Yếu tố quyết định chọn Trường ĐHTG của học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang - Pdf 34

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU – Năm 2013

Yếu tố quyết định chọn Trường ĐHTG của học sinh
Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

Tác giả: Nguyễn Thanh Phong
Cell: 0918 176 546 – Email: [email protected]

www.khaitrivn.wordpress.com

-1-


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hai năm trở lại đây và nhất là năm 2012, việc tuyển sinh của các trường
ĐH – CĐ ngoài công lập (NCL) cũng như một số trường công lập cấp địa phương gặp
nhiều khó khăn, hầu hết các trường đều không thực hiện được kế hoạch tuyển sinh
riêng. Năm 2012, trong số hơn 80 trường NCL chỉ có một số nhỏ trường tuyển sinh
được gần đủ hoặc đủ chỉ tiêu. Phần lớn các trường tuyển được chỉ khoảng 30 - 60%,
không ít trường ở mức 20 - 30%, thậm chí có trường chỉ tuyển được một lượng nhỏ
đáng kể. Trong số hàng loạt những trường không tuyển đủ chỉ tiêu như trên, có không
ít trường ĐH NCL đã được Bộ Giáo dục và đào tạo kiểm định, nhiều năm nay vẫn
thiếu chỉ tiêu mặc dù có cơ sở vật chất khá khang trang, có đội ngũ giảng viên là những
giáo sư nổi tiếng và đội ngũ lãnh đạo là những người đã từng đảm đương vai trò quản
lý chủ chốt trong ngành.[14]
Là một trong những trường công lập ở địa phương, kết quả tuyển sinh của
Trường ĐHTG năm 2012 cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù công tác tư vấn tuyển
sinh của Trường đã đi vào chiều sâu và chiều rộng, lớn cả về quy mô số lượng và chất
lượng, HS THPT được tư vấn tăng đến 150% nhưng số thí sinh dự thi vào Trường
ĐHTG lại không tăng theo tỉ lệ này. Công tác tổ chức tuyển sinh diễn ra an toàn,

ảnh hưởng đến quyết định chọn Trường ĐHTG trên cơ sở khảo sát các HS THPT trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang.
- Phân tích kết quả nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, khuyến nghị.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu


Khách thể:

Việc chọn Trường ĐHTG của HS THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.


Đối tượng nghiên cứu:

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn Trường ĐHTG của HS THPT trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang.
5. Phạm vi nghiên cứu


Không gian nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Dự kiến khảo sát 15/34
trường THPT theo khu vực và chất lượng đào tạo như sau:
-3-


Bảng 1. Ma trận chọn trường TPTH khảo sát
Khu vực

Thành phố,
thị xã


1

3

5

Tổng

5

5

5

15

Chất lượng đào tạo



Thời gian nghiên cứu:

Khảo sát được tiến hành trong năm học 2013 – 2014.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Có bốn nhóm yếu tố (Đặc điểm của Trường ĐHTG; Đặc điểm bản thân học
sinh; Các cá nhân có ảnh hưởng đến việc chọn trường; Nỗ lực giao tiếp với HS THPT
của Trường ĐHTG) ảnh hưởng đến quyết định chọn Trường ĐHTG.
7. Phương pháp nghiên cứu


Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu làm cơ sở để kiểm
định thang đo và mô hình nghiên cứu. Công cụ chính dùng để xử lý dữ liệu nghiên cứu
là phần mềm SPSS 16.0.
8. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của đề tài nghiên cứu
bao gồm 03 chương. Cụ thể:
Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan
Chương 2. Mô hình nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu

-5-


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Nghề nghiệp và lợi ích của định hướng nghề nghiệp
1.1.1. Nghề nghiệp
Lựa chọn nghề nghiệp là một trong những việc quan trọng mà HS lớp 12 sẽ phải
thực hiện trong việc xác định kế hoạch tương lai và quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến họ
trong suốt cuộc đời. Bản chất của việc chọn lựa này là xoay quanh những gì mà các HS
THPT muốn làm lâu dài ở tương lai. Vậy nghề nghiệp là gì?
Nghề nghiệp là khái niệm chung dành để chỉ những công việc sẽ gắn với bản
thân của mỗi người trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan trọng của họ. Nghề
nghiệp hay hoạt động nghề nghiệp được hiểu là hoạt động phục vụ cho cơ sở tồn tại và
hướng vào việc kiếm sống, việc này phải làm lâu dài, miệt mài và để hoàn thành cần có
kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm (trình độ chuyên môn) theo tổ hợp đặc biệt.
Nghề nghiệp là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao
động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực
hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định.
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề

