TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015
TÊN CÔNG TRÌNH
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)
Hà Nội, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015
TÊN CÔNG TRÌNH
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)
Nhóm sinh viên thực hiện : Phạm Thị Nhật
Nữ
Đặng Thị Hiền
Nữ
4.1 Quy trình nghiên cứu ................................................................................................6
4.2 Thu thập số liệu .........................................................................................................6
4.3 Phân tích và xử lý số liệu ..........................................................................................9
5
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .........................................................................9
5.1 Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................9
5.2 Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................9
6
Kết cấu đề tài nghiên cứu .....................................................................................10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HIỂU BIẾT BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH ........................11
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài ................................................................11
1.1.1
Lao động – Người lao động ....................................................................... 11
1.1.2
Giúp việc gia đình ...................................................................................... 11
1.1.3
Lao động giúp việc gia đình ...................................................................... 11
1.2 Đặc điểm và vai trò của lao động giúp việc gia đình .........................................12
1.2.1
2.1.1 Các đặc điểm liên quan đến người lao động giúp việc gia đình ................. 24
2.1.2 Các đặc điểm liên quan đến hoạt động giúp việc gia đình .......................... 26
2.2 Đánh giá thực trạng mức độ hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của người LĐ
GVGĐ trên địa bàn Hà Nội ........................................................................................28
2.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo .............................................................. 30
2.2.2 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật
liên quan đến HĐLĐ .................................................................................... 31
2.2.3 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật
liên quan đến Tiền lương ............................................................................. 34
2.2.4 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật
liên quan đến thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi ................................. 35
2.3 Đánh giá nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động của người LĐ GVGĐ ..............38
2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động 2012
của LĐ GVGĐ ..............................................................................................................41
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan................................................................................... 41
2.4.2 Nguyên nhân khách quan ............................................................................... 42
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................45
3.1 Kết luận ..................................................................................................................45
3.2 Khuyến nghị ...........................................................................................................47
3.2.1 Giải pháp truyền thông .................................................................................. 47
3.2.2 Giải pháp quản lý........................................................................................... 50
KẾT LUẬN ..................................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 01
PHỤ LỤC 02
PHỤ LỤC 03
PHỤ LỤC 04
PHỤ LỤC 05
THCS
: Trung học cơ sở
TĐHV
: Trình độ học vấn
UBND
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Danh mục bảng
Bảng 0.1: Quy mô và cấu trúc mẫu điều tra ................................................................. 07
Bảng 1.1: Trình độ học vấn của lao động giúp việc gia đình (%) ................................ 14
Bảng 2.1: Thống kê mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu ........................................... 24
Bảng 2.2: Hình thức thỏa thuận lao động của người GVGĐ ....................................... 25
Bảng 2.3: Kinh nghiệm làm việc của mẫu điều tra ...................................................... 28
Bảng 2.4: Số lượng lao động hiểu biết về Bộ luật Lao động áp dụng cho đối tượng
là người GVGĐ ............................................................................................................ 29
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha (α) ................................... 31
Bảng 2.6: Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố HĐLĐ ....................................... 31
Bảng 2.7: Hệ số Sig khi so sánh sự khác biệt về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến HĐLĐ giữa các nhóm TĐHV và kinh nghiệm làm việc ....................... 32
Bảng 2.8: Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố Tiền lương ................................ 34
Bảng 2.9: Hệ số Sig khi so sánh sự khác biệt về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến Tiền lương giữa các nhóm TĐHV và Kinh nghiệm làm việc ................ 34
Bảng 2.10: Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố Thời gian làm việc,
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)
Hà Nội, 2015
i
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 2012 đã bổ sung quy định về
quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến lao động giúp việc gia đình trong
Chương XI, Mục 5 từ Điều 179 đến Điều 183 quy định về “Lao động là người giúp
việc gia đình”, song song, còn có Nghị định số 27/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày
07/04/2014 và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động thương binh và
xã hội ngày 15/08/2014. Như vậy, có thể thấy, đây là một bước tiến tích cực trong việc
xây dựng khung pháp lý về giúp việc gia đình cũng như từng bước đưa giúp việc gia
đình trở thành một nghề trong thị trường lao động.
