1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay tệ nạn buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sản xuất, sử dụng trái
phép các chất ma túy và một số chất gây nghiện, hướng thần được sử dụng
trong ngành y tế bị lạm dụng cho mục đích ma túy có xu hướng gia tăng, phát
triển nhanh và trở nên rất nghiêm trọng cả về tính chất, mức độ, quy mô, tính
phức tạp về thể loại, phương thức hoạt động. Không chỉ ở trong nước mà còn
mang tính xuyên quốc gia.
Tổ chức chống ma túy và tội phạm Liên hợp Quốc (UNODC) ước tính
trong năm 2011, có khoảng 11,2 triệu đến 22 triệu người trên toàn thế giới
trong độ tuổi 15 - 64 (chiếm 0,24 - 0,48% dân số trong độ tuổi này) tiêm
(chích) ma túy [109]. Trong đó ở Việt Nam, số người sử dụng chất ma túy
ngày càng tăng.
Việt Nam là một trong những nước đang đứng trước nguy cơ về tệ nạn
buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, trung chuyển, sản xuất và sử dụng các chất
ma túy, tiền chất.
Trước tình hình đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chủ
trương, đề ra những biện pháp thích hợp trong từng giai đoạn cụ thể như xây
dựng các Bộ luật, các Nghị định, Thông tư và các văn bản quy định pháp luật
nhằm mục đích quản lý và giảm mức độ tăng của các loại tội phạm ma túy.
Chính phủ cũng ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất; các Bộ
ngành đã ban hành các qui chế quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm
thần và tiền chất... để góp phần tích cực trong đấu tranh với loại tội phạm này
và đồng thời cũng để quản lý tốt các thuốc gây nghiện, hướng thần được sử
dụng trong y học.
Bên cạnh các chất ma túy truyền thống, các chất ma túy tổng hợp ATS
(Amphetamin Type Stimulants) ngày càng gia tăng và phát triển cả về quy
mô, thể loại lẫn số lượng, hình thức, các dạng sản phẩm khác nhau trên thị
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm, biểu hiện lâm sàng và tác hại của ma túy
1.1.1. Khái niệm về các chất ma túy
- Hiểu theo nghĩa Hán – Việt:
+ “Ma” là làm cho tê liệt.
+ “Túy” là làm cho say sưa.
- Về y học ma túy là một số chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp
(hóa học) khi đưa vào cơ thể người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế
hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ảo giác, nếu
sử dụng nhiều lần dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng [15].
- Thuật ngữ ma túy đã được chính thức quy định tại Điều 203 của Bộ
luật hình sự năm 1985 “tội sử dụng ma túy” [26]. Sau đó được thay bằng Điều
185i “tội sử dụng trái phép chất ma túy” trong Luật sửa đổi bổ sung của Bộ
luật Hình sự năm 1997 [27].
- Theo Điều 2 Chương I của Luật phòng chống ma túy được sửa đổi bổ
sung năm 2008 [28]:
+ Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
các danh mục do Chính phủ ban hành.
+ Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
+ Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo
giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử
dụng.
+ Tiền chất là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế,
sản xuất chất ma túy, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.
4
5
giai đoạn này. Mức độ dung nạp tối đa có thể được quan sát bằng sự lệ thuộc vào
heroin. Ví dụ, khi một người đã quá lệ thuộc vào heroin, họ có thể dùng liều lượng
vượt quá mức độ người chưa dung nạp loại ma tuý này.
1.1.2.2. Đói thuốc
- Hội chứng đói thuốc: Theo dõi hội chứng này bao gồm những biểu
hiện thay đổi về thể chất và tâm lý của người SDMT. Nó xảy ra khi người
SDMT giảm nhanh liều lượng quen dùng (ví dụ người cắt cơn heroin có thể
có những phản ứng của cơ thể như đau cơ khớp, rối loạn chức năng tim mạch
và hệ thống tiêu hoá ).