nhìn vào đó có thể đoán được bạn là ai trong tương lai. Việc định hướng tốt nghề
nghiệp sẽ giúp các em đưa ra được những hoạt động cho bản thân nhằm trau dồi kiến
thức chuyên môn cũng như các kỹ năng bổ trợ để mang lại thành công trong công việc
mình lựa chọn sau này.
Định hướng tốt cho nghề nghiệp trong tương lai còn có thể giúp học sinh tiết
kiệm hơn công sức, tiền bạc của gia đình, xã hội. Lượng vật chất các em bỏ ra sẽ không
là phí phạm và vô ích. Điều đặc biệt mà các HS THPT có được đó chính là không bị
lãng phí nhiều thời gian trong cuộc đời. Để tương lai, các em không phải hối tiếc về
quãng thời gian sinh viên tươi đẹp cũng như không phải hối hận về việc chọn lựa con
đường mình sẽ đi.

-7-


1.1.3. Các khái niệm công cụ
1.1.3.1. Lựa chọn
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để
quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay
cách thực hiện để có thể đạt được mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực.
[4]
1.1.3.2. Chọn trường
Các em học sinh lớp 12 trước khi chuẩn bị tốt nghiệp thường được nhà trường,
gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu
nghề nghiệp và học lực. Sau khi chọn ngành, nghề mình thích, căn cứ vào các tiêu chí
như: năng lực bản thân, điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển sinh, nhu cầu xã hội, việc làm sau
khi ra trường, điều kiện vị trí địa lý,... học sinh sẽ xác định cấp học phù hợp với năng
lực rồi chọn trường và làm các thủ tục đăng ký dự thi. Trong nghiên cứu này, khái
niệm chọn trường được hiểu là quyết định chọn trường đại học, cao đẳng (học viện) để
đăng ký dự thi và theo học sau khi tốt nghiệp THPT.[4]
Trước khi chọn trường, phải trả lời thật chính xác câu hỏi cơ bản nhất về chính

tự sàng lọc những nguồn tư vấn để tự mình tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản
thân. Từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không
phù hợp với mình.
Để công tác hướng nghiệp đạt hiệu quả, cần phải đa dạng các hình thức hướng
nghiệp, hướng nghiệp thường xuyên, liên tục trong suốt cả năm học. Bên cạnh việc
thực hiện giảng dạy theo chương trình của Bộ, nhà trường cần chỉ đạo, khơi dậy tinh
thần trách nhiệm của đội ngũ sư phạm, để mỗi thầy cô là một “tư vấn hướng nghiệp”
cho học sinh. Phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, nhất là Đoàn Thanh
niên xen kẽ vào buổi sinh hoạt dưới cờ hàng tuần nội dung hướng nghiệp dưới nhiều
hình thức: Hái hoa dân chủ, tìm hiểu về nghề nghiệp… Tổ chức các buổi sinh hoạt
ngoại khóa với các chủ đề: Ước mơ nghề nghiệp tương lai, đại học có phải duy nhất để
lập nghiệp, để chọn được ngành nghề phù hợp… Song song đó, trên các bảng thông tin
của nhà trường cần thường xuyên cập nhật những thông tin tuyển sinh, danh mục cũng
như điểm chuẩn năm trước của hệ thống các trường đại học, cao đẳng, nghề… Ngoài
ra, nhà trường cần liên hệ với phụ huynh học sinh để cùng kết hợp tư vấn hướng
-9-


nghiệp cho các em. Có như vậy, hoạt động hướng nghiệp mới đi vào chiều sâu, đạt
hiệu quả cao, giúp học sinh hiểu được ngành, hiểu được nghề, hiểu được chính mình để
lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho phù hợp.
1.1.3.4. Tư vấn hướng nghiệp
Tư vấn hướng nghiệp là tư vấn về sự hỗ trợ khách quan và cả cách nỗ lực chủ
quan trong quá trình hướng nghiệp. Nó có lợi cho người đang cần tư vấn hướng nghiệp
và cũng lợi cho cả người cần dẫn dắt người khác hướng nghiệp. Như vậy, tư vấn
hướng nghiệp là một quá trình hoạt động tích cực, tự giác của học sinh dưới sự hướng
dẫn của nhà trường, của gia đình cùng sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội để giúp học
sinh tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp và chọn được ngành nghề phù hợp trong tương
lai.
Tư vấn có hiệu quả thiết thực sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh cuối cấp

