Thực trạng và xu thế phát triển của hiệp định thương mại tự do (FTA) trong khu vực Asean - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

--------***-------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) TRONG KHU
VỰC ASEAN

Sinh viên thực hiện
Lớp
Khoá
Giáo viên hướng dẫn

: Phạm Thị Huyền Trang
: Anh 2
: K43A - KT&KDQT
: TS. Đỗ Hương Lan

Hà Nội


MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG..................................................1


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Sáng kiến Doanh nghiệp vì ASEAN

EPA

Hiệp định đối tác kinh tế

EAFTA

Khu vực Thương mại tự do Đông Á

EEC

Cộng đồng kinh tế Châu Âu

EFTA

Hiệp hội Thương mại tự do Châu Âu

EU

Liên minh Châu Âu

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA

Hiệp định Thương mại tự do (Free Trade Agreement)


Hiệp định đối tác kinh tế Nhật Bản - Singapore

LAFTA

Khu vực Mậu dịch tự do Mỹ Latinh

MERCOSUR

Thị trường chung Nam Mỹ

MFN

Quy chế Tối huệ quốc

NAFTA

Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ

OECD

Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển


PTA

Hiệp định Thương mại ưu đãi

R.O.O

Quy định xuất xứ hàng hóa


Ngân hàng thế giới

WTO

Tổ chức thương mại thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Hiện trạng các FTA của khối ASEAN với các đối
tác................................................................................................................37
Bảng 2: Toàn cảnh các sáng kiến FTA của Singapore.......41
Bảng 3: Tình hình tham gia FTA của Thái Lan...................44
Bảng 4: Tình hình tham gia FTA của Malaysia.................48
Bảng 5: Tình hình tham gia FTA của Philippine................51
Bảng 6: Tình hình tham gia FTA của Indonesia................53
Bảng 7: Tình hình tham gia FTA của các thành viên
CLMV.............................................................................................................57
Bảng 8: Kim ngạch mậu dịch Việt Nam-Nhật Bản..................71


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, khi mà vòng đàm phán đa phương trong khuôn khổ
GATT/WTO lâm vào tình trạng bế tắc trước những vấn đề mở rộng tự do thương
mại thì các quốc gia đang có xu hướng coi việc ký kết các Hiệp định thương mại tự
do (FTA) là một cứu cánh. Người ta không thể không chú ý tới làn sóng ký kết FTA
đang dậy lên mạnh mẽ trên khắp thế giới, trở thành một xu thế mới trong quan hệ
kinh tế quốc tế. Theo một thống kê mới nhất của WTO thì hầu hết các nước thành
viên của của tổ chức này đều có tham gia ký kết vào các FTA và giá trị trao đổi

những phân tích đối với chính sách FTA của từng quốc gia thành viên riêng biệt thuộc
ASEAN, từ đó rút ra được cái nhìn tổng quát về xu thế phát triển FTA tại khu vực.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp
phân tích-tổng hợp, phương pháp diễn giải-quy nạp, phương pháp thống kê, phương
pháp so sánh đối chiếu… để đi từ nghiên cứu những diễn biến thực tế đến khái quát
và đưa ra đánh giá xu hướng chung. Bên cạnh đó, khóa luận còn dựa trên các quan
điểm kinh tế, đường lối chính sách của các chủ thể (các nước) liên quan để làm sáng
tỏ vấn đề. Khóa luận cũng tham khảo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế nhằm
đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất.
5. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận bao gồm ba chương:
-

Chương I: Những vấn đề cơ bản liên quan đến Hiệp định thương

mại tự do
-

Chương II: Thực trạng và xu thế phát triển của Hiệp định thương

mại tự do trong khu vực ASEAN
-

Chương III: Triển vọng ký kết Hiệp định thương mại tự do cho Việt

Nam
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Tiến sỹ Đỗ Hương Lan đã tận
tình gợi ý, giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Em cũng
xin cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại thương trong suốt bốn

-

Thứ hai, đối tượng cắt giảm thuế và giảm các quy định thương mại khác là

với các mặt hàng có xuất xứ từ các nước thành viên trong Khu vực Thương mại tự do.
-