- Giải toả: Để tránh cảm giác khó chịu khi đói thuốc người đó phải
dùng 01 liều. Hiện tượng này liên quan chặt chẽ đến hội chứng đói thuốc.
1.1.2.3. Bắt buộc sử dụng
Một người lệ thuộc vào ma tuý bắt buộc phải SDMT. Hiện tượng này
có liên quan đến đói thuốc.
1.1.2.4. Thu hẹp
Khi đã nghiện, người SDMT sẽ SDMT theo một cách nhất định.
1.1.2.5. Sở thích tập trung
Hứng thú SDMT dần dần trở thành ưu tiên lớn nhất trong cuộc sống của
người SDMT. Sở thích này ngày càng thu hẹp và xác định bằng việc tìm mọi cách
để có ma tuý sử dụng (đồng thời tìm mọi cách để có tiền mua ma tuý).
1.1.2.6. Tái nghiện
Một người ngưng sử dụng ma tuý trong vài tuần hoặc vài tháng nếu
quay lại sử dụng sẽ có xu hướng tái sử dụng một cách nhanh chóng và hình
thành lại sự lệ thuộc vào ma tuý.
1.1.3. Tác hại của ma túy
1.1.3.1. Ảnh hưởng đến bản thân
- Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho
- Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan
vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc...).
7
- Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của
người nghiện do ma tuý gây ra.
1.1.3.3. Ảnh hưởng đến xã hội
- Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo,
trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm...
- Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc.
- Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.
- Tăng chi phí ngân sách xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc
phục, giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại. Ma tuý còn là nguồn gốc, là
điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu
chưa có thuốc chữa... Hiện nay nước ta có 213.431 người nhiễm HIV/AIDS
thì có 38,9% là người nghiện tiêm (chích) ma tuý (tính đến 31.5.2013) [1].
- Các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả
năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử,
tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hóa, dẫn tới suy yếu nòi giống.
1.2. Các chất ma túy tổng hợp ATS thường gặp ở Việt Nam
Các chất ma túy tổng hợp ATS phần lớn có tác dụng kích thích thần
kinh trung ương, tăng huyết áp, tăng nhịp tim, làm tỉnh táo và thông minh
hơn, tạo trạng thái phớn phở, hạnh phúc (euphoric), tăng nhịp thở, tăng nhiệt
độ cơ thể ở liều trung bình từ 20mg đến dưới 100mg. Khi sử dụng liều cao có
tác dụng gây ảo giác. Đặc biệt người sử dụng rất nhạy cảm với âm thanh, ánh
sáng, màu sắc, dễ xúc động (agitation), rung lắc (tremor), ngắt quãng
(episode), giảm trí nhớ, hoang tưởng (Paranoid delusions), bạo lực, chán ăn
(unappetide) [103], [95]. Sử dụng trong điều trị suy nhược thần kinh, tâm thần
+ CTPT: C10H15N; TLPT: 149,2.
+ Xuất hiện trên thị trường chủ yếu ở dạng hydroclorid C10H15N.HCl;
TLPT: 185,7; dạng base 80,4% [38], [106], [98].
- Tên khác: “Hồng phiến”, Metafetamin, Adipex, Ambar, Amedrin,
Apramin... (khoảng gần 200 tên khác nhau).
- Tồn tại dạng tinh thể hình phiến trắng giống đường phèn, tan tốt trong
nước, chế phẩm viên rất đa dạng và phong phú [52], [53], [54]…
- Methamphetamin chủ yếu dùng bằng đường uống, hít, tiêm.
Tinh thể và logo một số viên chứa MA được thể hiện ở phụ lục 1.
9
1.2.3. Methylendioxy Methyl Amphetamin (MDMA): Ecstasy
- Công thức hóa học [36], [63], [74], [76].
NH
O
CH3
CH3
O
- Sản phẩm tổng hợp có CTPT: C11H15NO2; TLPT: 193,2
- MDMA hydroclorid có CTPT: C11H15NO2.HCl; TLPT: 229,7; dạng
base 84,2%.