1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Joseph Sia Kee Ming – Khoa Marketing và Quản lý Trường Kinh doanh Curtin
University, Sarawak Malaysia, đã đề xuất mô hình khung khái niệm các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của sinh viên tại Malaysia. Kết quả nghiên cứu
đã chỉ ra rằng quyết định chọn trường ĐH của sinh viên chịu sự ảnh hưởng của “Nhóm
yếu tố các đặc điểm cố định của trường ĐH” bao gồm: vị trí; chương trình đào tạo;
danh tiếng; cơ sở vật chất; chi phí học tập; hỗ trợ tài chính; cơ hội việc làm và “Nhóm
yếu tố các nỗ lực giao tiếp với sinh viên” bao gồm: quảng cáo; đại diện tuyển sinh,
giao lưu với các trường phổ thông; thăm viếng khuôn viên trường ĐH. Mô hình do tác
giả đề xuất chỉ dừng lại ở mức giới thiệu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định
chọn trường ĐH – CĐ, do đó cần phải tiến hành đo lường các yếu tố và kiểm định sự
phù hợp của mô hình.[9]
Russayani ISMAIL & Ctg đã thực hiện đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa
chọn điểm đến giáo dục” nghiên cứu trường hợp sinh viên quốc tế tại ĐH Utara
Malaysia. Nghiên cứu nêu bật vai trò quan trọng của việc duy trì chất lượng giáo dục
để đảm bảo khả năng cạnh tranh dài hạn và cố gắng xác định các yếu tố có thể ảnh
hưởng đến việc ra quyết định của sinh viên quốc tế khi lựa chọn điểm đến giáo dục đại
học. Bằng cách sử dụng một mẫu khảo sát của 300 sinh viên quốc tế tại ĐH Utara
Malaysia, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng dịch vụ tuyệt vời, môi trường xã hội dễ
-11-


chịu, cơ sở vật chất, các giảng viên chất lượng cao là các nhân tố then chốt ảnh hưởng
đế quyết định của sinh viên. Nhóm tác giả đã đề xuất mô hình khá hoàn chỉnh, tuy
nhiên, nghiên cứu này chỉ có thể áp dụng được tại các trường đại học đào tạo sinh viên
quốc tế.[11]
MeiTang, WeiPan và Mark D. Newmeyer vận dụng mô hình Lý thuyết phát
triển xã hội nghề nghiệp (Hackett & Ctg, 1994) khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến xu
hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trung học. Nghiên cứu này cho thấy các yếu
tố như: kinh nghiệm học tập, khả năng tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, các lợi ích và

ảnh hưởng đến việc sinh viên chọn trường bao gồm: Nỗ lực của nhà trường đưa thông
tin đến học sinh sắp tốt nghiệp THPT; Chất lượng dạy và học; Đặc điểm của bản thân
sinh viên; Công việc trong tương lai; Khả năng đậu vào trường; Người thân trong gia
đình; Người thân ngoài gia đình[3]. Nghiên cứu này được tiến hành khá công phu, là
sản phẩm đặc thù của riêng Trường Đại học Mở TP. HCM. Tuy nhiên, theo quan điểm
của tác giả, kết quả nghiên cứu vẫn còn đến 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định,
điều này không có gì sai nhưng với kết quả như vậy vận dụng vào thực tế sẽ rất khó.
Trần Văn Quí và Cao Hào Thi, Trường ĐH Bách khoa – ĐHQG TP. HCM, đã
tiến hành nghiên cứu đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của
học sinh trung học phổ thông”. Kết quả phân tích 227 bảng trả lời của học sinh lớp 12
năm học 2008 – 2009 của 5 trường THPT tại Quảng Ngãi cho thấy 5 yếu tố bao gồm
yếu tố cơ hội việc làm trong tương lai; yếu tố đặc điểm cố định của trường đại học; yếu
tố về bản thân cá nhân học sinh; yếu tố về cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định của
học sinh và yếu tố về thông tin có sẵn ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học.
Từ kết quả nghiên cứu này, các tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp đỡ gia
đình, nhà trường và các tổ chức giáo dục có biện pháp thiết thực nhằm định hướng có
phương pháp và tạo điều kiện tốt nhất cho các HS THPT lựa chọn trường một cách tốt
nhất có thể. Tuy nhiên, mô hình này chỉ mới giải thích được vấn đề nghiên cứu ở mức
21,5% khi nhân rộng ra tổng thể. Vì vậy cần tăng thêm kích thước mẫu nghiên cứu,
phạm vi nghiên cứu.
Nguyễn Phương Toàn, đã thực hiện luận văn thạc sĩ “Khảo sát các yếu tố ảnh
hưởng đến việc chọn trường của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang ”.
Kết quả nghiên cứu đã đề xuất mô hình hồi quy gồm có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến
-13-


