không thay
đổi).
Tuỳ theo dạng biến ảnh hưởng ta cú cỏc loại co dãn của cầu đối với giá cả của
hàng hóa đó, co dãn chéo của cầu đối với giá cả hàng hóa khác, co dãn của cầu đối
với thu nhập.
Co dãn của cầu đối với giá cả hàng hóa đó
- Công thức : =
Trong đó : %∆Q là phần trăm thay đổi lượng cầu
%∆P là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa đó.
- í nghĩa : Nghiên cứu độ co dãn của cầu theo giá có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với một doanh nghiệp. Khi > 1, muốn tối đa hóa doanh thu phải giảm
giá hàng hóa, khi < 1, muốn tối đa hóa doanh thu thì tăng giá bán hàng hóa vỡ
điểm tối đa hóa doanh thu chính là điểm mà = 1.
Co dãn của cầu đối với thu nhập
- Công thức : =
Với %∆I là phần trăm thay đổi của thu nhập
- í nghĩa : Nếu một doanh nghiệp khi phân tích độ co dãn theo thu nhập mà có
là một số dương tức là doanh nghiệp đang cung cấp cho thị trường hàng hóa
thông thường. Nếu kỳ vọng về thu nhập của người dân tăng cao thì doanh nghiệp
cũng nên có kế hoạch chuẩn bị tăng lượng hàng cung ứng cho thị trường và ngược
lại.
Co dãn chéo của cầu, đối với giá cả hàng hóa khác
- Công thức : =
Với %∆P
Y
là phần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa Y
Ý nghĩa : Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, cạnh tranh gay gắt, một
sản phẩm có rất nhiều sản phẩm tương tự thay thế. Do đó việc tính toán chính xác
được sẽ giúp doanh nghiệp chủ động được kế hoạch kinh doanh của mình.

thử nghiệm. Người tiêu dùng được cho tiền để mua hàng hóa tại một cửa hàng. Tại đó
người ta sẽ thấy thái độ của người tiêu dùng đối với các thay đổi của giá cả hàng hóa,
của bao bì, của giá cả hàng hóa liên quan khác và các nhân tố ảnh hưởng tới cầu
khác.
 Phương pháp thị trường
Đây là phưởng pháp lựa chọn những thị trường có đặc điểm kinh tế xã hội
giống nhau, sau đó tiến hành thay đổi giá của thị trường đó, thay đổi hình thức xúc
tiến bán hàng va ghi lại phản ứng của người tiêu dùng.
 Phương pháp hồi quy
Phân tích hồi quy là phưởng pháp cơ bản để ước lượng hàm cầu .
Để ước lượng hàm cầu, ta thường sử dụng dạng hàm cầu đặc trưng, hàm tuyến
tính hoặc phi tuyến. Vì cầu là hàm số phụ thuộc vào nhiều biến số, trong đó có những
biến số rất khó quan sát và lượng hóa được như thị hiếu do đó khi ước lượng hàm cầu
chúng ta phải xác định đựơc biến độc lập, căc cứ vào tình hình cụ thể để sử dụng
phép hồi quy cho phù hợp.
b, Các phương pháp dự đoán cầu
 Dự đoán theo chuỗi thời gian
Thực chất của phưởng pháp này là việc xác định hàm hồi quy của cầu theo
thời gian. Căn cứ vào hàm hồi quy của cầu theo thời gian đề tính giá trị tương lai của
cầu ở giai đoạn tiếp theo.
Theo phương pháp này, biến cần dự báo sẽ được cho là tăng hay giảm một
cách tuyến tính theo thời gian : Q
t
= a + bt
Sử dụng phân tích hồi quy để ước lượng các giá trị của a và b.
t
Nếu b>0 : biến cần dự báo tăng theo thời gian
Nếu b<0 : biến cần dự báo giảm theo thời gian
Nếu b = 0 : biến cần dự báo tăng theo thời gian
Ý nghĩa thống kê của xu hướng cũng được thể hiện qua việc xem xét giá trị p-