Tuy nhiên, trong thị trường lao động, lao động giúp việc gia đình vẫn luôn phải
đối mặt các nguy cơ như bị mắng chửi, đánh đập, đe dọa, bị lạm dụng sức lao động,
lạm dụng tình dục... nguy cơ không được gia chủ thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu
về công việc, thời gian, tiền lương … Lý do tại sao như vậy? Trên thực tế có rất ít
những nghiên cứu trả lời cho câu hỏi này đứng trên góc độ đánh giá mức độ hiểu biết
và ý thức tuân thủ các quy định pháp luật của lao động giúp việc gia đình. Trong khi,
sự hiểu biết về pháp luật của người lao động giúp việc gia đình ảnh hưởng đến những
quyền lợi mà họ được hưởng. Do đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Đánh giá
nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012
trên địa bàn Hà Nội” trong công trình nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2015. Hy
vọng nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần hữu ích trong việc nâng cao hiểu biết Bộ
gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012 trên địa bàn Hà Nội” sẽ tập trung phân tích
và đánh giá các mức độ hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao
động 2012, cụ thể trên 3 khía cạnh: Hợp đồng lao động – Tiền lương – Thời gian làm
việc và thời gian nghỉ ngơi. Mô hình đánh giá mức độ hiểu biết mà nhóm sử dụng căn
cứ trên khung lý thuyết về các giai đoạn thay đổi hành vi để xem xét mức độ hiểu biết
về Bộ luật Lao động 2012 của người giúp việc đang ở giai đoạn nào, từ đó tìm hiểu
nhu cầu và điều chỉnh hành vi tìm hiểu pháp luật của nhóm đối tượng này. Đồng thời,
trong quá trình nghiên cứu, nhóm cũng xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu
cầu hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của người giúp việc gia đình để từ đó khuyến
nghị một số giải pháp nhằm nâng cao mức độ hiểu biết luật của người lao động giúp
việc gia đình trên địa bàn Hà Nội.
3. Mục tiêu nghiên cứu
-
Xác định khung lý thuyết đánh giá mức độ hiểu biết để làm cơ sở cho quá trình
khảo sát, đánh giá thực tế mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động 2012 của lao động giúp
việc gia đình trên địa bàn Hà Nội.
-
Phân tích mức độ hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao
động 2012, cụ thể trên 3 khía cạnh: Hợp đồng lao động – Tiền lương – Thời gian làm
việc và thời gian nghỉ ngơi.
iii
-
Hoạt động phỏng vấn sâu được tiến hành sau khi người giúp việc trả lời xong bảng
khảo sát. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 10 lao động giúp việc gia đình
Mục đích của các cuộc phỏng vấn sâu này là để nắm được mức độ hiểu biết luật cũng
như xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu hiểu biết luật của người giúp
việc gia đình.
4.3 Phân tích và xử lý số liệu
Các dữ liệu nghiên cứu sau khi thu thập xong được thống kê, phân tích và xử lý
bằng phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính. Phân tích định lượng sử
dụng công cụ hỗ trợ của phần mềm SPSS. Trong khi đó, phân tích định tính được sử
iv
dụng kết hợp để phân tích thông tin thu được từ phỏng vấn sâu, cùng với các phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… để rút ra các nhận xét và kết luận cho vấn đề
nghiên cứu.
5
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sự hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012 (sửa
đổi), cụ thể tại Mục 5 (từ Điều 179 đến Điều 183)
- Khách thể điều tra: nhóm chỉ tiến hành điều tra đối với người giúp việc gia đình
làm việc toàn thời gian tại gia đình người sử dụng lao động (không nghiên cứu
trường hợp giúp việc gia đình theo hình thức khoán)
5.2 Phạm vi nghiên cứu
-
giúp việc gia đình
Chương 2 : Đánh giá nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật
Lao động 2012 trên địa bàn Hà Nội
Chương 3 : Kết luận và khuyến nghị
v
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HIỂU BIẾT BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Đề tài nghiên cứu về nhu cầu hiểu biết luật của người lao động giúp việc gia
đình. Do đó, một số khái niệm mà đề tài sử dụng làm căn cứ cơ sở định hướng đó là:
(1) Khái niệm về lao động – Người lao động; (2) Khái niệm về công việc giúp việc gia
đình; (3) Khái niệm về lao động giúp việc gia đình.
