VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
--------
VŨ ĐỨC THẮNG
ĐIỀU TRA, THU THẬP MẪU CỦ BÌNH VÔI Ở MỘT SỐ TỈNH
VIỆT NAM VÀ XÂY DỰNG PHƢƠNG PHÁP ĐỊNH LƢỢNG
ROTUNDIN BẰNG SẮC KÝ LỚP MỎNG KẾT HỢP ĐO MẬT ĐỘ
QUANG (TLC-SCANNING)
NGÀNH
MÃ NGÀNH
: SINH HỌC THỰC NGHIỆM
: 60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ MINH HÀ
Hà Nội, Tháng 12-2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
MỞ ĐẦU
Bình vôi là tên gọi của nhiều loài cây là dây leo có rễ củ thuộc chi
Stephania, họ Tiết dê – Menispermaceae. Cây Bình vôi còn gọi là cây củ một,
củ mối tròn, dây mối trơn, gà ấp…[89].
kiệt do việc khai thác bừa bãi, không có qui hoạch.Vì vậy việc khảo sát để tìm
kiếm loài Bình vôi có hàm lƣợng Rotundin cao, từ đó xây dựng phƣơng án
bảo tồn và nhân giống, trồng bình cây vôi là hoàn toàn cần thiết.
Để góp phần vào việc nghiên cứu với mục đích trên, trong luận văn này
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Điều tra, thu thập mẫu củ Bình vôi ở
một số tỉnh Việt Nam và xây dựng phƣơng pháp định lƣợng Rotundin
bằng sắc ký lớp mỏng kết hợp đo mật độ quang (TLC-Scanning)” nhằm
tìm kiếm, xác định đƣợc loài Bình vôi chứa hàm lƣợng hoạt chất Rotundin
cao và đƣa ra đƣợc phƣơng pháp định lƣợng Rotundin từ củ Bình vôi tƣơi
bằng TLC-Scanning giúp tiết kiệm đƣợc thời gian và chi phí so với định
lƣợng từ củ khô bằng HPLC, phục vụ cho việc thu mua kịp thời nguồn dƣợc
liệu để sản xuất Rotundin ở qui mô lớn.
Nội dung nghiên cứu cụ thể nhƣ sau:
1. Đihiên cứu cụ thể nhƣ sau:úp tiết kiệm đƣợc thời gian và chi
phíNam và xác đcụ thể nhƣ sau:úp tiết kiệm đƣợc t
2. Xây d xác đcụ thể nhƣ sau:úp tiếRotundin trong các mụ thể nhƣ
sau:úp tiết kbằng phƣơng pháp sắc ký lỏng kết hợp đo mật độ
quang TLC-Scanning.
3. Chianning.g pháp sắcRotundin ttunding.g pháp sắc ký lỏng kết
hợp đo c hóa học của Rotundin.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1 . Giới thiệu về chi Bình vôi
Chi Bình vôi hay chi Thiên kim đằng (danh pháp khoa học: Stephania,
đồng nghĩa: Perichasma) là một chi thực vật có hoa trong họ Biển bức cát
(Menispermaceae hay còn gọi là họ Tiết dê), có nguồn gốc ở miền đông và
Một số loài Bình vôi đã đƣợc phát hiện tại một số tỉnh ở Việt Nam đƣợc
liệt kê trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Một số loài Bình vôi đƣợc phát hiện tại một số tỉnh ở Việt Nam
STT
Địa điểm
Tên loài
1
S. glabra (Roxb.) Miers
2
S. viridiflavens H. S. Lo et M. Yang Sơn La
Hàm lượng Tài liệu
Ninh Bình
Sapa
3
4
5
0,59%
Ninh Bình
1,4%
[16]
Quảng Bình
2,43%
[8]
S. brachyandra Diels
S. kuinanensis H. s. Lo et M. Yang Lạng Sơn
S. sinica Diels
6
S. sinica Diels
Hà Nam Ninh (cũ)
1,31%
[2]
7
bất định. Có loài rễ củ thƣờng chỉ nặng 0,5-2(hoặc 3) kg, nhƣng cũng có loài
cho củ có thế nặng tới 50-70 kg. Tùy thuộc vào từng loài, tuổi cây và điều
kiện môi trƣờng sống mà hình thái, màu sắc vỏ củ cũng có nhiều thay đổi
(nhẵn hoặc xù xì, màu nâu sáng nhạt, nâu đậm, xám tro, đen...). Thịt củ nạc
hoặc có lẫn những vằn xơ, màu trắng ngà, vàng tƣơi, vàng nhạt hoặc đỏ nâu,
đỏ tƣơi.