- Các tên rất hấp dẫn “flying saucer”, “disco biscuits”, “fantasy”, “huge
CH3
- Chất tổng hợp có CTPT: C12H17NO2; TLPT: 207,3.
10
- Thường tồn tại trên thị trường dạng hydroclorid với CTPT:
C12H17NO2.HCl; TLPT: 243,7; dạng base 85%.
- Ký hiệu có trên viên nén: Eve, HOL xanh rêu…
1.2.6. Các dẫn chất khác của amphetamin
- Các chất amphetamin không thay thế trên vòng Benzen [107], [108]
+ N-Ethylamphetamin
+ Dimetylamphetamin
+ N-Hydroxyamphetamin
+ N-Hydroxymetamphetamin
+ Cathinon
+ Methcathinon
+ Fenetylline 7-ethyltheophyllin-amphetamin (captagon)
+ Phenylpropylmethylamin (PPMA)
+ 3,4-methylenedioxy-N,N-dimethylamphetamin (MDDM)
+ N-Hydroxy-3,4-methylenedioxyamphetamin (N-Hydroxy-MDA, NHydroxytenamfetamin)
+ N-Hydroxy-N-methyl-3,4-methylenedioxyamphetamin (N-Hydroxy MDMA, FLEA)
+ N-methyl-1-(3,4-methylenedioxyphenyl)-2–butanamin (MBDB)
+ 1-(3,4-methylenedioxyphenyl)-2-butanamin (BDB)
+ N-Ethyl-1-(3,4-methylenedioxyphenyl)-2-butanamin (EBDB)
+ 5-methoxy-3,4-methylenedioxyamphetamin (MMDA)
- Các chất amphetamin có nhóm thế 2,4,5 trên vòng benzen nhóm
phenethylamin [18], [21], [70]
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Tên chất
2C-E
2C-F
2C-G
2C-G-3
2C-G-4
2C-G-N
2C-H
2C-N
2C-O-4
2C-P
2C-SE
2C-T-4
2C-T-8
2C-T-9
2C-T-13
2C-T-15
NO2
OCH(CH3)2
CH2CH2CH3
SeCH3
SCH(CH3)2
SCH2CH(CH2)2
SC(CH3)3
S(CH2)2OCH3
SCH(CH2)2
SCH(CH3)CH2CH3
CF3
12
- Các chất có nhóm thế ở vị trí 2,4,5 trên vòng benzen nhóm
amphetamin [105], [107], [108]
+ 2,4,5-Trimethoxyamphetamin (TMA-2)
+ 4-methyl-2,5-dimethoxyamphetamin (DOM,STP)
+ 4-Bromo-2,5-dimethoxyamphetamin (DOB, Bromo-STP,BDMA)
+ 4-Chloro-2,5-dimethoxyamphetamin (DOC)
+ 4-Iodo-2,5-dimethoxyamphetamin (DOI)
+ 4-Ethyl-2,5-dimethoxyamphetamin (DOET)
- Các chất có nhóm thế khác cho cả phenethylamin và amphetamin
[105], [107], [108]
+ 3,4,5-Trimethoxyphenethylamin (mescalin, TMPEA)
+ Para-Methoxyamphetamin (PMA)
+ Para-Methoxymethamphetamin (PMMA)
+ 2,5-Dimethoxyamphetamin (DMA)
+ 3,4,5-Trimethoxyamphetamin (TMA)
Hình 1.2: Quả, nhựa thuốc phiện
- Thuốc phiện là sản phẩm tự nhiên thu được bằng cách rạch những quả
chưa chín của cây thuốc phiện để lấy nhựa, có màu nâu, nâu đen, mùi rất đặc
trưng, vị rất đắng.
+ Có nhiều dạng thuốc phiện: Thuốc phiện sống, thuốc phiện chín,
thuốc phiện Y tế, sái thuốc phiện.