Đây là phương pháp mà doanh nghiệp dựa trên những nhận định, phân tích
của các chuyên gia trong ngành của mình hoặc những dự báo của chỉnh phủ trong
một khoảng thời gian nhất định từ đó xây dựng nên kế hoạch sản xuất phù hợp với
lượng cầu mà các chuyên gia đã đưa ra.
2.3. TỔNG QUAN TèNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NĂM TRƯỚC
Qua quá trình tỡm hiểu, tôi đã tiếp cận với một số đề tài về phõn tích và dự
báo cầu cùng một số đề tài liờn quan tới ngành dệt may của một số tác giả như sau :
“Hoàn thiện công nghệ xúc tiến thương mại mặt hàng áo sơ mi tại công ty
May 10” của tác giả Trần Nguyệt Minh, Luận văn tốt nghiệp khoa Kinh doanh
thưởng mại năm 2004. Đề tài đã tập trung đi sâu các giải pháp xúc tiến thưởng mại
mặt hàng áo sơ mi, trên cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Song đề tài chưa
có sự phân tích chuyờn sõu những yếu tố nào ảnh hưởng quyết định tới cầu áo sơ mi
trên thị trường nội địa, đồng thời cũng không dự đoán được lượng cầu về áo sơ mi
trờn thị trường nội địa.
Với đề tài “Phõn tích nhu cầu và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tư
vấn nhà đất ở khu vực phía Bắc của công ty cổ phần Hoàn Đạt” - Luận văn tốt
nghiệp khoa Kinh tế năm 2007. Đối tượng nghiờn cứu của đề tài này là dịch vụ.
Trong đề tài, tuy tác giả đã có sự phõn tích chuyên sõu những yếu tố ảnh hưởng tới
dịch vụ tư vấn song điểm yếu của đề tài là chưa áp dụng được phần mềm kinh tế
lượng trong phõn tích.
Còn với đề tài “Phõn tích cầu và một số giải pháp phát triển ngành hàng dệt
may tại thị trường Hà Nội của công ty TNHH Khăn Việt” - Luận văn khoa kinh tế
năm 2008 của tác giả Nguyễn Kim Mạch. Điểm mạnh của đề tài này là nguồn số liệu
phong phú cả số liệu thứ cấp và sơ cấp song trong đề tài lại chưa vận dụng được
phầm mềm SPSS vào phõn tích phiếu điều tra, ý kiến của người tiêu dùng.
Theo cách tiếp cận của tác giả Nguyễn Thị Lệ với đề tài : “Phõn tích và dự
báo cầu mặt hàng sữa của công ty TNHH thưởng mại FCM trên địa bàn Hà Nội
đến năm 2010” - Luận văn tốt nghiệp khoa kinh tế năm 2008. Đề tài đã đi sát vào
mục tiêu nghiên cứu, có đầy đủ số liệu thứ cấp và sơ cấp, đã ứng dụng được phần
mềm kinh tế lượng (Eview và SPSS) trong phân tích. Song đối tượng của đề tài là

Mặt hàng áo sơ mi nam của công ty được người tiêu dùng đánh giá ra sao về
chất lượng, mẫu mã, giá cả, kiểu dáng.
Trong thời gian tới, công ty cần có những biện pháp gì để tăng cường năng lực
phân tích và dự báo cầu đối với các sản phẩm của công ty mình ?
Trong giai đoạn phục hồi kinh tế này, công ty nên chú trọng vào nhóm giải
pháp nào đề đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa ?
CHƯƠNG III
THỰC TRẠNG CẦU VỀ SẢN PHẨM ÁO SƠ MI NAM CỦA
CÔNG TY MAY 10 TRấN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TỚI NĂM 2015
3.1. PHƯƠNG PHÁP HỆ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH CẦU
3.1.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp phân tích dữ liệu
3.1.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Để thu thập dữ liệu cho luận văn này, tụi đó lập phiếu khảo sát điều tra trắc
nghiệm đối với 100 người tiêu dùng nhằm thu thập tình hình thực tế việc tiêu dùng
sản phẩm áo sơ mi nam của công ty May 10. Cuộc khảo sát điều tra được tiến hành
như sau :
- Đối tượng chọn mẫu : Những khách hàng đã mua và có nhu cầu tiêu dùng
sản phẩm áo sơ mi nam của công ty May 10.
- Phạm vi chọn mẫu : Trên địa bàn thành phố Hà Nội cũ. Cụ thể như sau : Cầu
Giấy (40 phiếu), Tây Hồ (10 phiếu), Long Biên (20 phiếu), Thái Hà (20 phiếu), siêu
thị Hapro Trâu Quỳ (10 phiếu).
- Ngoài việc thu thập ý kiến người tiêu dùng qua phiếu điều tra trắc nghiệm,
tụi cũn tiến hành phỏng vấn một số khách hàng những câu hỏi sau :
+ Quý khách đánh giá ra sao về chất lượng phục vụ của nhân viên bán hàng ?
+ Quý khách đánh giá thế nào về hệ thống cửa hàng, đại lý của May 10 từ
khâu bố trí biển hiệu, trình bày sản phẩm. … ?
- Quy mô chọn mẫu : Phát ra 100 phiếu, phiếu thu về 100.
3.1.1.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu
Sau khi thu về 100 phiếu điều tra, tụi đó tiến hành tổng hợp, phân tích phiếu
điều tra thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS. Cuộc điều tra lấy ý kiến của khách