việc chọn trường của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang từ mạnh đến
yếu như sau: Yếu tố về mức độ đa dạng và hấp dẫn ngành đào tạo; yếu tố về đặc điểm
của trường đại học; yếu tố về khả năng đáp ứng sự mong đợi sau khi ra trường; yếu tố
về những nỗ lực giao tiếp của trường ĐH và yếu tố về danh tiếng của trường đại học.

mạnh rằng những mong đợi về công việc trong tương lai của học sinh cũng là một
nhóm yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh.
Joseph Sia Kee Ming (2010) đã đề xuất mô hình khung khái niệm các yếu tố
ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của sinh viên tại Malaysia. Kết quả nghiên
cứu đã chỉ ra rằng quyết định chọn trường ĐH của sinh viên chịu sự ảnh hưởng của
“Nhóm yếu tố các đặc điểm cố định của trường ĐH” bao gồm: vị trí; chương trình đào
tạo; danh tiếng; cơ sở vật chất; chi phí học tập; hỗ trợ tài chính; cơ hội việc làm và
“Nhóm yếu tố các nỗ lực giao tiếp với sinh viên” bao gồm: quảng cáo; đại diện tuyển
sinh, giao lưu với các trường phổ thông; thăm viếng khuôn viên trường ĐH.
Nhìn chung, có nhiều nhóm yếu tố ảnh hường đến quyết định lựa chọn trường
đại học của HS THPT đã được khám phá và công bố. Tuy nhiên, để tiến hành thực hiện
đề tài này, tác giả sẽ dựa vào các kết quả nghiên cứu trên nhưng có sự chọn lọc, điều
chỉnh và bổ sung để hình thành mô hình nghiên cứu mới sao cho phù hợp với mục đích
đặt ra của đề tài.
1.3.2. Các giả thuyết nghiên cứu
1.3.2.1. Nhóm yếu tố đặc điểm cố định của Trường ĐHTG
 Vị trí tọa lạc của trường ĐH:
Sevier (1986) qua công trình nghiên cứu của mình đã cho thấy địa điểm trường
đại học có thể là một yếu tố quan trọng quyết định khả năng lựa chọn trường ĐH của
học sinh. Một số sinh viên có thể tìm kiếm trường ĐH gần nhà hoặc gần nơi làm việc
cho thuận tiện (Absher & Crawford năm 1996; Servier, 1994). Một nghiên cứu của
Kohn và cộng sự (1976) đã kết luận rằng yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sinh
viên đi học đại học là do nhà của họ gần với một tổ chức giáo dục nào đó. Hossler &
Gallagher (1990) cho biết khả năng HS theo học tại các trường ĐH gần trường THPT
là khá cao dù các em chưa từng tham gia các hoạt động trong khuôn viên những trường
ĐH này. Có thể thấy rằng với một chi phí thấp, vị trí địa lý gần trường đại học là một

-15-





để giảm chi phí là một ảnh hưởng tích cực. Vì vậy, chi phí học tập đóng vai trò hết sức
quan trọng và quyết định khả năng chọn trường đại học của học sinh.


Hỗ trợ tài chính:

Một nghiên cứu được tiến hành bởi Yusof (2008) nhận thấy yếu tố hỗ trợ tài
chính được cung cấp bởi các trường đại học là một trong bốn yếu tố then chốt ảnh
hưởng đến quyết định chọn trường. Trường ĐH nào tạo điều kiện cho học sinh có cơ
hội tiếp cận và thụ hưởng các hỗ trợ tài chính thì có nhiều khả năng được các em lựa
chọn (Jackson, 1988; Litten, 1982; Manski & Wise, 1983). Ismail (2009) đã nghiên
cứu về sự ảnh hưởng của thông tin đến việc lựa chọn trường đại học, trong đó chỉ ra
rằng sinh viên hài lòng với quyết định chọn trường dựa trên sự hài lòng về thông tin
của họ với các yếu tố tài chính liên quan, trong đó bao gồm hỗ trợ tài chính và chi phí
học tập hợp lý. Dựa vào kết quả đề cập ở trên, có thể kết luận rằng hỗ trợ tài chính có
một sức ảnh hưởng đáng kể đến việc chọn trường đại học của học sinh phổ thông.