Thứ ba, khái niệm này cho thấy GATT mới chủ yếu quan tâm đến thương

mại hàng hóa. Đây cũng là điều dễ hiểu vì theo tiến trình lịch sử, quan hệ thương mại
giữa các nước thời kỳ này chủ yếu tập trung vào trao đổi mua bán hàng hóa hữu hình.
Qua đó có thể thấy quan niệm truyền thống về FTA mới chỉ dừng lại ở phạm
vi thương mại hàng hóa hữu hình và mức độ cam kết tự do hóa mới chỉ dừng ở cắt
giảm thuế quan và giảm thiểu một số quy định thương mại khác.

3


1.2. Quan niệm mới về Hiệp định Thương mại tự do (FTA)
Từ thập niên 1990 trở lại đây, khái niệm Hiệp định Thương mại tự do (FTA)
đã được mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về cam kết tự do hóa. Các FTA ngày
nay không chỉ dừng lại ở phạm vi cam kết cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế
quan, mà hơn thế còn bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn cả cam kết trong khuôn khổ
GATT/WTO cũng như một loạt vấn đề thương mại mới mà WTO chưa có quy định.
Phạm vi cam kết của các FTA “thế hệ mới” còn bao gồm những lĩnh vực như thuận
lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh
(còn gọi là “những vấn đề Singapore”), các biện pháp phi thuế quan, thương mại
dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, tiêu chuẩn và hợp chuẩn,
lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề như dân chủ, nhân quyền
hay chống khủng bố… Khái niệm FTA được sử dụng rộng rãi ngày nay không còn

hóa. Nội dung của quy chế này là quy định một hàm lượng nội địa nhất định. Hàng
hóa nhập khẩu vào nước đối tác phải đáp ứng được tỷ lệ nội địa đó mới được hưởng
những ưu đãi về thuế hơn so với hàng hóa từ nước thứ ba.
Ngoài ra, FTA còn có thể có những quy định về mặt thủ tục hải quan nhằm
đơn giản hóa thủ tục, hài hòa với những tiêu chuẩn quốc tế và từ đó tạo thuận lợi
cho thông thương hàng hóa. FTA còn có thể đưa ra điều khoản về Thương mại
không qua giấy tờ với mục đích khuyến khích phát triển thương mại điện tử giữa
các bên.
2.2. Tự do hóa thương mại dịch vụ
FTA ngày nay thường bao gồm cả nội dung tự do hóa thương mại dịch vụ,
có nghĩa là các nước tham gia hiệp định cam kết mở cửa thị trường dịch vụ cho
nhau, tuy nhiên phạm vi và mức độ mở cửa lớn hay nhỏ trong các FTA còn tùy
thuộc vào quốc gia tham gia ký kết. Các nước đang phát triển ký kết với nhau thì
mức độ tự do hóa trong thương mại dịch vụ thường không cao bằng trong thương
mại hàng hóa. Nhưng nếu FTA có sự tham gia của Mỹ hay một số nước phát triển
khác thì thường đòi hỏi mức độ tự do hóa dịch vụ rất cao, thậm chí là đòi hỏi mở
cửa tuyệt đối.
2.3. Tự do hóa đầu tư
Các cam kết hướng tới tự do hóa đầu tư ngày càng xuất hiện nhiều trong các
FTA, đặc biệt là các FTA có sự tham gia của các nước phát triển. Nội dung của các
cam kết này thường là quy định dỡ bỏ các rào cản đối với nhà đầu tư của nước đối

5


tác, tạo điều kiện thuận lợi cho họ ký kết đầu tư, ví dụ: bảo vệ các nhà đầu tư và
hoạt động đầu tư, áp dụng quy chế đối xử quốc gia đối với các chủ đầu tư và hoạt
động đầu tư, cấm các biện pháp cản trở đầu tư, đảm bảo bồi thường thỏa đáng trong
trường hợp quốc hữu hóa, đảm bảo tự do lưu chuyển thanh khoản…
2.4. Thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước tham gia ký kết hiệp định

