Đề án chuyên ngành phân tích thực trạng hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội tại huyện kbang – tỉnh gia lai - Pdf 34

MỤC LỤC


Trang


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Diễn giải

PHSK

Phục hồi sức khỏe

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

ĐVT

Đơn vị tính

ILO

Tổ chức lao động quốc tế


Lai (2013 – 2015)...........................................................................................22
Biểu đồ 2.5: Công tác Chi trả chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp tại BHXH huyện Kbang – Gia Lai ( 2013 – 2015)..............................24


Biểu đồ 2.6: Công tác chi trả chế độ hưu trí tại BHXH huyện Kbang – Gia Lai
(2013 – 2015).................................................................................................26
Biểu đồ 2.7: Công tác chi trả chế độ tử tuất tại BHXH huyện Kbang – Gia Lai
( 2013 – 2015)................................................................................................28
3. SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu hoạt động của bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang..............12


LỜI MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội hướng về con người,
coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của
chế độ, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Theo dòng lịch sử cách mạng, cội nguồn chính sách và các tổ chức tiền
thân của Bảo hiểm xã hội ở nước ta đã hình thành từ rất sớm; song hành và phục
vụ đắc lực yêu cầu của các cuộc kháng chiến vĩ đại, giải phóng đất nước, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay sau khi thống nhất đất nước và hoàn thành tốt các nhiệm vụ cách
mạng công nghiệp cũng như trong suốt thời kì kháng chiến cho đến nay, mặc dù
gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, Chính phủ đã luôn luôn chăm lo cải thiện đời
sống của nhân dân lao động. Đối với công nhân, viên chức Nhà nước, đi đôi với
việc cải tiến tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ trợ cấp mà thực chất là
chế độ BHXH, như chế độ trợ cấp khi ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp
khi chết, đồng thời đã xây dựng nhiều bệnh viện, bệnh xá, nhà an dưỡng, điều

TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI
HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI” cho bài đề án chuyên ngành của mình.
Do khả năng và mức độ hiểu biết về kiến thức, trình độ, kinh nghiệm cũng
như thời gian có hạn và nghiên cứu thực tập đề án còn hạn chế, song được sự
hướng dẫn tận tình của ban lãnh đạo, tập thể Bảo hiểm xã hội chi nhánh KBang –
Gia Lai. Nội dung trình bày bài đề án ngoài lời mở đầu và kết luận thì theo bố cục
3 chương như sau:
CHƯƠNG 1: BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CHI TRẢ CỦA BẢO
HIỂM XÃ HỘI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO
HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI


CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN KBANG –
TỈNH GIA LAI
Trong quá trình nghiên cứu và viết báo cáo, em sẽ không tránh khỏi những
sai sót, khiếm khuyết, mong Cô hướng dẫn: Nguyễn Thị Kim Hiền và các thầy cô
trong khoa Tài chính Ngân hàng và Quản trị kinh doanh tạo điều kiện giúp đỡ để
em ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô.
Quy Nhơn, ngày… tháng …năm……

Trần Thị Minh Hiếu


CHƯƠNG 1:
BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CHI TRẢ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội

gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc
tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ
cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn
được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó
tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất,
nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện như
một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá
nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
Bốn là: Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động,
giữa người lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động
và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền
lương, tiền công, thời gian lao động v.v... Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó
sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH
mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích
được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi
ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho
người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính
trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn.[5]
1.2. Bản chất và đối tượng của bảo hiểm xã hội
1.2.1. Bản chất của bảo hiểm xã hội
BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ
thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì


BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của
BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.
Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao
động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và

có nhu cầu đóng góp thêm để được hưởng mức trợ cấp BHXH.[5]
1.2.2.2. Đối tượng tham gia BHXH
Đối tượng tham của BHXH là người lao động và người sử dụng lao động. Họ
là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản %
nhất định so với tiền lương của người lao động theo quy định của luật BHXH. Tuỳ
theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là
tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó trong xã hội. Trong thời kì
đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ áp dụng đối với những người làm
công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo an toàn quỹ BHXH.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng người lao động trong và ngoài
doanh nghiệp Nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối
tượng của BHXH cũng được mở rộng ra. Vì vậy đối tượng tham gia của BHXH
bao gồm:
-

Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là người lao động và người sử dụng lao
động phải tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng
BHXH theo quy định của luật BHXH.