Do đó hàm cầu về sản phẩm áo sơ mi nam của công ty May 10 có dạng như sau :
Q = f( P, M, Pr, N )
Từ đó, ta có hàm cầu thực nghiệm có dạng
Q = a + bP + cM + dPr+ eN.
Dấu của các hệ số b, c, d, e lần lượt như sau :
 b mang dấu âm theo tính chất của luật cầu
 c mang dấu dương vì áo sơ mi là hàng hóa thông thường
 d mang dấu dương vì trong đề tài của tôi, mặt hàng thay thế cho áo sơ
mi nam của May 10 cú nhỡều loại như áo sơ mi nam của Việt Tiến, Nhà Bè, An
Phước, May Đức Giang
 e mang dấu dương vì dân số nam của Hà Nội trong độ tuổi từ 23 - 60
tăng lên thì lượng cầu về sản phẩm áo sơ mi nam của may 10 tăng lên khi các yếu tố
khác không thay đổi.
Thứ hai : Thu thập các dữ liệu của các biến trong cầu.
Để ước lượng được cầu về sản phẩm áo sơ mi nam trên địa bàn Hà Nội ta cần
thu thập các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp về các vấn đề liên quan như : số lượng áo sơ mi
nam tiêu thụ tại thị trường Hà Nội từ năm 2005 tới nay ra sao tương ứng với giá của
sản phẩm áo sơ mi nam qua các thời kỳ đó, dân số nam trong độ tuổi từ 23 tới 60, thu
nhập của hộ gia đinh qua các năm. Thông qua các phiếu điều tra, ta có được thông tin
hữu ích cho việc dự báo cũng như đưa ra các biện pháp để đẩy mạnh tiêu thụ mặt
hàng áo sơ mi nam trên địa bàn Hà Nội trong những năm tiếp theo.
Thứ ba : Ước lượng cầu bằng phương pháp OLS.
Sau đó tiến hành kiểm định về sự phù hợp của mô hình được ước lượng. Cụ
thể là xem xét giá trị của hệ số xác định R
2
, dấu của các hệ số có phù hợp với ý nghĩa
kinh tế không và các hệ số được ước lượng có ý nghĩa về mặt thống kê hay không.
3.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CẦU SẢN PHẨM ÁO SƠ MI
NAM TRấN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TỚI NĂM 2015
3.2.1. Tổng quan về công ty cổ phần May 10

chỉnh và giao cho khách hàng.Sản phẩm sản xuất theo hình thức chiếm số lượng
khoảng 50% số lượng sản phẩm sản xuất của công ty và chiếm khoảng 35% doanh
thu.
- Sản xuất hàng xuất khẩu dưới dạng FOB: Căn cứ vào hợp đồng tiêu thu sản
phẩm đã ký với khách hàng, công ty sản xuất và xuất sản phẩm cho khách hàng theo
hợp đồng (chiếm khoảng 45% doanh thu).
- Sản xuất hàng nội địa : thực hiện toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh từ
đàu vào, đến sản xuất tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu trong nước(chiếm 20%
doanh thu).
3.2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty
Tính cho đến nay, công ty cổ phần May 10 có tới 8350 cán bộ và công nhân
viên, trong đó số người có trình độ đại học là 120 người, trình độ cao đẳng là 90
người và trình độ trung cấp là 234 người. Tổng giám đốc là Bà : Nguyễn Thị Thanh
Huyền.
Sơ đồ 3.1. Bộ máy tổ chức cuả công ty May 10
3.2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2000-
2009
Trong giai đoạn 2000 – 2009, nhờ có những chiến lược kinh doanh cộng với
sự cố gắng nỗ lực của toàn bộ cán bộ, công nhân mà công ty cổ phần May 10 đã được
những kết quả kinh doanh tốt, thể hiện trong đồ thị 3.1 kèm theo bảng phụ lục số 2.
Đồ thị 3.1. Đồ thị tổng doanh thu và lợi nhuận
( Nguồn : Phòng kinh doanh – Phòng tài chính kế toán )
Qua đồ thị và bảng số liệu, doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng
qua các năm ( chỉ duy có năm 2007 là doanh thu và chi phí giảm ), song tấc độ tăng
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM
ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
PHÓ TỔNG GIÁM