chia thành FTA song phương (BFTA), FTA khu vực và FTA hỗn hợp
BFTA là loại FTA chỉ có hai nước tham gia ký kết, và hiệp định này cũng
chỉ có giá trị ràng buộc đối với hai quốc gia này mà thôi. BFTA do đặc điểm chỉ
gồm 2 thành viên nên quá trình đàm phán và việc đạt được thỏa thuận cũng trở nên
dễ dàng, nhanh chóng hơn so với các FTA khu vực hay FTA hỗn hợp. Trong làn
sóng ký kết FTA toàn cầu hiện nay thì BFTA là loại FTA được ký kết nhiều nhất,
phát triển mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng cam kết.
FTA khu vực là Hiệp định Thương mại tự do có sự tham gia của từ ba nước
thành viên trở lên, thông thường các nước này có vị trí địa lý gần nhau. Những nước
này tham gia FTA khu vực thường với mục đích tận dụng ưu thế về vị trí địa lý để
tăng cường trao đổi thương mại, cũng như thắt chặt mối quan hệ láng giềng cũng
như nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Một số FTA khu vực
điển hình nhất đó là Liên minh châu Âu (EC), Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ
(NAFTA), Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA).
FTA hỗn hợp là FTA được ký kết giữa một khu vực tự do thương mại (FTA
khu vực) với một nước, một số nước hoặc một khu vực tự do thương mại khác. Bất
chấp sự phức tạp trong việc đàm phán, hiện nay loại FTA này cũng đang phát triển
và tăng lên nhanh chóng về mặt số lượng. Một số FTA hỗn hợp điển hình như: FTA
ASEAN- Trung Quốc (ACFTA), FTA ASEAN- Hàn Quốc, FTA EC - Mexico,
FTA EC -Isarel…
Có thể coi FTA hỗn hợp là một dạng FTA song phương đặc biệt vì đây là
thỏa thuận tự do thương mại giữa một bên là một quốc gia và một bên là một khu
vực mậu dịch tự do (hoặc một liên minh thuế quan). Tuy nhiên, rõ ràng là để đạt
được một FTA hỗn hợp sẽ khó khăn phức tạp hơn nhiều so với một FTA song
phương, nhất là về khía cạnh đàm phán và hệ quả.
Về quá trình đàm phán: Đối với một FTA song phương thông thường, quá
trình đàm phán sẽ diễn ra giữa hai quốc gia tham gia ký kết. Nhưng đối với một
FTA hỗn hợp thì quá trình đàm phán sẽ diễn ra theo một trong hai cách hoặc cả hai
cách sau:


định hoặc việc đảo ngược lại các điều khoản trong hiệp định là rất khó khăn. Trong
hiệp định này áp dụng quy chế MFN và NT và tất cả các ngành đều phải mở cửa,
trừ khi các bên có quy định khác và phải được ghi rõ trong hiệp định. Điều này

8


khiến người ta cho rằng FTA kiểu Mỹ có xu hướng làm giảm sự tham gia của
chính phủ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái hoặc các ngành dịch vụ công. Ví
dụ về FTA kiểu Mỹ điển hình là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA).
Xếp thứ hai sau Mỹ là FTA kiểu châu Âu. Đây cũng là dạng FTA có mức
độ tự do hóa khá cao, thậm chí gần bằng FTA kiểu Mỹ. Điểm khác biệt của 2 loại
FTA này là FTA kiểu châu Âu chỉ quy định mở cửa những lĩnh vực mà các nước
cam kết hoặc thống nhất riêng với nhau. Ví dụ điển hình của FTA kiểu này là cam
kết về tự do hóa thương mại của Liên minh châu Âu (EU). Trong cam kết tự do hóa
thương mại, các nước EU đã không đưa vào lĩnh vực nông nghiệp - lĩnh vực vốn rất
nhạy cảm và được hầu hết các nước thành viên EU bảo hộ. Các thành viên EU đều
có những chính sách nông nghiệp riêng phù hợp điều chỉnh với những đặc thù của
ngành nông nghiệp nước mình. Việc đưa nông nghiệp vào FTA sẽ làm ảnh hưởng
lớn đến nền an ninh lương thực của các quốc gia cũng như đời sống của những
người làm nông nghiệp mỗi nước.
Xét về mức độ tự do hoá thì FTA kiểu các nước đang phát triển kém hơn
hẳn so với hai dạng FTA ở trên. FTA kiểu này thường chú trọng nhiều hơn đến tự
do hóa thương mại hàng hóa và ít khi bao gồm các điều khoản quy định mở cửa cho
nhau trong các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA) và Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) là những ví
dụ điển hình cho kiểu FTA này. Có thể nói trong khi FTA kiểu Mỹ được xem là hội
nhập một cách sâu rộng nhất thì FTA kiểu các nước đang phát triển được xem là
mang lại ít ảnh hưởng nhất.
4. Tác động của Hiệp định thương mại tự do FTA