Lá mọc cách, cuống lá thƣờng mảnh, dài 2 đến 5 hoặc 15 đến 20 cm và
hai đầu phồng lên[15], có khi gấp khúc ở gốc [21]. Cuống lá đính vào lá
thƣờng ở những vị trí cách xa mép dƣới của gốc lá ở những khoảng cách nhất
định, tùy thuộc vào từng loài (có thể từ 1/5 đến 1/3 chiều dài phiến lá). Phiến
lá mỏng hoặc dày, nhẵn bóng hoặc rải rác có lông, hình khiên, hình tam giác
rộng, hình trứng-tam giác, tam giác tròn hoặc gần tròn; mép lá nguyên hoặc
chia thùy; gân lá dạng chân vịt, gổm 8-9 hoặc 10-12 gân chính cùng xuất phát
từ đỉnh cuống lá. Chóp lá nhọn, thuôn nhọn, tù hoặc gần tròn; gốc lá gần tròn,
phẳng hoặc gần hình tim. Màu sắc của phiến lá tùy thuộc vào từng loài (màu
xanh nhạt, xanh vàng nhạt, xanh đậm, xanh nâu nhạt hoặc đốm tía).
Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực, cái thƣờng mọc từ kẽ lá. Cụm hoa
có dạng tán đơn, tán kép, xim tán kép, hình đầu đến tán ngù [15], có cuống,
đơn độc hay xếp theo kiểu chùm ít nhất ở các nhánh tán cấp 1 (2), các nhánh
cuối cùng đôi khi không đều hoặc đôi khi các xim tụ họp thành đầu hình đĩa
[21]. Hoa đực thƣờng có cấu tạo đối xứng tỏa tròn, đài 6-8,rời, xếp thành 2
vòng; 3-4 cánh hoa, dạng vỏ sò, màu vàng, đôi khi trắng xanh; nhị 2-6,
thƣờng 4, chỉ nhị dính nhau tạo thành ống hình trụ, đầu nhụy xoè thành đĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
tròn. Hoa cái thƣờng chỉ gồm 1 lá đài và 2 cánh hoa (rất ít khi có 3-4 lá đài và
3-4 cánh hoa), bầu hình trứng có 4 đến 6 hoặc 7 núm nhụy hình dùi.
cây Bình vôi, vì trên loại chồi này cây sẽ ra lá, ra hoa, quả và mọc ra lứa chồi
xuân hè (chồi cấp II). Số lá của chồi cấp II nhiều hơn gấp bội so với chồi
đông xuân (tính trên cùng một đơn vị chiều dài của chồi). Lá trƣởng thành
ngay trong mùa hè và sẽ rụng hết khi mùa khô hanh (tháng 10). Sự rụng lá
hàng năm cũng là tập tính quan trọng của cây Bình vôi. Sự tái sinh chồi mạnh
mẽ của cây Bình vôi còn thể hiện ở khả năng mọc mầm trên các mảnh bổ ra
từ củ đem vùi xuống đất. Những mảnh ở đầu củ (khoảng 1/3 củ trở lên) mọc
mầm tốt hơn những mảnh khác. Có thể áp dụng khả năng này để nhân giống
cây Bình vôi. Trong tự nhiên, hoa Bình vôi đƣợc thụ phấn chéo chủ yếu nhờ
côn trùng.
Hạt Bình vôi thƣờng rất nhỏ, khối lƣợng trung bình của 1.000 hạt thƣờng
chỉ khoảng 10-29g. Hạt phát tán nhờ nƣớc. Các cá thể Bình vôi trồng từ hạt
thƣờng sinh trƣởng, phát triển khá nhanh. Chỉ sau 5-6 tháng tuổi, cây đã vƣơn
dài tới 50-80(-100) cm, phân cành khỏe. Ở một số loài, cây có thể bắt đầu ra
hoa và cho quả khi mới bƣớc vào giai đoạn 6- 8 tháng tuổi. Trong quá trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
sinh trƣởng, rễ chính thƣờng lớn dần tạo thành củ (ớ những loài có củ) hoặc
phân nhánh nhiều tạo thành rễ dạng sợi (ở những loài chỉ có rễ dạng sợi) [15].
