Phân tích lý luận về kinh tế hàng hóa vận dụng lý luận vào điều kiện việt nam hiện nay - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN VÀ CHẤT LƯỢNG CAO


BÀI TẬP LỚN
Môn: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin II
Đề tài:
PHÂN TÍCH LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HÀNG HÓA.
VẬN DỤNG LÝ LUẬN VÀO ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY.

Người hướng dẫn: PGS. TS. Tô Đức Hạnh

HÀ NỘI


A. LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước Việt Nam ta đã phải trải qua hơn 30 năm của hai cuộc chiến tranh
trường kỳ gian khổ chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ. Hai cuộc chiến tranh đó
đã để lại những hậu quả nặng nề cho đất nước ta về mặt kinh tế. Sau chiến tranh,
nền kinh tế nước ta vẫn dậm chân tại chỗ, đi lên chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung,
tự cấp, một số vùng núi còn mang đậm dấu ấn của kinh tế tự nhiên. hàng hoá sản
xuất ra không đủ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân. Hơn thế nữa kinh
tế hàng hoá ở nước ta lại có một thời gian dài hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế
tập trung chỉ huy. Vì tất cả những lý do đó, công cuộc phát triển kinh tế đã trở
thành nhiệm vụ, mục tiêu số 1 đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong những bước
đường đi tới.
Trong công cuộc phát triển kinh tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, đường lối, trong đó việc phát triển nền kinh tế hàng hoá là nhiệm vụ cơ bản
nhất. Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung, hành chính,
quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN là nội

phát triển làm cho sản phẩm sản xuất ra được nhiều nhiều hơn điều đó dẫn tới việc
trao đổi hàng hoá và dẫn tới sự ra đời của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá
là kiểu tổ chức kinh tế trái ngược hẳn với sản xuất tự túc mà ở đó sản phẩm được
sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường. Với mục đích sản xuất nhắm
chủ yếu vào giá trị của sản phẩm và lợi nhuận, nền sản xuất hàng hóa là động lực
thúc đẩy nền sản xuất phát triển nhanh chóng.
Sự xuất hiện của sản xuất hàng hóa là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát
triển của xã hột loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xóa

3


bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả
kinh tế xã hội.

b) Hai điều kiện ra đời của nền sản xuất hàng hóa:
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi xã hội hội tụ đủ hai điều kiện sau đây:

- Sự phân công lao động xã hội:
Trước hết phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội
một cách tự phát thành các ngành, nghề khác nhau. Cho đến nay trong lịch sử đã
diễn ra ba cuộc phân công lớn đó là: việc chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt; nền thủ
công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp hình thành các ngành sản xuất độc lập như:
rèn, gốm…; sự xuất hiện ngành thương nghiệp.
Chính sự phân công đó đã tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó dẫn đến
chuyên môn hóa sản xuất. Bởi sự xuất hiện phân công lao động xã hội nên mỗi
người sản xuất sẽ làm một công việc cụ thể, vì vậy họ chỉ tạo ra một hoặc một vài
loại sản phẩm nhất định. Tuy nhiên trong cuộc sống mỗi người lại đòi hỏi rất nhiều
các loại sản phẩm khác nhau. Để thỏa mãn cho những nhu cầu đó, đòi hỏi họ phải
mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Chính sự trao đổi

trong hai điều kiện đó thì không có sản xuất hàng hóa cũng như sản phẩm lao động
không mang hình thái hàng hóa.
2. Các loại hình kinh tế hàng hóa:
Nền kinh tế sản xuất hàng hóa ra đời cùng với chế độ chiếm hữu nô lệ, phát
triển trong chế độ phong kiến và đạt đến đỉnh cao trong Chủ nghĩa Tư bản và Chủ
nghĩa Xã hội và cuối cùng theo chủ nghĩa Marx – Lenin sẽ tự tiêu vong khi sự
chiếm hữu tư liệu sản xuất kết thúc tức là khi Chủ nghĩa Cộng sản ra đời. Trong
suốt chu kì hình thành và phát triển của nó, nền sản xuất hàng hóa phát triển trải
qua nhiều loại hình khác nhau, có thể khái quát thành hai giai đoạn chính:
a ) Giai đoạn sản xuất hàng hóa phát triển thấp, hay nền kinh tế hàng hóa
giản đơn:
Đây là giai đoạn đầu của nền sản xuất hàng hóa, khi nền kinh tế hàng hóa
đơn giản chỉ dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất kết hợp sức
lao động cá nhân của người lao động . Trong giai đoạn này, người lao động sở hữu
hoàn toàn tư liệu sản xuất, trên cơ sở đó họ tự tổ chức sản xuất và mọi sản phẩm
làm ra đều thuộc về bản thân. Loại hình sản xuất này chủ yếu nhằm mục đích thỏa
mãn nhu cầu sinh sống và một phần nhu cầu sản xuất của bản thân người sản xuất
và gia đình họ, vận động theo công thức H – T – H (Hàng – Tiền – Hàng) Ở giai
đoạn này, nền sản xuất chỉ có quy mô nhỏ, và phân tán, sản phẩm được làm chủ
yếu theo phương pháp thủ công lạc hậu khiến cho nền sản xuất phát triển chậm.
5