-

Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công ăn
lương và người lao động không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp
của người lao động cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước.[5]


1.3. Hoạt động chi trả các chế độ của bảo hiểm xã hội
1.3.1. Khái niệm chế độ bảo hiểm xã hội
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi
quốc gia. Nó là những quy định chung, rất khái quát về cả đối tượng, phạm vi, các

hiến của họ cho xã hội. Ngoài ra công tác chi trả cho các chế độ BHXH còn có các
vai trò khác, cụ thể như:
-

Chi trả BHXH là khâu cuối cùng trong việc thực hiện các chế độ BHXH.

Vì vậy, tổ chức chi trả BHXH chính là thực hiện các chế độ BHXH, đảm bảo cho
chính sách BHXH của quốc gia được thực thi; đáp ứng được nhu cầu, nguyện
vọng của người lao động và mục đích của chính sách BHXH, của Nhà nước. Bởi
suy cho cùng, mục đích cuối cùng của bất kì một Nhà nước nào khi thực hiện
chính sách BHXH cũng là chi trả, trợ cấp cho người lao động khi họ gặp phải
những sự kiện bảo hiểm, góp phần đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia
đình của họ.
-

Công tác chi trả các chế độ BHXH không những có ý nghĩa về mặt vật chất

mà nó còn có ý nghĩa về mặt tinh thần. Vì việc chi trả các chế độ BHXH là chi trả
cho những rủi ro, những sự kiện bảo hiểm xảy ra với người lao động và gây ra khó
khăn nhất định đối với người lao động từ đó giúp họ vượt qua được khó khăn và
an tâm trong cuộc sống.
-

Chi trả các chế độ BHXH có thể được chi trả một lần hoặc được tiến hành

thường xuyên vì vậy nó góp phần đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia
đình họ khi gặp khó khăn. Đồng thời quá trình thụ hưởng thường liên quan chặt
chẽ với quá trình đóng góp trước đó. Vì vậy việc thực hiện chi trả các chế độ
BHXH có tác dụng rất lớn đối với cả người lao động, người sử dụng lao động và
Nhà nước. Người lao động được hưởng trợ cấp BHXH sẽ an tâm hơn trong cuộc

chế độ BHXH ngắn hạn, còn đối với các chế độ BHXH dài hạn thì thường sử dụng
các phương tiện như tiền mặt và chuyển khoản. Việc sử dụng phương tiện nào còn
phụ thuộc vào việc sử dụng phương thức chi trả nào.[1]


CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ
HỘI TẠI HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI
2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và mô hình tổ chức bảo hiểm xã hội
tại huyện Kbang – Gia Lai
2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội tại huyện Kbang
Kbang là một huyện miền núi đông Trường Sơn. Toàn huyện có 14 xã, thị trấn,
trong đó có nhiều dân tộc anh, em cùng chung sống trên địa bàn. Trình độ dân trí
thấp, nền kinh tế chủ yếu là dựa vào nông nghiệp và cây công nghiệp ngắn ngày.
Đường giao thông đi lại chưa thuận tiện, nhất là vào mùa mưa. Cơ sở hạ tầng chưa
đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn.
Huyện Kbang có nhiều dân tộc sinh sống đan xen nhau trên địa bàn, nhưng hai
nhóm cơ bản là cộng đồng dân cư người kinh chiếm số đông và cộng đồng dân cư
bản địa. Theo số liệu thống kê tổng hợp năm 2013 với 36.274 lao động chiếm
57,28% thì trong 6 tháng đầu năm 2015 tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội hằng
năm 12,7%/ năm, đối tượng tham gia BHXH 2.431/39.318 so với lực lượng lao
động đạt 6,18%; đối tượng tham gia BHYT 50.321/65.966 so với dân số đạt
76,28%. Tính tới thời điểm hiện tại, trên địa bàn toàn huyện Kbang hệ thống đại lý
thu phân bổ đều trên 14 xã, thị trấn chủ yếu là đại lý Bưu điện (14 đại lý) và 01 đại
lý phường, xã.


2.1.2. Mô hình tổ chức bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang
2.2.2.1. Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội huyện Kbang
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu hoạt động của bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang

Hướng dẫn lập hồ sơ, nhận kiểm tra hồ sơ và ghi giấy hẹn. Sau đó chuyển hồ
sơ cho từng bộ phận liên quan để các bộ phận giải quyết.