BAN TỔ CHỨC
HÀNH CHÍNH
BAN
MARKETING
BAN BẢO VỆ
QUÂN SỰ
BAN THIẾT KẾ
THỜI TRANG
của doanh thu lớn hơn tấc độ tăng cuả chi phí nên lợi nhuận của công ty năm sau đều
cao hơn năm trước.
Nhìn vào phụ lục, chúng ta sẽ thấy rõ kết quả hoạt động kinh doanh của công
ty trong 3 năm gần đây.
- Về giá trị sản xuất công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 tăng
69,26 tỷ đồng so với năm 2007, tăng 32 tỷ đồng so với năm 2008. Tuy nhiên tấc độ
tăng trưỏng của giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 là 14% trong khi đó năm 2008
là 19%.
- Về tổng doanh thu, ta có thể nhận thấy doanh thu của công ty vẫn tăng đều
trong 3 năm gần đây mặc dù chịu tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Doanh thu
năm 2008 tăng 113, 88 tỷ đồng so với năm 2007 ứng với 23,09%. Năm 2009, đỉnh
điểm của suy thoái kinh tế, song do có chiến lược hướng về thị trường nội địa cùng
với việc tích cực mở rộng, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới như Trung Đông, Ả
rập, Thổ Nhĩ Kỳ … nên doanh thu năm 2009 vẫn tăng 9,432 tỷ đồng so với năm
2009.
- Về lợi nhuận : do tổng doanh thu của công ty tăng đều qua các năm, hơn nữa
tấc độ tăng của tổng doanh thu tăng nhanh hơn tấc độ tăng của tổng chi phí nên lợi
nhuận của công ty cũng vẫn giữ được đà tăng trong các năm 2007,2008,2009.
Đối với thị trường nội địa, công ty luôn nỗ lực đẩy mạnh tiêu thụ trên thị
trường nội địa, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, công ty chưa thực sự chiếm lĩnh được thị trường miền Trung.
Bảng 3.1. Kết quả doanh thu tiêu thụ nội địa theo thị trường

Nhìn vào bảng 3.2. ta thấy doanh thu bán áo sơ mi nam của công ty May 10
trên thị trường Hà Nội liên tục tăng qua các năm, không chỉ tăng đều về giá trị mà
còn tăng cả về tấc độ tiêu thụ. Nếu năm 2006 doanh thu bán áo sơ mi nam tăng 1,2 tỷ
( tương ứng 4% ) thì tới năm 2009, doanh thu tăng 11,15 tỷ ( tương ứng với 19%).
Những số liệu này đã minh chứng cho định hướng kinh doanh đúng mà công ty đã
lựa chọn.
3.3.PHÂN TÍCH CẦU Vấ MẶT HÀNG ÁO SƠ MI NAM CỦA
CÔNG TY MAY 10 TRấN THỊ TRƯỜNG HÀ NễI
Sản phẩm sơ mi nam tiêu thụ trên thị trường nội địa của công ty May 10 gồm
2 loại chính
Loại 1 : Là các sản phẩm may theo tiêu chuẩn xuất khẩu nhưng lại được tiêu
thụ trong nước. Loại sản phẩm này thường có giá khá cao do chất lượng vải ngoại
nhập nhưng bù lại có chất lượng cao, kiểu dáng chuẩn. Giỏ cỏc sản phẩm này từ
170000VNĐ trở lên.
Loại 2 : Là những sản phẩm tiêu thụ nội địa được công ty được công ty thiết
kế may trên chất liệu vải nội những vẫn luôn đảm bảo chất lượng cao. Những sản
phẩm này có giá từ 170000VNĐ trở xuống.
Một số nhãn hiệu sơ mi nam mà công ty đang áp dụng trên thi trường Hà Nội :
TT Dòng sản phẩm Đặc điểm
1 Pharaon EX
( Pharon Excutive
Choice)
Là sự lựa chọn cho giới văn phòng, đây là
dòng sản phẩm mũi nhọn có giá bán thấp nhất trong
dòng sản phẩm Pharaon chất lượng cao, kiểu dáng
phổ thông.
2 Pharaon Classic Đây là sản phẩm dành cho giới trung niên lịch
sự, sản phẩm này nằm trong nhóm có mức giá cao.
3 Pharaon Advancer Đây là dòng sản phẩm được thiết kế phù hợp
với thanh niên và trung niên,kiểu dáng hiện đại, mức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status