Đặc trưng của giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn này là: Dựa trên cơ sở kỹ thuật
thủ công tương ứng với văn minh nông nghiệp; tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất; cơ
cấu kinh tế là nông nghiệp – thủ công nghiệp; hàng hoá chưa mang tính phổ biến;
cơ chế kinh tế vận động theo quan hệ giữa giá cả và giá trị theo cạnh tranh và cung
cầu nhưng ở trình độ thấp. Chính vì vậy sản xuất hàng hóa giản đơn nảy sinh vào
cuối thời kì tan rã của chế độ công xã nguyên thủy và chỉ tồn tại qua phương thức
thức sản xuất phong kiến và chỉ tồn tại một phần rất nhỏ ở các phương thức sản

thế giới đều vận động theo mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp , mặc dầu vậy với
mức độ , phạm vi ảnh hưởng có khác nhau. Mặt khác cần ý thức sâu sắc rằng :
kinh tế thị trường, một hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá và mang tính
phổ biến trong xã hội tư bản, song không vì thế mà đồng nhất kinh tế hàng hoá với
kinh tế tư bản chủ nghĩa. Bước chuyển từ kinh tế thị trường tự do lên kinh tế thị
trường hiện đại gắn với các điều kiện: sự xuất hiện sở hữu Nhà nước, thị trường
chứng khoán, quốc tế hoá sản xuất, đời sống. Đặc biệt sự xuất hiện vai trò mới –
vai trò quản lý vĩ mô - của Nhà nước đối vơi kinh tế thị trường. Đặc trưng của hình
thức kinh tế thị trường hỗn hợp: dựa trên kỹ thuật điển tử tin học gắn liền với nền
văn minh hậu công nghiệp hay văn minh trí tuệ; tồn tại các hình thức sở hữu Nhà
nứơc, sở hữu cổ phần ,sở hữu quốc tế, dựa trên cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch
vụ – nông nghiệp; vận động theo cơ chế kinh tế hỗn hợp của 2 bàn tay vô hình và
hữu hình.
3. Ưu thế của kinh tế hàng hóa so với nền kinh tế tự nhiên:
So với nền sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa hay nền kinh tế hàng
hóa có những ưu thế cơ bản:
Thứ nhất, do mục đích của sản xuất hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu
cầu của bản thân người sản xuất như trong nền kinh tế tự nhiên mà để thỏa mãn nhu
cầu của người khác, của thị trường, chính vì sự gia tăng không hạn chế của thị
trường đó đã tạo nên một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ hai, do cạnh tranh gay gắt nên buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải
năng động hơn trong sản xuất – kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm
nhằm tiêu thụ được hàng hóa và thu được lợi nhuận nhiều hơn. Chính cạnh tranh đã
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
Thứ ba, sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất “mở”, các quan hệ
hàng hóa – tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong
nước và quốc tế ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời
sống vật chất và văn hóa của nhân dân.


động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường chính
là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế nước ta vượt khỏi thực trạng thấp
kém, đưa nền kinh tế hàng hóa phát triển kể cả trong điều kiện ngân sách Nhà nước
8


hạn hẹp. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế trong đó
các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành kinh tế thị trường được tự giác tạo
lập và sử dụng để giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bước cải thiện đời sống của
nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Khuyến khích làm giàu hợp
pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; từng bước làm cho mọi thành viên xã hội đều
có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển
văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì
mục tiêu phát triển con người. Phát triển như vậy là nhằm tạo ra sự cạnh tranh giữa
các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường hiện nay. Và thực chất nó cũng đáp
ứng được yêu cầu của việc phát triển lực lượng sản xuất cũng như việc chuyển từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn (nền sản xuất xã hội chủ nghĩa) đồng thời nó cũng hết
sức phù hợp với sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế ở đất nước ta. Công cuộc
chuyển đổi kinh tế mà Đại hội Đảng VI đề ra trong hoàn cảnh đó là hết sức cần
thiết và phù hợp với hoàn cảnh đất nước ta thời kì đó.
2. Thực trạng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam.
Thành quả đạt được và những mặt hạn chế:
Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh
tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.