1.2 Đặc điểm và vai trò của lao động giúp việc gia đình
1.2.1 Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình
-
Độ tuổi và giới tính của người LĐ GVGĐ: người lao động giúp việc gia đình
tập trung ở nhóm tuổi từ 18-35 và 36-55, trong khi đó, tỷ trọng lao động dưới 18 và
trên 56 tuổi chiếm tỷ lệ thấp. Hầu hết người LĐ GVGĐ là nữ giới (98,7%), lao động
nam giới (1,3%).
-
Trình độ học vấn của người LĐ GVGĐ: Đa số người LĐ GVGĐ đều xuất thân
từ nông thôn, có hoàn cảnh khó khăn nên nhìn chung trình độ học vấn của LĐ GVGĐ
vi
2012. Sau đó, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 7/4/2014 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về lao động là người giúp việc gia
đình và ngày 15/08/2014, Bộ Lao động – Thương binh xã hội cũng ban hành Thông tư
số 19/2014/TT-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thi hành một số điều từ Nghị định số
27/2014/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài ta chỉ xét 03 vấn đề
chính liên quan đến LĐ GVGĐ đó là: Hợp đồng lao động – Tiền lương – Thời gian
làm việc, thời gian nghỉ ngơi.
1.4 Đánh giá mức độ hiểu biết luật của người LĐ GVGĐ
Mô hình đánh giá mức độ hiểu biết dựa trên khung lý thuyết về sự thay đổi hành vi
(Prochaska và DiClemente, 1984,1986) ). Áp dụng vào đối tượng cụ thể là người lao
động giúp việc gia đình, để đánh giá mức độ hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của
đối tượng này thì nhóm có sự điều chỉnh về 05 giai đoạn thay đổi hành vi như sau:
- Giai đoạn 1: Nhận thức - Trong giai đoạn này, người GVGĐ bắt đầu từ chỗ
chưa biết kiến thức, dự định thay đổi hành vi tuân thủ theo quy định của Bộ luật Lao
động. Khi tiếp cận thông tin, những người giúp việc đã biết, đã được cung cấp kiến
thức, đã hiểu ra vấn đề.
- Giai đoạn 2: Chấp nhận - Người LĐ GVGĐ có các thông tin về lợi ích và rủi ro
liên quan đến việc hiểu biết pháp luật, vì vậy họ chấp nhận cần phải hiểu luật nhưng
chưa sẵn sàng thay đổi.
- Giai đoạn 3: Có ý định - Họ đã có ý định thay đổi và chuẩn bị cho sự thay đổi
hành vi của mình. Tức là sau khi chủ động tìm hiểu rõ các quy định pháp luật, họ dự
kiến áp dụng vào các thỏa thuận với chủ sử dụng lao động để đảm bảo quyền lợi cho
bản thân.
- Giai đoạn 4: Thực hiện - Người giúp việc sẵn sàng thực hiện thay đổi và thay
đổi theo kế hoạch của họ. Đây là giai đoạn khó khăn cần có sự giúp đỡ của những
người tuyên truyền pháp luật và sự tư vấn của người thân, bạn bè có kinh nghiệm.
Giai đoạn 4 và 5: Thực hiện/ Duy trì - Người giúp việc khi bắt đầu thực hiện
hành vi tuân thủ pháp luật, họ có thể thất bại do không nhận được sự hợp tác từ phía
chủ nhà. Vì thế, đây là giai đoạn khó khăn cần có sự giúp đỡ của những người tuyên
truyền pháp luật và sự tư vấn của người thân, bạn bè có kinh nghiệm.