làm ăn kém hiệu quả nhưng đối với cả nền kinh tế lại là một hiệu ứng tích cực, đặc
biệt đối với những nước đang hướng tới một nền kinh tế thị trường phát triển.
Lợi ích từ sự gia tăng cạnh tranh mang đến cho nền kinh tế có thể là: Thứ
nhất, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp cắt giảm chi phí và tăng doanh số, điều này
giúp giảm các méo mó trên thị trường và có lợi cho người tiêu dùng. Thứ hai, quy
mô thị trường lớn hơn cho phép doanh nghiệp khai thác hiệu quả kinh tế từ quy mô
tốt hơn. Thứ ba, cạnh tranh khiến các hãng phải đa dạng hóa sản phẩm, nghĩa là
người tiêu dùng sẽ có sự lựa chọn phong phú hơn sau khi FTA hình thành. Thứ tư,
môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn buộc các hãng phải loại bỏ bớt những hoạt
động không hiệu quả bên trong hệ thống doanh nghiệp và gia tăng năng suất đồng
thời người lao động cũng phải nâng cao hiệu suất công việc để thích nghi với điều
kiện làm việc cạnh tranh hơn, dễ bị mất việc làm hơn. Cuối cùng, hiệu ứng cạnh
tranh còn buộc các nước thành viên phải cải cách hệ thống pháp luật liên quan nhằm
đạt được một hệ thống pháp luật hoàn thiện và hợp lý hơn phù hợp với tiến trình tự
do hóa.


Hiệu ứng thúc đẩy đầu tư

Hiệu ứng thúc đẩy đầu tư do FTA tạo ra thể hiện ở việc tạo ra những tác

10


động tích cực đối với môi trường đầu tư và hành vi của nhà đầu tư. Một FTA khi
hình thành có thể thúc đẩy cả dòng đầu tư nội địa và đầu tư nước ngoài, dòng đầu tư
giữa các thành viên FTA cũng như với bên ngoài FTA đó.
Thứ nhất, FTA thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư về mặt
chất thông qua việc nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm thiểu các méo
mó của môi trường đầu tư.


11


thuần xuất phát từ những mục tiêu kinh tế, mà còn từ những động cơ, kỳ vọng về
chính trị và an ninh. Khi hai đối tác có quan hệ kinh tế, thương mại gần gũi hơn có
thể làm gia tăng lòng tin giữa các bên từ đó làm giảm những bất trắc trong quan hệ
đối ngoại, xác suất xung đột sẽ giảm tương ứng đồng thời củng cố quan hệ chính trị.
Hơn nữa, việc hình thành FTA còn tạo ra cơ chế hợp tác và phối hợp về chính sách
giữa các nhà nước, nhờ đó củng cố sự ổn định và an ninh của một nhóm nước hay
một khu vực, thậm chí toàn cầu.