1.1.3. Kỹ thuật nhân giống và gây trồng
Có thể nhân giống Bình vôi bằng cả phƣơng pháp vô tính hoặc hữu tính.
Với các loài Bình vôi không có củ (chỉ có rễ dạng sợi) thì có thế nhân
giống rất dễ dàng bằng các đoạn hom dây lấy từ thân hoặc cành. Còn với các
loài Bình vôi có củ thƣờng chỉ có thể nhân giống sinh dƣỡng bằng các mảnh
củ ở phía gần gốc. Tuy nhiên, hệ số nhân giống vô tính thƣờng thấp, chỉ gấp
có 2-4 lần và tốc độ tăng truởng cũng rất chậm.
Nhân giống Bình vôi từ hạt là biện pháp có hiệu quả cao. Hạt Bình vôi
STT Nhóm chất
Số lƣợng alkaloid
Gồm 6 chất đƣợc phân lập từ 6 loài khác nhau
1
Benzylisoquinolin
2
Bisbenzilisoquinolin Gồm 47 chất đƣợc phân lập từ 14 loài
3
Aporphin
Gồm 75 chất đƣợc phân lập từ 33 loài
4
Proaporphin
Gồm 8 chất đƣợc phân lập từ 9 loài
5
Protoberberin
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
Bảng 1.3. Một số nghiên cứu về alcaloid đã đƣợc phân lập từ một số
loài Bình vôi ở Việt Nam
STT
1
Nhóm chất
Benzylisoquinolin
Tên chất
Phân lập từ
loài
TLTK
Laudanidin
S. sinica Diels
[10]
Cycleanin
Stephania sp3
Dehydrocrebanin
2
Bisbenzilisoquinolin
3
Ethyl
S. dielsiana
Y.C.Wu
S. dielsiana
Y.C.Wu
[7]
[7]
N-[2-(8,9-
dimethoxyphenanthrol[
Aporphin
8
3,4-d][1,3]dioxol-(5-
Stephania sp.
Bảng 1.4. Hoạt tính sinh học của alkaloid phân lập từ một số loài thuộc
chi Bình vôi Stephania
Hoạt tính
Tên chất
TLTK
Dehydroroemerine,
tetrahydropalmatine, xylopinine,
cepharanthine, NChống sốt rét
methylliriodendronine, 2-O,N-
[25], [61]
dimethylliriodendronine,
liriodenine, dicentrinone, corydine,
aloe-emodine
Glabradine, dịch chiết trong cồn từ
củ từ loài S. glabra (Roxb.) Mies,
Kháng sinh
dịch chiết trong methanol từ rễ của
loài S. japonica, cepharanone D,Nformyl-asimilobine, N-
[44], [71], [72],
[73], [81],
[82],[83]
dịch chiết trong cồn từ củ của loài
[34], [37], [39],
S. venosa (Blume) Spreng,
[42], [46], [48],
aporphine, cepharanthine,
[51], [53], [54],
cepharanoline, isotetrandrine,
[58], [59],
berbamine, cepharanthine, (−)-
[60],[62], [63],
asimilobine-2-O-_-D-glucoside,
[66], [76], [77],
(−)-nordicentrine, (+)-2-N-
[79], [82], [83],
methyltelobine, 7-
giảm đau
tetrahydropalmatin, cepharinthin
Miễn dịch
Tetrandrine
[41], [67]
Chặn kênh Ca2+
Tetrandrine
[70], [78]
Ức chế
Protoberberine, stepharanine,
Acetylcholinesterase cyclanoline, N-methyl stepholidine
Chống oxi hóa
Fangchinoline cepharanthine
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
[26], [35], [43],
[49], [50], [52],
Caseanine.