Cơ hội việc làm:

Sevier (1998) cho biết học sinh thường bị thu hút bởi yếu tố cơ hội nghề nghiệp
sau khi tốt nghiệp. Theo Paulsen (1990), các em có xu hướng chọn trường đại học dựa
trên cơ hội việc làm dành cho sinh viên đã tốt nghiệp đại học. Họ rất quan tâm đến cơ
hội có được việc làm và thường bị ảnh hưởng bởi chính những gì sinh viên tốt nghiệp
đang làm, những đóng góp cho xã hội của trường đại học (Sevier, 1997). Do đó, cơ hội
việc làm là một yếu tố dự báo có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định lựa chọn trường
đại học của học sinh.
1.3.2.2. Nhóm yếu tố nỗ lực giao tiếp của Trường ĐHTG với HS THPT

thăm khuôn viên trường là việc làm không thể thiếu ở các trường đại học vì nó có ảnh
hưởng đến quyết định nên chọn trường nào để đăng ký theo học của các em.
1.3.2.3. Nhóm yếu tố đặc điểm bản thân học sinh


Khát vọng thành công:

Carpenter và Fleishman (1987), Gilmour và các cộng sự (1981), Jackson (1978)
khám phá ra nguyện vọng được học tập những ngành nghề mà bản thân học sinh thích
thú và cho rằng mình sẽ thành công trong tương lai có ảnh hưởng rất lớn đến quyết
định chọn trường đại học có ngành đào tạo này. Nguyện vọng được học chuyên ngành
theo sở thích cá nhân và kế hoạch nghề nghiệp tương lai là các yếu tố quan trọng để
các em có cái nhìn tổng quát hơn khi lựa chọn trường học cho mình.


Nhận thức năng lực cá nhân:

Theo Hossler (1984), khi học sinh nhận thức được khả năng bản thân có thể học
tốt một ngành đào tạo cụ thể nào đó theo sở trường của mình thì chắc hẳn các em sẽ
đăng ký dự thi vào những trường đại học có ngành đào tạo này. Manski & Wise (1983)
cho biết, sự lựa chọn ngành học phù hợp với cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong
quyết định chọn trường đại học của học sinh.

-18-




Kết quả học học tập ở trường THPT:


đưa ra quyết định chọn trường học cho học sinh.
-19-


1.3.3. Thang đo lường và ý nghĩa của thang đo lường
 Khái niệm thang đo lường:
Thang đo là công cụ dùng để quy ước (mã hóa) các đơn vị phân tích theo các
biểu hiện của biến. Ngày nay với việc sử dụng máy tính thì việc mã hóa thường được
thực hiện bằng con số. Có 4 loại thang đo được sử dụng trong nghiên cứu, đó là: (1)
thang đo định danh (nominal scale); (2) thang đo thứ tự (ordinal scale); (3) thang đo
khoảng (interval scale) và (4) thang đo tỉ lệ (ratio scale).
 Giới thiệu các loại thang đo:
-

Thang đo định danh (nominal scale):
Thang đo định danh phản ánh sự khác nhau về tên gọi, màu sắc, tính chất, đặc

điểm…của các đơn vị. Những con số được gán cho mỗi biểu hiện của thang đo chỉ
mang tính quy ước, nói lên sự khác biệt về thuộc tính giữa các đơn vị, chứ không nói
lên sự khác biệt về lượng giữa các đơn vị đó, vì thế không thể dùng các con số này để
tính toán. Ví dụ:
+ Giới tính của người trả lời: nữ (0), nam (1)
+ Tình trạng hôn nhân của người trả lời : đã có gia đình (1), chưa có gia đình (2)
+ Các cửa hàng mà người tiêu dùng đã đến mua sắm: cửa hàng A, cửa hàng B,
cửa hàng C, cửa hàng D…
- Thang đo thứ tự (ordinal scale):
Thang đo thứ tự phản ánh sự khác biệt về thuộc tính và về thứ tự hơn kém giữa
các đơn vị. Có thể dùng các con số xếp theo thứ tự tăng dần hay giảm dần để biểu hiện
thang đo. Không thể tính toán trên những con số này.
Ví dụ: Mức độ ưa thích của bạn đối với các cửa hàng mà bạn đã đến mua sắm