Hiệu ứng cam kết cải cách

Hiệu ứng này là việc hình thành FTA cho phép các quốc gia thành viên có
thể duy trì sự nhất quán trong chính sách của mình cho dù các thế hệ lãnh đạo hay
nhiệm kỳ Chính phủ có thể thay đổi theo thời gian. Nếu không có các cam kết quốc
tế trong FTA, chính quyền mới của một quốc gia rất có thể đảo ngược chính sách
kinh tế đối ngoại của chính quyền tiền nhiệm, hoặc không đủ cơ sở pháp lý để duy
trì quá trình cải cách chính sách trong nước của chính quyền tiền nhiệm. Trong khi
đó, những thay đổi chính sách bất ngờ và không tiên liệu được khiến các nhà đầu tư,
đặc biệt là những nhà đầu tư nước ngoài, rụt rè hơn trong đầu tư thậm chí không rót
vốn trong nhiệm kỳ chính quyền đó.
Do vậy, việc hình thành các FTA sẽ cho phép một nước thành viên có các cam
kết quốc tế lâu dài và nhất quán hơn, do đó làm tăng mức độ tín nhiệm của môi trường
kinh doanh quốc gia trong mắt giới đầu tư. Có thể lấy ra đây ví dụ về Mexico, một
trong những mục đích chính của quốc gia này khi tham gia NAFTA chính là làm tăng
niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với các cải cách trong nước.


có được chính sách, cơ chế phối hợp hiệu quả, thống nhất hơn trước các đối tác lớn.
Ví dụ rất rõ ràng cho hiệu ứng này là trường hợp ASEAN/AFTA.
4.1.2. Tác động tiêu cực


Hiệu ứng chệch hướng thương mại

Hiệu ứng này xuất hiện khi nhà cung ứng không phải là thành viên của FTA
có mức giá thấp hơn lại bị nước thành viên FTA thay thế bằng một nhà cung ứng
trong FTA mặc dù có chi phí cao hơn. Như vậy nhà cung ứng kém hiệu quả hơn
(thành viên FTA) lại thay thế nhà cung ứng hiệu quả hơn (không phải thành viên
FTA) vì được hưởng các ưu đãi thuế quan do việc tham gia FTA mang lại. Do đó,
hiệu ứng này làm chệch dòng thương mại của một thành viên FTA từ nhà cung ứng
hiệu quả sang nhà cung ứng kém hiệu quả hơn và thành viên đó phải chịu thêm một
khoản chi phí do phải trả giá nhập khẩu cao hơn. Hệ quả này còn làm nhà cung ứng
ngoài FTA mất thị phần xuất khẩu và có thể buộc họ phải giảm giá xuất khẩu. Hiện
tượng này đặc biệt hay xuất hiện ở các FTA giữa các nước đang phát triển.
Ngoài ra, việc hình thành FTA còn có thể đưa đến một tác động tiêu cực
khác, đó là việc các quốc gia thành viên có thể phải hi sinh hoặc chịu thiệt thòi
trong một số lĩnh vực hoặc một số ngành nhất định khi theo đuổi mục đích đạt được

13


FTA với đối tác. Nhưng nhiều khi những bất đồng liên quan đến những lĩnh vực
nhạy cảm này lại chính là nguyên nhân trực tiếp khiến quá trình đàm phán FTA bị
kéo dài hoặc thậm chí bị hủy bỏ.
Như vậy bên cạnh những lợi ích to lớn mà FTA mang lại cho các nước thành
viên thì vẫn còn một số những hiệu ứng tiêu cực. Tuy nhiên xét một cách toàn diện
và lâu dài thì lợi ích mà FTA đem đến vẫn lớn hơn, FTA đem lại những chuyển