1.4.2. Tính chất lí học
Tính chất
Tinh thể màu trắng hay hơi vàng, không mùi, không vị. Bị chuyển
thành màu vàng khi tiếp xúc với ánh sáng hoặc nhiệt. Tan trong cloroform,
hơi tan trong ethanol và ether, không tan trong nƣớc, dễ tan trong acid sulfuric
loãng.
Điểm chảy
141 C đến 144 C.
Góc quay cực riêng
-290o đến -300o, tính theo chế phẩm đã làm khô.
Dùng dung dịch chế phẩm có nồng độ 8 mg/ml trong ethanol 96 % để
đo ở nhiệt độ 25 oC.
Độ hấp thụ riêng
Đo độ hấp thụ của dung dịch chế phẩm có nồng độ 30
g/ml trong
dung dịch acid sulfuric 0,5 % ở bƣớc sóng 281 nm. Giá trị A (1%,1 cm) phải
từ 150 đến 160 [3].
1.4.3. Tính chất hóa học
Rotundin hay L-tetrahydropalmatin là alkaloid có tính kiềm yếu. Có thể
giải phóng nó ra khỏi muối của nó bằng những kiềm trung bình và mạnh nhƣ
NH4OH, MgO, cacbonat kiềm, NaOH…. Ngƣời ta sử dụng tính chất này để
định lƣợng L-tetrahydropalmatin trong nguyên liệu thực vật cũng nhƣ để tủa
nó trong quá trình chiết alkaloid toàn phần.
Phản ứng tạo tủa: L-tetrehydropalmatin cho phản ứng với các thuốc thử
chung cho alkaloid. Các thuốc thử chung thƣờng dùng để nhận biết là:
- Thuốc thử Mayer (K2HgI4) cho tủa trắng hay vàng nhạt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
Theo Nguyễn Tiến Vững [21], [21] đã tiến hành thăm dò tác dụng của
L-tetrahydropalmatin trên điện não thỏ. Tất cả các thỏ đƣợc tiến hành đặt
điện cực vào vùng cảm giác, vận động và thể lƣới thân não. Kết quả là sau
khi cho thỏ uống L-tetrahydropalmatin với liều 100 mg/kg thể trọng trong 7
ngày liền, thành phần các sóng điện não trong vỏ não vùng cảm giác-vận
động và trong thể lƣới thân não có những biến động rõ. Sự tăng thành phần
sóng chậm denta và giảm thành phần sóng nhanh beta chứng tỏ rằng Ltetrahydropalmatin có tác dụng tăng cƣờng quá trình ức chế trong các tế bào
thần kinh ở vỏ bán cầu đại não và thể lƣới thân não. Theo Dƣơng Hữu Lợi
[12] khi tiêm cho chuột nhắt trắng 0,1 ml dung dịch L- tetrahydropalmatin ở
các nồng độ khác nhau: 0,5%, 1%, 2% nhận thấy đều có tác dụng làm chuột
nhắt trắng trấn tĩnh, tác dụng này đƣợc duy trì trong vòng 3-5 giờ.
Khi dùng theo đƣờng tiêm bắp, thuốc tiêm Rotundin sulfat có tác dụng
ức chế thần kinh trung ƣơng, tƣơng tự nhƣ diazepam [4].
Theo Zhu X. Z. [87] D-tetrahydropalmatin và L-tetrahydropalmatin
đƣợc phân lập từ nhiều loài thuộc chi Stephania và cây Corydalis ambigua
không chỉ có tác dụng giảm đau mà còn có tác dụng an thần gây ngủ.
Phạm Duy Mai và Phan Đức Nhuận [14], trong nghiên cứu đã cho thấy
gindarin hydroclorid (L- tetrahydropalmatin hydroclorid) và hỗn hợp alcaloid
chiết từ củ Bình vôi đều tăng cƣờng tác dụng gây ngủ của thiopental một
cách rõ rệt. Gindarin hydroclorid với liều 30 mg/kg thể trọng chuột có khả
năng kéo dài thời gian ngủ lên 1,5 lần. Hỗn hợp alcaloid với liều 100 mg/kg
thể trọng chuột cũng có tác dụng tƣơng đƣơng. Nguyễn Tiến Vững [21] đã
thử tác dụng kéo dài thời gian gây ngủ của L-tetrahydropalmatin trên chuột
nhắt trắng cho thấy L- tetrahydropalmatin đã kéo dài giấc ngủ của pentotal rất
rõ rệt, liều 40 mg/kg thể trọng chuột (bơm trực tiếp vào dạ dày) đã làm tăng
thời gian ngủ cùa chuột lên 8 lần.
siro Rotunda, thuốc tiêm Rotunda 30 mg/viên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
- Viên Rotunda 30 mg (xí nghiệp dƣợc phẩm TW I).