+ Đây là loại ma túy rất phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Tên khác
của thuốc phiện: Á phiện, “Nàng tiên nâu”, “Ả phù dung”, dung dịch để chích
màu nâu có tên “xì ke”,...[16], [96].
- Nhựa thuốc phiện được sử dụng trong ngành Dược với sản phẩm như
viên colchimax, paragoric…làm thuốc giảm đau và thuốc trị tiêu chảy.
- Thành phần hóa học: Nhựa thuốc phiện có trên 40 hợp chất alcaloid
khác nhau, trong đó quan trọng nhất là morphin chiếm từ 4-21%, codein từ
0,7-3%…[104], [108].
1.3.1.2. Morphin
- Công thức hóa học [16]
OH
O
N
HO
CH3
15
- CTPT: C17H19NO; TLPT: 285,3.
+ Morphin hydroclorid: CTPT: C17H19NO3.HCl; TLPT: 321,8; dạng
- CTPT: C21H23NO5; TLPT: 369,4.
- Dạng tồn tại trên thị trường bất hợp pháp heroin hydroclorid.
- Heroin hydroclorid có CTPT: C21H23NO5.HCl.H2O; TLPT: 423.9, dạng
base 87,2% [5], [11], [97], [102]. Ảnh bột heroin được mô tả ở phụ lục 6.
16
1.3.1.4. Codein
- Công thức hóa học
H3C
O
O
N
CH3
HO
- CTPT: C18H21NO4; TLPT: 315,4.
- Dạng Codein N-Oxid hydroclorid có CTPT: C18H21NO4.HCl.H2O;
TLPT: 369,9; dạng base 85,3% [5], [11], [102].
- Chiết xuất từ nhựa thuốc phiện, được sử dụng làm thuốc trị ho, giảm
đau nhẹ trong y học; gặp trên thị trường ở dạng dược phẩm: terpincodein,
paracodein, efferalgan-codein... Codein có thể chuyển thành morphin, sau đó
tiếp tục bán tổng hợp bằng cách diacetyl hóa cho thành phẩm heroin hoặc
acetyl codein [13]. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm và dễ sơ hở trong khâu
kiểm soát.
17
1.3.1.6. Các chất ma túy tổng hợp tác dụng giống morphin
- Pethidin (còn có các tên khác: Dolargan, Dolosan, Dolosil, Eudolat,
Methedin, Dolivan, ở dạng ống chích hàm lượng 100mg/ống.
- Fentanyl (còn có các tên khác: Fantanest, Fentanyl richter, Sublimaze,
Pentanyl, Sentonyl phentanyl, sentonyl...).
- Methadon
(còn có các tên khác: Amidon, Fenadone, Mecodine,
Dolophil, Ketalgine, Heptanol, Hetadol) Có hiệu lực hơi mạnh hơn morphin
[5], [97], [102].
- Mecloqualon
- Ketamin là chất gây mê tổng quát, có tác dụng gây ảo giác giống như
phencyclidin và có tác dụng gây nghiện [5], [11], [97].
- Buprenorphin
- Tramadol
1.3.2. Các chất gây ảo giác (Hallucinogens)
1.3.2.1. Cây cần sa
- Tên khác: Bồ đà, gai dầu, Marijuana, cannabis, hashish.
- Tên khoa học: Cannabis sativa (L) Cannabinaceae.
- 2700 năm trước Công nguyên, cần sa được mô tả trong "Bản Thảo
Cương Mục" của vua Thần Nông (Trung Quốc). Nhưng trước đó, người ta đã
dùng làm thuốc hút, hít, uống để có được ảo giác. Y học dân gian thì dùng cần
sa để giảm đau, giảm ho, giảm cơn suyễn, chống co giật. Tây y thì dùng một
hoạt chất của cây cần sa là ∆9- (Tetrahydro Canna Biol = ∆9 -THC) làm thuốc
an thần, chống nôn ói cho người bệnh ung thư [11], [97], [102].