-

Nhận lại hồ sơ từ các bộ phận đã giải quyết (cả hồ sơ không đủ để giải quyết)
chuyển trả cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động, các hồ sơ còn lại
lưu tại cơ quan BHXH.




Bộ phận thu
Nhận hồ sơ và dữ liệu điện tử do bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ, bộ phận
chế độ BHXH chuyển đến. Kiểm tra, đối chiếu và giải quyết hồ sơ, cập nhật dữ
liệu thu BHXH – BHYT mới phát sinh, hay chốt sổ BHXH sau đó chuyển trả
cho bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ.



Bộ phận cấp sổ thẻ
Nhận hồ sơ của đơn vị sử dụng lao động và người lao động do bộ phận thu

-

chuyển đến, danh sách và hồ sơ tham gia BHXH tự nguyện, người tự nguyện
tham gia BHYT nộp tiền trực tiếp. Tại BHXH huyện do bộ phận kế hoạch tài
chính chuyển đến kiểm tra đối chiếu với dữ liệu trong chương trình quản lý thu
và dữ liệu của trung tâm thông tin BHXH Việt Nam với hồ sơ của đơn vị sử
dụng lao động và người lao động.

danh sách và dữ liệu điện tử của đối tượng hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng và
trợ cấp thất nghiệp cho bộ phận thu để xác định sổ thu và cấp thẻ BHYT.
- Cấp giấy xác nhận thời gian đóng Bảo hiểm tự nguyện chưa hủy trợ cấp cho

người hưởng BHXH một lần, nhưng chưa hủy trợ cấp trợ cấp thất nghiệp. Sau
đó chuyển trả bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ để trả cho người lao động. Lưu 1
bộ hồ sơ, chuyển 1 bộ cho bộ phận kế hoạch tài chính để chi trả cho người lao
động
2.2. Công tác thu bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang – Gia Lai
Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2013 đến 6 tháng đầu năm 2015 tại BHXH
huyện, công tác thu BHXH diễn ra khá đa dạng và nhiều biến động. Số nguồn thu
này bao gồm:
 Tiền đóng BHXH của chủ sử dụng lao động bằng 22% tổng quỹ tiền lương.
 Tiền đóng BHXH của người lao động bằng 10,5% tiền lương.
 Tiền đóng BHXH và hỗ trợ từ NSNN.
 Tiền sinh lợi từ việc thực hiện các hoạt động đầu tư bảo toàn và tăng trưởng
quỹ BHXH.
 Thu từ nguồn tài trợ, viện trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
 Các khoản thu khác.[3, tr 23]
Bên cạnh việc các Đại lý thu đã có nhiều cố gắng trong công tác vận động
tuyên truyền, giải thích quyền lợi chế độ được thụ hưởng của người tham gia, từ
đó đối tượng tham gia ngày càng nhiều, số người được thụ hưởng ngày càng tăng,
công tác khám chữa bệnh ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên vẫn có sự thay đổi
mạnh qua các năm. Điều này được thể hiện rõ qua bảng sau:


Bảng 2.1: Tình hình công tác thu bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang – Gia Lai
(2013 – 06 tháng đầu 2015)
ĐVT: đồng
Năm 2013

164

2.293.160.599

166

1.047.489.846

2

Khối DN
Ngoài
quốc
doanh

88

522.324.435

94

607.128.614

90

276.395.260

3

Khối


1.722

10.610.888.884

5

Khối
Hành
chính sự
nghiệp
trung
ương

66

679.591.164

68

823.986.962

53

339.825.677

6

Khối
Phường


0

Tổng cộng

2.370

23.258.214.890

2.431

28.104.663.770

2.389

13.908.757.187

( Nguồn: BHXH huyện KBang)


Biểu đồ 2.1: Tình hình công tác thu bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang – Gia Lai
(2013 – 06 tháng đầu 2015)

Qua bảng 2.1 và biểu đồ 2.1 ta nhận thấy rằng số đối tượng tham gia BHXH từ
năm 2013 so với năm 2014 có sự tăng đáng kể: tăng 61 người với số tiền
4.846.448.880 đồng. Để đạt được kết quả này là nhờ vào công tác đổi mới về hình
thức, đa dạng nội dung tuyên truyền trong đại bộ phận dân cư về BHXH bên cạnh
việc đáp ứng kịp thời và đảm bảo đầy đủ các quyền lợi cho người tham gia đã góp
phần gia tăng số thu BHXH. Tuy nhiên theo số liệu 6 tháng đầu năm 2015 số
người tham gia lại giảm 24 người với số tiền thu được là 13.908.757.187 đồng do