viên WTO trong tương lai cho mình thông qua việc thực hiện các nguyên tắc tự do
hóa thương mại trên nền tảng của hệ thống thương mại đa phương trong FTA.
b/ FTA có thể hỗ trợ tiến trình tự do hóa thương mại trong WTO
Những người ủng hộ lập luận này, như Loyd (2002) [27] cho rằng, các FTA
có thể tạo ra các tiền lệ tốt về phương thức đàm phán và thể thức của một khu vực
thương mại tự do nếu được hình thành và đó là những tiền lệ có thể áp dụng được
vào quá trình đàm phán đa phương. Ví dụ, FTA đó có thể mở rộng phạm vi cam kết
tự do hóa còn cao hơn so với cam kết hiện có của WTO hoặc những vấn đề mà
WTO vốn đang bế tắc. Nếu càng có nhiều nước cam kết như vậy trong khuôn khổ
các FTA thì sẽ càng thuận lợi trong việc đạt được các cam kết có mục đích tương tự
trong vòng đàm phán đa phương của WTO. Có thể nói các tiến trình tự do hóa song
phương và khu vực đang góp phần tạo áp lực thúc đẩy tiến trình tự do hóa đa
phương đi nhanh hơn.
c/ FTA là một kênh thay thế tiến tới tự do hóa thương mại đa phương
Quan điểm ủng hộ tự do hóa thương mại khu vực lập luận rằng các FTA sẽ
trở thành những “ viên gạch lát đường” cho quá trình tự do hóa thương mại đa
phương. Nghiên cứu của Baldwin (1996) [19] đã phân tích “Hiệu ứng Đôminô” của
việc hình thành các FTA, theo đó khi FTA hình thành thì các nước đứng ngoài sẽ có
động lực đua nhau gia nhập FTA đó do lo ngại bị phân biệt đối xử, không được
hưởng những ưu đãi của các nước tham gia FTA dành cho nhau. Cùng với quá trình
kết nạp thành viên mới thi FTA đó sẽ trở nên rộng lớn hơn và dần bao gồm toàn bộ
nền thương mại thế giới.
4.2.2. Tác động tiêu cực
a/ FTA có thể làm suy yếu hệ thống thương mại hóa đa phương thông qua
việc áp đặt hàng loạt các luật lệ về nguồn gốc xuất xứ khác nhau và phổ biến hóa
sự vi phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử thông qua các hiệp định thương mại
tự do song phương BFTA, thậm chí có thể phá vỡ các nguyên tắc cơ bản này của
WTO.

15

chọn khác, đó là tự do hóa thương mại thông qua các FTA thì họ có thể chấp nhận
việc tự do hóa trong khuôn khổ vùng. Bhawati lo ngại sau khi đã đạt được giải pháp

16


hội nhập khu vực và song phương, các nhà kinh doanh và các chính trị gia sẽ không
còn động lực thúc đẩy tự do hóa đa phương nữa [20].
c/ FTA có thể làm gia tăng các hình thái bảo hộ mới
Một số quan điểm phản đối FTA cho rằng những quy định mang tính ưu đãi
chỉ dành riêng cho các thành viên FTA sẽ tạo ra những nhóm lợi ích mới và các
nhóm này sẽ cản trở quá trình cải cách bên trong vì họ không muốn mất đi vị thế
thuận lợi tại thị trường do FTA tạo ra. Thậm chí FTA có thể còn gây ra những xung
đột và căng thẳng mới do bản chất của các “ưu đãi” là phân biệt đối xử với bên thứ
ba và bất kỳ để xuất nào nhằm mở rộng những “ưu đãi” riêng có đó cho những đối
tác thương mại mới sẽ gây nên các xung đột lợi ích trong lòng xã hội. Nghiên cứu
của De Melo và Pangariya (1993) [24] đã dẫn chứng quá trình hội nhập kinh tế ở
Tây Âu với nhận định rằng việc hình thành Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) đã
trở thành công cụ để nhân rộng những biện pháp bảo hộ nông nghiệp quốc gia ra
toàn cấp độ khu vực, nghĩa là các hiệp định thương mại khu vực đã trở thành
phương tiện mở rộng chủ nghĩa bảo hộ sang quốc gia khác .
d/ Các FTA có các thành viên quá chênh lệch về sức mạnh có thể dẫn đến áp
đặt mô hình tự do hóa của các nước mạnh và gây khó khăn cho việc thống nhất mô
hình hội nhập chung trong WTO
Một thực tế là ngày càng xuất hiện nhiều các FTA Bắc-Nam và điều đáng
nói là các nước mạnh thường gây sức ép và áp đặt những mô hình chính sách của
mình, buộc các nước nhỏ phải tuân theo. Cho dù sự mất cân bằng sức mạnh cũng
tồn tại trong khuôn khổ thương mại tự do đa phương của WTO nhưng sức mạnh của
các nước lớn đã bị hạn chế đi nhiều do 2/3 số thành viên WTO là các nước đang
phát triển và họ có quyền phủ quyết các quyết sách của WTO như họ đã làm trong