Như vậy, có thể thấy rằng, đối với từng giai đoạn, việc xác định các nguyên nhân ảnh
hưởng đến mức độ hiểu hiểu là rất cần thiết để từ đó xác định đúng nhu cầu và đáp
ứng nhu cầu, giúp đối tượng có thể đạt được mục tiêu thay đổi hành vi mới.
viii
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG
GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu về mẫu điều tra
2.1.1 Các đặc điểm liên quan đến người lao động giúp việc gia đình
Nghiên cứu được tiến hành với 150 mẫu điều tra tại 3 quận Hai Bà Trưng, Cầu
Giấy, Hà Đông; thu hồi 126 phiếu. Sau khi loại bỏ 08 phiếu không chính xác, còn lại
118 phiếu hợp lệ cho phân tích
Đặc điểm mẫu nghiên cứu được mô tả dưới đây:
- Phân loại theo giới tính: Đối tượng tham gia công việc GVGĐ chủ yếu là nữ giới
(chiếm 94,9%), ở đây vẫn có một tỉ lệ nhỏ nam giới tham gia ở công việc này (5,1%).
- Phân loại theo độ tuổi: Người GVGĐ dưới 40 tuổi chiếm 22; từ 40 tuổi trở lên
chiếm đến gần 80%, trong đó nhóm người có độ tuổi trên 50 chiếm 39,8%.
- Phân loại theo trình độ học vấn: LĐ GVGĐ có trình độ chiếm tỉ lệ 42,4 %, tiếp
đến là nhóm đối tượng trên THCS, chiếm 36,4% và thấp nhất là nhóm đối tượng có
trình độ Tiểu học(21,2%)
- Phân loại theo tình trạng hôn nhân: Số lao động GVGĐ vẫn đang còn gia đình
chiếm tỉ lệ khá cao (67,8%).
Ngoài ra, đa số người GVGĐ đều làm nghề nông (chiếm 65,3%) và sau khi
việc làm (20,8%). Trong khi đó, các nguồn thông tin chính thống là ti vi, báo đài hay
qua chính quyền địa phương lại rất thấp (lần lượt là 11,3% và 3,8%). Đặc biệt, nhóm
nghiên cứu tiến hành đánh giá sâu mức độ hiểu biết Luật của những LĐ GVGĐ “Có
biết” đến Bộ luật Lao động trên 3 nội dung: HĐLĐ – Tiền lương – Thời gian làm việc,
thời gian nghỉ ngơi theo thang đo Likert 05 mức độ.
2.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Thông qua kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha (α) , nhóm nghiên cứu
thấy rằng có 7 biến hợp đồng lao động, 3 biến tiền lương và 3 biến thời gian làm việc,
nghỉ ngơi đáng tin cậy và phù hợp để phân tích.
2.2.2 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật liên
quan đến HĐLĐ
Mức độ hiểu biết về quy định pháp luật liên quan đến HĐLĐ được nhóm xây
dựng từ 7 biến mức độ. Điểm trung bình mức độ hiểu biết về những nội dung cần quy
định rõ trong HĐLĐ giữa hai bên là 2,29 điểm. Trong đó “Các quy định về trách
nhiệm mỗi bên khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật” đạt số điểm trung
bình thấp nhất là 1,92. Điểm trung bình cao nhất là của nội dung “Cung cấp thông tin
trước khi ký kết hợp đồng lao động” (2,63).
Phân tích phương sai ANOVA
Căn cứ vào kết quả phân tích phương sai ANOVA, các cặp giả thuyết tương ứng
với đặc điểm của các nhóm đối tượng khảo sát được đưa ra kết luận như sau:
Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết HĐLĐ theo
Bác bỏ
Trình độ H0
trình độ học vấn
học vấn
H1 Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết HĐLĐ theo TĐHV Chấp nhận
học vấn
H0
H1
H0
Kinh
nghiệm
làm việc
H1
Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến tiền lương theo trình độ học vấn
Bác bỏ
Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định liên
Chấp
quan đến tiền lương theo trình độ học vấn
nhận
Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến Tiền lương theo kinh nghiệm làm việc
Bác bỏ
làm việc
H0
H1
Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy
định liên quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo
Bác bỏ
trình độ học vấn
Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định liên
Chấp nhận
quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo TĐHV
Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy
định liên quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo
Bác bỏ
kinh nghiệm làm việc
Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định liên
quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo kinh Chấp nhận
nghiệm làm việc
Tóm lại, qua kết quả phân tích phương sai ANOVA cho thấy rõ ràng có sự khác
biệt trong mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động của người lao động GVGĐ (về Hợp
đồng lao động, Tiền lương, Thời gian làm việc, nghỉ ngơi) theo trình độ học vấn và
kinh nghiệm làm việc. Cụ thể: có sự khác biệt rõ nét giữa nhóm trình độ học vấn dưới
Tiểu học và THCS, nhóm kinh nghiệm làm việc dưới 6 tháng và trên 3 năm.