Quỹ BHXH
Số tiền
%

Tổng chi
Số tiền

Năm 2013

1.971.555.900

61,9

1.213.530.350

38,1

3.185.086.250

Năm 2014

1.887.780.250

60,6

1.224.259.498

39,4

3.112.039.748

càng tăng cộng thêm mức hưởng của các đối tượng cũng ngày càng một tăng theo;
trong đó chi trả các chế độ do NSNN đảm bảo luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong
tổng số chi trả các chế độ BHXH và tăng dần qua các năm. Cụ thể: Ta thấy trong 3
năm qua tỷ trọng chi do NSNN lớn, chiếm trên 60% trong tổng số tiền chi trả của
BHXH huyện. Còn tỷ trọng chi trả của Quỹ BHXH so với tổng chi tuy nhỏ hơn
NSNN nhưng đồng thời cũng tăng lên: Năm 2013 chiếm 38,1% thì sau 3 năm tức


là 06 tháng đầu năm 2015 Quỹ chiếm 40,8%. Trong khi đó tỷ trọng chi của NSNN
có sự giảm nhẹ: Năm 2013 là 61,9% thì lại giảm còn 59,2% trong 06 tháng đầu
năm 2015; điều này đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng cho NSNN. Nhìn chung
BHXH huyện đã phối hợp với Bưu điện huyện chi trả Lương hưu và giải quyết
cho đối tượng kịp thời và an toàn tiền mặt, không thất thoát tiền quỹ Nhà nước và
quyết toán về tỉnh đúng quy định. Để đảm bảo được việc cân bằng các số chi trong
từng nguồn thì BHXH huyện đã nỗ lực trong việc quản lý sử dụng an toàn hiệu
quả quỹ BHXH bên cạnh đó duy trì và thực hiện đúng quy định về hồ sơ, quy trình
giải quyết hưởng các chế độ BHXH, BHYT phấn đấu không để trường hợp nào sai
sót trong khâu xét duyệt và làm các thủ tục chi trả. Nhìn chung việc chi trả Lương
hưu và trợ cấp cho đối tượng kịp thời và an toàn tiền mặt, không thất thoát tiền
quỹ Nhà nước.
2.3.2. Phương thức chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội
Để thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng thụ hưởng một cách hiệu
quả cao nhất đồng thời cũng mang lại sự thuận tiện cho cả cơ quan BHXH và
người được hưởng trợ cấp, thời gian vừa qua từ đầu năm 2013 đến 06 tháng đầu
năm 2015, BHXH huyện Kbang duy trì hai phương thức thanh toán: Chi trả trực
tiếp và chi trả gián tiếp thông qua đại lý chi (Bưu điện). Trong đó hình thức chi trả
trực tiếp chiếm 60% kinh phí thường xuyên chi trả hàng tháng.
-

Chi trả trực tiếp: Chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho đối tượng không qua

hưởng ở tỷ lệ cao lên tới 100% mức lương mà không giới hạn số lần sinh. Ở Việt
Nam theo chế độ hiện hành lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là
180 ngày. Mức hưởng trợ cấp là 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng
đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc [3, tr 21].
Các chế độ BHXH ngắn hạn bao gồm: Ốm đau, thai sản, dưỡng sức PHSK. Số
tiền chi trả cho các chế độ ngắn hạn được lấy từ nguồn Quỹ BHXH huyện. Ta có
thể thấy được cụ thể việc chi trả qua bảng và biểu đồ dưới đây:


Bảng 2.4: Công tác chi trả BHXH ngắn hạn tại BHXH huyện Kbang – Gia
Lai (2013 – 06 tháng đầu 2015)
ĐVT: Đồng
Chế độ
Trợ cấp ốm đau
Trợ cấp thai sản
Trợ cấp dưỡng
sức PHSK

Tiêu chí

Năm 2013

Năm 2014

Số lượt người
Số tiền
Số lượt người

28
29.420.000

Biểu đồ 2.4: Công tác chi trả BHXH ngắn hạn tại BHXH huyện Kbang –
Gia Lai (2013 – 06 tháng đầu 2015)

Qua bảng 2.4 và biểu đồ 2.4 ta có thể thấy rằng cả số lượt người và số tiền chi
trả cho các chế độ có sự giảm dần qua 3 năm. Cụ thể:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status