rất không
quan trọng

Sự ngắn gọn dễ nhớ

1

2

3

4

5

Hình ảnh

1

2

3

4

5

Âm thanh

1


là những quan tâm của người nghiên cứu cần được đo lường, đánh giá, vì thế thông tin
về chúng là rất cần thiết cho các quyết định quản trị. Bên cạnh đó, các cố gắng để gắn
số liệu cho các đặc tính sự vật là hết sức quan trọng vì phân tích tính toán và thống kê
chỉ có thể thực hiện bằng các con số.
1.4. Tóm tắt Chương 1
Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu có
liên quan đến đề tài nghiên cứu. Qua việc trình bày cơ sở lý luận cho thấy xu hướng
chọn trường, chọn nghề của HS THPT là một thành tố, nó có mối quan hệ ảnh hưởng
với nhiều thành tố khác. Phần trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước đã tập trung giới thiệu, phân tích các nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước có nội dung liên quan đến việc chọn nghề, chọn trường ĐH - CĐ của HS
THPT. Đồng thời, Chương 1 cũng đã trình bày giả thuyết các nhóm yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định chọn ĐHTG của HS THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và giới thiệu
các loại thang đo lường ứng dụng trong nghiên cứu.

-22-


Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1.

Giới thiệu Trường ĐHTG

2.1.1. Lược sử hình thành Trường ĐHTG
Trường ĐHTG được thành lập theo quyết định số 132/2005/QĐ-TTg ngày
06/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở hợp nhất Trường Cao đẳng Sư phạm
Tiền Giang (thành lập 9/1997 trên cơ sở hợp nhất Trường Cao đẳng Sư phạm và
Trường Trung học sư phạm mà tiền thân là 4 trường Sư phạm của tỉnh được thành lập
từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng) và Trường Cao đẳng Cộng đồng Tiền

trường, máy móc thiết bị, vật tư để việc dạy và học đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu
cầu lao động xã hội.
5) Luôn lắng nghe và tạo điều kiện thuận lợi để người học có thể phát triển
tiềm năng sáng tạo của mình.
6) Thực hiện đầy đủ các chính sách của Nhà nước đối với người học.
7) Thường xuyên xem xét, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO 9001:2000 nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường.[14]
2.1.3. Ngành nghề đào tạo
Căn cứ theo các quyết định mở ngành và chuyển đổi tên ngành của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, hiện nay trường đang đào tạo 63 chương trình đào tạo. Trong đó có 20
chương trình đại học (10 chương trình đại học chính quy, 10 chương trình liên thông);
42 chương trình Cao đẳng (21 chương trình chính quy, 21 chuyên ngành liên thông)
và 12 chương trình Trung cấp chuyên nghiệp. [14]
2.2.

Chất lượng của các trường THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Tỉnh Tiền Giang hiện có 35 trường THPT, căn cứ Theo thống kê của Cục Công

nghệ thông tin - Bộ GD & ĐT, điểm trung bình (ĐTB) kỳ thi tuyển sinh đại học các
khối của các trường THPT trên địa bàn tỉnh tiền Giang với tiêu chí: xét những thí
sinh (không phân biệt năm tốt nghiệp THPT) dự thi đủ 3 môn khối A, A1, B, C và D
với những trường phổ thông có từ 30 lượt thí sinh dự thi trở lên thì Trường THPT
Chuyên Tiền Giang là 19,99, xếp thứ 33 trong top các trường THPT có điểm tuyển
sinh cao trên toàn quốc. Trường THPT Chuyên Tiền Giang có 432 thí sinh dự thi, trong
đó có 9 thí sinh từ 27 điểm trở lên. Cụ thể chất lượng kỳ thi tuyển sinh đại học các khối
của các trường THPT trên địa bàn tỉnh tiền Giang trong năm 2013 như sau:
-24-


Bảng 2.1: Thống kê ĐTB kỳ thi tuyển sinh ĐH –CĐ khối ABCD tỉnh Tiền

1295

15.84

236

Tiền Giang THPT Đốc Binh Kiều

598

932

15.39

304

Tiền Giang THPT Trương Định

556

957

14.96

312

Tiền Giang THPT Tân Hiệp

422


810

14.37

455

Tiền Giang THPT Cái Bè

592

1045

14.23

521

Tiền Giang THPT Vĩnh Kim

516

800

13.98

584

Tiền Giang THPT Phạm Thành Trung

497


533

12.96

847

Tiền Giang THPT Bình Phục Nhứt

223

321

12.93

932

Tiền Giang THPT Thủ Khoa Huân

356

481

12.67

1021

Tiền Giang THPT Phước Thạnh

158


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status