1.1. Khu vực Tây Âu
Châu Âu được coi là khu vực tập trung nhiều nhất các thỏa thuận thương mại
khu vực [23]. Liên minh châu Âu (EU) là nhóm nước tích cực triển khai các FTA
song phương và khu vực nhất. Trước khi được mở rộng thành EU-25, EU-15 đã ký
kết tổng cộng 111 hiệp định song phương và khu vực với các nước. Cụ thể, tới nay
EU đã ký kết và thực thi các FTA với Tuynizi (1995), Irsarel (1995), Ma rốc
(1996), Giooc-đani (1997), chính quyền Palestine (1997), Algeria (2001), Hy Lạp
(2001) và Li-băng (2002). Các sáng kiến FTA với nhóm nước đáng chú ý là Hiệp
định với nhóm nước Địa Trung Hải (EU-Mediterran FTA), với nhóm nước ACP

18


(EU-ACP FTA) thay thế cho Hiệp ước Lôme, FTA với Hội đồng hợp tác Vùng
Vịnh (GCC) và FTA với khối Mercosur.
Sau khi EU -15 mở rộng thêm 10 thành viên mới thành EU-25 vào ngày
1/5/2004, số lượng các FTA trong EU đã giảm mạnh do việc kết nạp 10 thành viên
mới đã tự động “làm vô hiệu” 65 FTA giữa 10 thành viên mới với các thành viên
EU-15 và giữa 10 thành viên mới với bên thứ ba trước khi kết nạp. Song không gian
thị trường chung châu Âu giờ đây đã gồm 28 nước (EU-25 cộng với 3 thành viên
của EFTA) với 450 triệu dân và chiếm 18% nền thương mại thế giới. Nhìn chung,
các hiệp định thương mại tự do trong khuôn khổ EU là một bộ phận của quá trình
tăng cường nhất thể hóa châu Âu về mặt kinh tế và chính trị. Do vậy, các hiệp định
thương mại tự do của EU sẽ có xu hướng tích hợp thành các hiệp định rộng lớn hơn.
1.2. Khu vực Trung và Đông Âu
Sự phân rã của Liên bang Xô-viết và giải tán Hội đồng tương trợ kinh tế
(COMECON) đã tạo ra 3 chiều hướng liên kết khu vực tại Trung và Đông Âu. Thứ
nhất, một số nước kinh tế chuyển đổi Trung và Đông Âu đã gia nhập các FTA của
EU và EFTA. Thứ hai, Liên bang Nga cùng các nước thành viên cũ của Liên bang
Xô-viết đã nhanh chóng thành lập không gian Cộng đồng các quốc gia độc lập

khu vực và khu vực với 10 nền kinh tế khác nữa (như Colombia, Ecuado, Peru,
Panama, SACU và Thái Lan). Mỹ cũng đang nghiên cứu khả thi về FTA với một
loạt nước như Bolivia, Hy Lạp, New Zealand, Pakistan, Philippine, Đài Loan (TQ)
và Urugoay [31]. Mới đây nhất, Mỹ và Hàn Quốc đã ký FTA song phương
(KORUSFTA) và đang trong quá trình chờ Quốc hội hai nước phê chuẩn.
2.2. Khu vực Trung và Nam Mỹ
Ngay từ thập kỷ 1960, các nước Mỹ La-tinh đã thành lập Khu vực mậu dịch
tự do Mỹ La-tinh (LAFTA). Trong xu hướng hình thành FTA hiện nay, khu vực
Trung và Nam Mỹ này cũng hết sức tích cực với các thỏa thuận thương mại song
phương và nội khối với mục tiêu cao nhất là hình thành một liên minh thuế quan
đầy đủ. Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Cộng đồng Andean
(Adean Community), Khối Thị trường chung Trung Mỹ (CACM) và Cộng đồng
Caribe (CARICOM) là những ví dụ sinh động.
Xét ở bình diện toàn châu lục, xu hướng hình thành FTA ở châu Mỹ đang
được triển khai theo hướng lập nên Khu vực Thương mại tự do toàn châu Mỹ
(FTAA) với 34 thành viên, một sự kêt nối NAFTA với MERCOSUR, Cộng đồng
Adean, CACM và Caricom. Kế hoạch này được khơi xướng tại Hội nghị Thượng

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status