Hình ảnh cây cần sa được ghi ở hình 1.3
1.3.2.2. Các chất gây ảo giác khác
- LSD (Lysergic Saure Diethylamid)
+ Công thức hóa học
H5C2
N
CO
H5C2
N CH3
NH
+ CTPT: C20H25N3O; TLPT: 323,4.
+ Dạng LSD d-tartrat (C20H25N3O)2 - C4H6O6.2H2O. TLPT: 833,0;
dạng base 77,7 % [5], [11], [97], [102]. Do Hoffman tổng hợp năm 1938.
+ LSD là chất gây ảo giác rất mạnh với hàm lượng 25 microgam đã có
tác dụng rõ rệt bằng đường uống hay tẩm ngậm dưới lưỡi.
- Ngoài ra còn một số chất gây ảo giác khác [5], [11], [97], [102] như
+ Psilocybin (Indocybin) là hoạt chất chính chiết xuất từ nấm Psilocybe
có nguồn gốc từ ngưởi bản xứ Indians ở Trung Mỹ.
+ Mescalin là alcaloid chính của nấm Peyote có trên cây xương rồng ở
vùng Bắc Mỹ, Mexico.
+ Dimethyltriptamin (DMT)
* Hoạt chất có từ nấm Psilocyba có ở Nam Mỹ và Tây Ấn Độ.
* Tác dụng gây ảo giác như LSD nhưng yếu hơn và thời gian ngắn hơn.
+ Phencyclidin (PCP): còn có tên khác như Angel dust, HOG, Sernyl,
O
- CTPT: C17H21NO4; TLPT: 303,4 [19], [23], [96].
- Cocain tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: borat, citrat, format,
hydroiodid, hydrobromid, nitrat, lactat, sulfat, tartrat, salicylat.
- Cocain hydroclorid có CTPT: C17H21NO4.HCl; TLPT: 339,8; dạng
base chiếm 89,3%.
- Một số dạng cocain chủ yếu:
+ Bột nhão coca: Sản phẩm trung gian trong quá trình chế biến từ lá
coca thành cocain, chứa khoảng 40 - 50%.
+ Cocain hydroclorid: Dạng bột trắng như tuyết (snow white), để lâu
chuyển màu nâu và có vị chua của giấm.
+ Crack là dạng cocain kết hợp với muối sodium bicarbonat.
21
Cây, hoa, quả của cây coca và bột cocain được ghi ở hình 1.4 và hình
1.5 dưới đây.
Hình 1.4: Cây, hoa, quả của cây coca.
Hình 1.5: Bột cocain
1.3.3.2. Cây “KHAT”
- Có nhiều ở vùng Trung Phi và Yemen. Hoạt chất chính là cathin có
cấu trúc gần giống amphetamin [23], [99].
CH
R4
N
4
- Dựa vào sự thay đổi của các gốc R ta có những hợp chất khác nhau:
Diazepam, nitrazepam, nidazepam, bromazepam… [11], [97], [102].
22
1.3.4.2. Thuốc ngủ nhóm barbiturat
- Công thức chung
R3
O
N
R1
O
R2
N
H
O
- Tùy theo gốc R cho ra các chất khác nhau: Phenobarbital,
secobarbital, vinyl barbital, barbital…[5], [11], [91].
nâng cao thông qua các cuộc hội thảo, tập huấn khu vực và quốc tế
(UNODC), việc phân tích truy nguyên nguồn gốc ma túy ATS bước đầu đã
được tiến hành ở Việt Nam, bao gồm:
- Xác định thông tin, đặc điểm vật lý của viên ma túy như: Hình dạng,
trọng lượng, kích thước, độ cứng, màu sắc, logo, vật liệu bao gói.
- Xác định thông tin, đặc điểm hóa học: Định tính và định lượng hoạt
chất chính và các chất ma túy khác cũng như các chất pha trộn vào mẫu (các
chất pha trộn có hoạt tính sinh học, làm giả).