2.3 Đánh giá nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động của người LĐ GVGĐ
Xét về số lượng LĐ GVGĐ có nhu cầu mong muốn tìm hiểu Bộ luật Lao động
Số lượng LĐ GVGĐ trả lời “Có” nhu cầu mong muốn tìm hiểu Luật chiếm đến
động GVGĐ khác đã gặp phải khi không biết về luật. Ngoài ra lý do “Giúp việc cho
người quen, họ hàng” cũng được người giúp việc lựa chọn nhiều để giải thích cho
hành vi không muốn tìm hiểu luật của họ (chiếm 27,6%).
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan
- Từ phía chủ sử dụng lao động
Đối với người GDVĐ thì môi trường làm việc của họ chính là nhà của gia chủ
thuê lao động giúp việc. Do đó, sự hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của chủ gia
đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự hiểu biết của người giúp việc. Thêm vào đó, sự
nhiệt tình hướng dẫn của chủ sử dụng lao động cũng có thể xem là một nguyên nhân
ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động của lao động giúp việc gia đình.
- Từ phía quan niệm xã hội về công việc GVGĐ
Đối với công việc giúp việc gia đình, quan niệm xã hội Việt Nam xa xưa vốn đã
“coi rẻ” những người đi ở đợ, làm mướn. Họ sống và làm việc vất vả nhưng không
được ăn cùng mâm, ngủ cùng nhà với gia đình chủ, quần áo đều mặc lại đồ thừa…
Xuất phát từ chính điều này đã khiến cho cả phía người chủ và người giúp việc có
những quan niệm không đúng về công việc giúp việc gia đình.
- Từ phía cơ quan quản lý của Nhà nước
Trên thị trường lao động, mọi hoạt động của con người đều bị ràng buộc vào luật
pháp. Các quy định luật hoặc cho phép hoặc giới hạn hoặc nghiêm cấm một số hành vi
trao đổi, mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế điều tra lại cho thấy, các khó khăn
mà người GVGĐ gặp phải khi muốn tiếp cận tìm hiểu pháp luật lại nằm ở lý do “Địa
phương không có/ có quá ít các hoạt động tuyên truyền, thông tin liên quan đến pháp
luật” và “Kênh thông tin truyền thông tư vấn pháp luật của Nhà nước còn ít”
xiii
“Truyền thông thay đổi hành vi”.
- Giải pháp quản lý: Cần xây dựng một hệ thống dữ liệu về người giúp việc gia đình.
Hiện nay không có cơ quan quản lý người GVGĐ hoặc cơ quan quản lý lao động,
thêm vào đó việc đăng ký tạm trú cho người GVGĐ sống cùng hộ - gia đình gia chủ
xiv
cũng chưa được các hộ gia đình thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Thực trạng này dẫn
tới những khó khăn cho công tác quản lý người giúp việc cũng như trong việc điều tra,
tuyên truyền nâng cao hiểu biết về luật cho cả hai phía: người lao động và người sử
dụng lao động. Ngoài ra, một số giải pháp quản lý khác như:
+ Quy định cụ thể cấp quản lý, phương thức và nội dung quản lý về LĐ GVGĐ.
+ Tuyên truyền nâng cao nhận thức về giá trị của LĐGVGĐ, đồng thời phải
thường xuyên giám sát, đánh giá và tổng kết để nêu lên những gương điển hình về mối
quan hệ LĐ GVGĐ.
+ Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) tập trung xây dựng
khung chương trình và giáo trình đào tạo nghề giúp việc gia đình với mục tiêu nâng
cao khả năng có việc làm và phát triển nghề của nhóm lao động này. Nội dung đào tạo
ngoài các kiến thức và kỹ năng để thực hiện công việc thì phải bổ sung cả các kiến
thức về luật để người lao động có thể bảo vệ quyền lợi của bản thân.
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ Tư pháp có chất lượng, nâng cao được nhận thức, kịp
thời đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và cả kỹ năng
tuyên truyền. Từ đó thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ và nhân dân, làm cầu nối đưa pháp
luật đến với nhân dân. Đồng thời, tăng cường xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên
truyền viên pháp luật vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có phẩm chất chính trị
tốt, trình độ chuyên môn vững vàng, có kỹ năng truyền đạt, am hiểu pháp luật và kiến
thức xã hội, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích hỗ trợ các cơ quan chức năng
nhằm đưa ra những chính sách nâng cao hiểu biết cho người lao động trong tương lai.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015
BẢN TỔNG HỢP
Tên công trình
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)
Hà Nội, 2015
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự tăng trưởng ổn định kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống của
người dân Việt Nam trong khoảng gần 20 năm qua được nâng cao rõ rệt. Đi đôi với sự
cải thiện về mức sống thì các loại hình dịch vụ xã hội giành cho gia đình cũng gia
tăng. Trong số các dịch vụ đó, giúp việc gia đình đang trở thành một trong số những
dịch vụ quan trọng. Họ đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giải phóng phụ
nữ làm việc ngoài xã hội với cường độ cao khỏi gánh nặng công việc trong gia đình,
Ở Việt Nam, để có cơ sở pháp lý quản lý lao động giúp việc gia đình, Bộ luật
Lao động năm 2012 đã bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên liên
quan đến lao động giúp việc gia đình trong Chương XI, Mục 5 từ Điều 179 đến Điều
183 quy định về “Lao động là người giúp việc gia đình”. Tiếp theo đó, Nghị định số
27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao
động là người giúp việc gia đình được ban hành ngày 07/04/2014. Đến ngày
15/08/2014, Bộ Lao động – Thương binh xã hội cũng ban hành Thông tư số
19/2014/TT-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thi hành một số điều từ Nghị định số
27/2014/NĐ-CP. Như vậy, có thể thấy, đây là một bước tiến tích cực trong việc xây
dựng khung pháp lý về giúp việc gia đình cũng như từng bước đưa giúp việc gia
đình trở thành một nghề trong thị trường lao động.
Hiện nay, ở nước ta, nội dung nghiên cứu về lao động giúp việc gia đình được đề
cập nhiều hơn trong khoảng 15 năm trở lại đây. Phần lớn các vấn đề được tập trung
phân tích, đánh giá như: giới trong cơ cấu lao động giúp việc gia đình, năng lực làm
việc của người giúp việc và mong muốn của người sử dụng lao động về kiến thức,
kỹ năng, phẩm chất cần thiết người giúp việc; vấn đề bạo lực và lạm dụng, an toàn
lao động… Thế nhưng, những nghiên cứu khoa học liên quan đến việc đánh giá mức
độ hiểu biết và nhu cầu tìm hiểu các quy định pháp luật của lao động giúp việc gia
đình lại chưa có nhiều. Trong khi, sự hiểu biết về pháp luật của người lao động giúp
việc gia đình ảnh hưởng đến những quyền lợi mà họ được hưởng. Do đó, nhóm nghiên
cứu đã lựa chọn đề tài “Đánh giá nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình
đối với Bộ luật Lao động 2012 trên địa bàn Hà Nội” trong công trình nghiên cứu
khoa học sinh viên năm 2015. Hy vọng nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần hữu ích
trong việc nâng cao hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của người lao động giúp việc
gia đình trên địa bàn Hà Nội.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Giúp việc gia đình là một công việc xuất hiện rất sớm trong quá trình phát triển xã
hội và mang lại thu nhập ổn định cho nhiều lao động trên thế giới. Cùng với xu thế