- Rotundin 30 (30 mg/viên) (Sao Kim Pharma).
- Rotundin 30 (30 mg/viên) (DNA pharma).
- Học viện Quân y nghiên cứu sản xuất thuốc Rotundin sulfat tiêm 60
mg/2ml.
- Xí nghiệp dƣợc phẩm Hà nội sản xuất viên Roxen 30 (30 mg/viên),
chè an thần.
- Công ty cổ phần Traphaco sản xuất viên Stilux (60 mg/viên), Trasleep
(30 mg/viên).
- Roduxen viên nén 30 mg của công ty cổ phần Dƣợc và thiết bị vật tƣ
Y tế Thanh hóa.
- Siro an thần của công ty cổ phần Dƣợc và thiết bị vật tƣ Y tế Thanh
hóa.
- Rotundin 30 mg, Rotundin F của công ty Dƣợc phẩm USA - NIC
pharma.
- Nightqueen (30 mg/viên) của công ty DHG Pharma.
- Ginkgomin platinum của công ty Dƣợc phẩm Thiên phúc.
1.6. Các phƣơng pháp định lƣợng Rotundin
1.6.1. Phương pháp kết tủa với AgNO3 [68], [69]
Tiến hành: Trong một bình định mức 50 ml, hòa tan một lƣợng chế
phẩm khoảng 0,3g Rotundin trong 2 ml acid acetic, thêm 15 ml nƣớc cất, đun
nóng nhẹ cho hòa tan hết, trộn đều. Thêm chính xác 25,0 ml dung dịch kali
iodide 1,7%, pha loãng với nƣớc cất đến vạch, trộn thêm 3-5 giọt chỉ thị natri
eosin, chuẩn độ bằng dung dịch AgNO3 0,05 M cho đến khi xuất hiện tủa mầu
Đƣa dung dịch chuẩn Rotundin và dung dịch thử lên cùng một bản
mỏng. Tiến hành triển khai bằng dung môi thích hợp để tách Rotundin ra khỏi
các alkaloid khác. Phun thuốc thử hiện mầu hay soi dƣới đèn tử ngoại ở bƣớc
sóng 254 nm để xác định vết Rotundin trong dung dịch thử tƣơng ứng với vết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
Rotundin của dung dịch chuẩn. Xử lý bản mỏng để xác định hàm lƣợng
Rotundin trong vết dựa trên các vết của dung dịch chuẩn [31].
1.6.5. Phương pháp định lượng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao
Điều kiện sắc ký cột:
- Cột RP18 (250 x 4.0 mm; 5µm)
- Tốc độ dòng: 1µl/phút
- Detector UV với bƣớc sóng phát hiện 283 nm
- Nhiệt độ phân tích: Nhiệt độ phòng
- Thể tích tiêm: 20 µl
Pha động: Hỗn hợp gồm dung dịch KH2PO4 0,05 M (62,5 ml), acetonitril
(37,5 ml) và triethylamin (0,5 ml). Dùng dung dịch acid phosphoric đặc để
điều chỉnh pH đến 4,0. Lọc qua màng lọcmịn cỡ 0.45 um, lắc siêu âm trong 5
phút để loại bỏ khí.
Chuẩn bị mẫu: Pha dung dịch chuẩn và dung dịch thử có nồng độ tƣơng
đƣơng khoảng 0,04 mg Rotundin khan trong 1 ml pha động.
Thời gian lƣu của Rotundin là 4,32 phút. So sánh diện tích của pic Rotundin
chuẩn với diện tích của mẫu thử từ đó tính ra kết quả.