- Xác định các sản phẩm phụ, dung môi, cặn vô cơ trong viên ma túy và
các tạp chất cộng kết trong quá trình sản xuất, điều chế ma túy còn lại trong
mẫu ma túy [19], [21], [24].
Truy nguyên nguồn gốc ma túy (Impurity Profiling) để tìm ra mối liên
hệ giữa các mẫu ma túy đã bị bắt giữ từ các vụ án khác nhau, thủ đoạn làm
giả ma túy, các viên “ thuốc lắc”, mối liên quan về phương pháp tổng hợp,
điều chế ma túy.
Ví dụ: Tinh thể methamphetamin bị bắt giữ năm 1995 với năm 2005,
2008 có cùng phương pháp tổng hợp hay không? hoặc là đã xuất hiện một
phương pháp tổng hợp MA mới, phương thức thủ đoạn điều chế, chế biến viên
thuốc lắc giả như 2 vụ rất lớn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 và Hải Phòng
năm 2008…, phân tích tích 45 mẫu viên ma túy tổng hợp từ các vụ án khác
24
nhau, ở nhiều địa phương khác nhau nhằm giúp cho cơ quan thực thi luật pháp
có những thông tin khoa học về mối liên hệ giữa các mẫu thu được có giá trị
phục vụ cho điều tra khám phá các đường dây mua bán, sản xuất, tổng hợp các
chất ma túy cũng như phục vụ cho việc truy tố, xét xử [33].
1.4.2. Nhu cầu về thông tin qua truy nguyên nguồn gốc ma túy
Các cơ quan thực thi luật pháp rất cần chứng cứ giữa những đối tượng
Zhang [114] đã đùng phương pháp sắc ký khí (GC) cột mao quản để phân tích
các tạp chất chủ yếu trong mẫu heroin. Đến thập kỷ 90, phương pháp này
được nghiên cứu trên kỹ thuật dẫn xuất hoá mẫu. Hiện nay, phương pháp GC
và GC-MS được ứng dụng ở hầu hết các nước trên thế giới để PTTN ma túy
nói chung và heroin nói riêng [101], [100].
Các tác giả Ying Qi [79], [80], Inoue [55], [56], [57], Puthaviiriyakom
[78], PU [46], Daryit [41], Remmberg [81], Windahl [113], UNDCP Tanka
[84], [85], đã dùng GC và GC-MS để phân tích các tạp chất trong MA. Các
Viện KHHS Châu Âu đã phát triển một phương pháp quy chuẩn, hài hòa để
PTTN amphetamin bị bắt giữ trong toàn Châu lục.
Các tác giả Cheng và cộng sự [39], [40], Gimeno và cộng sự [46], [47],
[48], Teng và cộng sự; Swist và cộng sự [82], [83], Deursen [42], Weyermann
[112] đã sử dụng GC và GC-MS để phân tích MDMA. Tác giả Bonadio và
cộng sự (2009) [37] đã dùng HS-SPME/GC-MS để PTTN MDMA, ưu điểm
của phương pháp là quy trình chiết tách đơn giản, cần lượng mẫu ít.
Nói chung, GC và GC-MS cho khoảng phát hiện rộng, độ nhạy cao,
giới hạn phát hiện nhỏ, có thể phân lập và xác định được hầu hết các tạp chất
trong mẫu. Phương pháp có thể được tự động hoá, cho độ lặp lại tốt. Thời
gian phân tích nhanh hơn so với HPLC và hiện nay vẫn là một trong những
phương pháp phân tích hóa lý hiện đại dược ứng dụng nhiều nhất trong PTTN
ma túy trên thế giới.
- Phương pháp điện di mao quản (CE): Các tác giả [69], [70], đã dùng
CE để phân tích ma túy nhóm ATS, phân biệt đồng phân quang học của MA
và dẫn xuất. Đây là phương pháp mới, có nhiều ưu điểm về độ phân giải, thời