nhất là khi tiến hành cổ phần hóa. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hình
thành, phát triển chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt. Tình trạng cạnh
tranh không lành mạnh, gian lận thương mại, trốn, lậu thuế còn nhiều, chậm được
khắc phục. Phân bổ nguồn lực quốc gia chưa hợp lý. Chính sách tiền lương còn
mang tính bình quân, chưa bảo đảm đời sống của người hưởng lương, chưa khuyến
khích, thu hút và sử dụng được người tài. Hệ thống thuế chưa thực hiện tốt chức
năng điều tiết và bảo đảm công bằng xã hội, thúc đẩy đầu tư, đổi mới công nghệ,
nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy
nhà nước còn nhiều bất cập, hiệu lực, hiệu quả quản lý còn thấp. Cải cách hành
chính chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí
vẫn nghiêm trọng. Cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội đổi
mới chậm, chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục - đào tạo còn thấp. Khoảng cách giàu
nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng ngày càng lớn. Hệ thống an sinh xã
hội còn sơ khai. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội thấp. Nhiều vấn đề bất cập,
bức xúc trong xã hội và bảo vệ môi trường chưa được giải quyết tốt.
10


3. Những giải pháp khắc phục khó khăn và tiếp tục hoàn thiện nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa:
a) Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta nhằm tránh khỏi nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa:
Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại được phát triển tới
trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản nhưng tự bản thân kinh tế thị trường không đồng
nghĩa với chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn đổi mới ở nước ta đã chứng minh đầy sức
thuyết phục về việc sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Hơn lúc nào hết chúng ta cần phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân,
bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa dưới sự lãnh đạo của Ðảng, làm cho nền kinh tế Việt Nam đi đúng hướng xã
hội chủ nghĩa.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế về giá, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền
trong kinh doanh. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết vĩ mô
của Nhà nước. Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc bình ổn giá bằng các
biện pháp kinh tế vĩ mô và sử dụng nguồn lực kinh tế của Nhà nước, giảm tối đa
các can thiệp hành chính trong quản lý giá. Ða dạng hóa các loại thị trường hàng
hóa, dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại, chú trọng phát triển thị trường dịch vụ.
Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho các thị trường này. Thực hiện tự do hóa
thương mại và đầu tư phù hợp với các cam kết quốc tế. Phát huy tốt hơn vai trò
điều hành thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước như một ngân hàng trung
ương hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Tạo điều kiện
phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế trong nước,
khuyến khích hợp tác và liên kết giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
d) Gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng
bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường:
Tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách khuyến khích làm giàu đi đôi với
tích cực thực hiện giảm nghèo, vươn lên no ấm, đặc biệt là ở các vùng nông thôn,
miền núi, vùng dân tộc và căn cứ cách mạng trước đây. Chính sách giảm nghèo
không chỉ nhằm mục tiêu ổn định mà còn tạo động lực cho sự phát triển. Tạo điều
kiện để mọi công dân nắm bắt được cơ hội làm ăn, nâng cao thu nhập và đời sống,
được hưởng thành quả chung của phát triển. Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước,
của cộng đồng xã hội cho người nghèo, giúp người nghèo giảm bớt khó khăn, vươn
lên thoát nghèo, đồng thời khắc phục tư tưởng ỷ lại, bao cấp, trông chờ vào Nhà
12


nước. Xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa dạng và linh hoạt phù hợp với yêu
cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðiều chỉnh lương hưu và
trợ cấp bảo hiểm xã hội theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với chính sách
tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; từng bước cải thiện đời
sống của người về hưu theo trình độ phát triển của nền kinh tế. Phát triển đa dạng

quan trọng nhất trong phát triển kinh tế, xã hội.

C. KẾT LUẬN
Sự ra đời của nền kinh tế sản xuất hàng hóa là một bước ngoặt trong lịch sử
phát triển loài người. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài bắt đầu từ nền kinh tế
hàng hóa giản đơn cho đến kinh tế thị trường hỗn hợp hiện đại nhiều thành phần,
kinh tế hàng hóa đã chứng minh được nó là kiểu tổ chức kinh tế phát triển và có
nhiều ưu điểm nhất tính cho đến thời điểm này. Thực hiện chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo
đường lối của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nền kinh
tế nước ta đã đạt được những thành công bước đầu hết sức khả quan. Tuy vẫn còn
tồn tại một số khuyết điểm cũng như mặt hạn chế, nhưng đây thật sự là một bước đi
đúng hướng mà Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện. Đổi mới toàn diện, đồng bộ và
triệt để nhưng cũng không bỏ qua sự tôn trọng, giữ gìn những thành quả mà trước
đây đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam đã và đang trên con đường phát triển bắt kịp
với nhịp độ phát triển của khu vực, hòa chung cùng nhịp với nguồn máy kinh tế thế
giới.

14


D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 2010
2. Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác – Lênin cũ
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 1999
3. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
4. Nghị quyết số 21 – NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tại Hội nghị
lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X) về tiếp tục hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status