1.7. Ứng dụng của sắc ký lớp mỏng trong phân tích định lƣợng
Ngày nay với các tiến bộ của kỹ thuật và thiết bị xử lý bản mỏng sau
khai triển và các phƣơng tiện lƣợng hóa lƣợng mẫu đƣa lên bản mỏng việc sử
dụng bản mỏng để định lƣợng các hợp chất ngày càng đƣợc áp dụng một cách
1.7.2. Các phương pháp định lượng trực tiếp trên bản mỏng
Các phƣơng pháp thuộc nhóm này dựa trên nguyên tắc xác định lƣợng
chất có trong vết dựa vào diện tích hay cƣờng độ màu của vết. Trƣờng hợp
không có điều kiện và chấp nhận sai số lớn có thể so sánh trực tiếp bằng mắt
về độ lớn và màu sắc của các vết. Hiện nay có rất nhiều phƣơng tiện có thể hỗ
trợ cho việc tiến hành định lƣợng trên bản mỏng nhƣ: máy đo mật độ vết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
(densitometer), các hệ thống video (CCD camera.: charge-coupled device
camera), máy quét (flatbed scanner).
1.7.3. Các biện pháp xử lý vết trên bản mỏng trong định lượng
a) So sánh bằng mắt:
Đây là phƣơng pháp nhanh và đơn giản, không cần thiết bị đặc biệt. Phƣơng
pháp này thuận tiện cho việc bán định lƣợng với sai số khoảng 20%. Nhƣng
vì so sánh các vệt với nhau về độ lớn và màu sắc một cách trực tiếp trên bản
mỏng nên phƣơng pháp này rất phụ thuộc chủ quan ngƣời so sánh.
b) Đo diện tích vết
Quan hệ diện tích vết và lƣợng chất trong vết: việc đo diện tích vết sẽ khách
quan hơn nhiều so với phƣơng pháp so bằng mắt. Sai số cũng nhỏ hơn khoảng
5 – 10% và có thể đạt đến 3%. Diện tích của vết phụ thuộc vào lƣợng chất, bề
dày và hoạt tính của lớp mỏng, thể tích dung dịch mẫu đƣợc đƣa lên bản
mỏng, kích thƣớc của điểm xuất phát cũng nhƣ vị trí của nó trên bản mỏng.
Trong khoảng lƣợng chất từ 1 đến 100 ug, giữa diện tích của vết S và
logarit của lƣợng chất M có quan hệ tuyến tính: S = a.lgM + b với a, b là các
hằng số thực nghiệm. Một số ngƣời cho rằng căn bậc hai của diện tích vế có
quan hệ tuyến tính logarit khối lƣợng chất trong phạm vi khá rộng về nồng độ
theo công thức:
e) Xử lý hình ảnh với máy quét văn phòng
Các hệ thống phân tích hình ảnh thƣờng có giá thành cao, một phƣơng
pháp khác cũng đƣợc áp dụng là dùng máy quét văn phòng (scanner) để thu
đƣợc hình ảnh bản mỏng [18]. Hình ảnh bản mỏng có thể đƣợc đo kích thƣớc
bằng tay hay tự động trong các chƣơng trình đồ hoạc trên máy tính hay xử lý
với các phần mềm chuyên dụng. Đây là phƣơng pháp có thể thu đƣợc kết quả
nhanh và giá thành thấp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
/>
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Loài Bình vôivà củ Bình vôi đƣợc thu thập ở một số tỉnh Hà Giang, Sơn
La, Cao Bằng, Lào Cai, Hòa Bình, Tây Nguyên vào khoảng tháng 4, tháng 5
năm 2014.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp điều tra đánh giá, thu thập và xác định tên loài thực
vật
- Điều tra thực địa: Điều tra theo tuyến chọn lựa.
- Quan sát và mô tả đặc điểm hình thái thực vật, điều kiện sinh trƣởng và
phát triển của cây tại thực địa.
- Thu hái, làm tiêu bản mẫu cây.
- Giám định tên khoa học: Dùng phƣơng pháp hình thái so sánh; tra cứu
các tài liệu chuyên khảo về khóa phân loại các loài Bình vôi.
2.2.2. Phương pháp xử lý mẫu thực vật
Mẫu củ Bình vôi tƣơi đƣợc rửa sạch đất cát, để ráo nƣớc, rồi đem thái lát
mỏng và băm nhuyễn. Sau đó đƣợc ngâm trong dung dịch axít theo quy trình
chiết tổng alkaloid toàn phần.