I.
LỜI MỞ ĐẦU
Hôn nhân và gia đình – đó là những hiện tượng xã hội mà luôn luôn được
các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học… nghiên cứu. Hôn nhân là cơ sở
để của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp chặt chẽ,
hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội.
Sự kết hôn đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng. Nội dung
của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân
thân và các nghĩa vụ và quyền về tài sản, trong đó nghĩa vụ và quyền về nhân
thân là nội dung chủ yếu trong quan hệ vợ chồng. Các nghĩa vụ và quyền này
được pháp luật bảo hộ.
Quyền và nghĩa vụ nhân thân là nội dung chủ yếu của quan hệ vợ chồng
nhưng quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng cũng đóng vai trò quan trọng
không kém trong đời sống gia đình, mang những nét đặc trưng gắn liền với nhân
thân của vợ chồng.
Nhận thức được điều này, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Trách nhiệm pháp
lý của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hoặc vợ thực hiện
liên quan đến tài sản chung của vợ chồng”. Do kiến thức còn hạn chế nên bài
làm không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý từ các Quý
thầy cô cùng các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
1
II.
NỘI DUNG CHÍNH
Giao dịch một bên ở đây là một loại giao dịch dân sự, nó do một bên (vợ
hoặc chồng) thực hiện.
c. Tài sản chung của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng.
Theo đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát
sinh của tài sản. Cụ thể tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản sau:
•
Tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất,
kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;
•
Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể
là: tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng
có được hoặc tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy
định của Bộ luật dân sự 2005 như: từ Điều 239 đến Điều 244 BLDS.
•
Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng thu nhập nói trên;
•
Tài sản mà vợ chồng được tặng, cho chung hoặc thừa kế chung;
•
Tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kêt hôn hoặc những tài sản mà
vợ chồng được thừa kế riêng hay được tặng cho riêng trong thời kỳ
hôn nhân gia đình.
4
Dưới góc độ pháp lý tài sản vợ chồng có thể hiểu là tổng hợp các quy định
của pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng bao gồm các quy định căn
cứ xác lập tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản
chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng.
b. Trách nhiệm pháp lý của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên
chồng hoặc vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng
Quyền bình đẳng của vợ và chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong
việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung
có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung
để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận (Điều 28 Luật hôn
nhân và gia đình). Như vậy, mọi giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá
trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì vợ chồng cần bàn bạc , thỏa
thuận với nhau thì những giao dịch đó mới có giá trị pháp lý.
Đối với những giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị không lớn
hoặc để phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình thì chỉ cần một bên vợ
hoặc chồng thực hiện thì đương nhiên coi là có sự đồng ý của bên kia.
Trong trường hợp vì lý do nào đó mà chỉ có một bên vợ hoặc chồng thực
hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhằm để phục
vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình thì bên kia phải chịu trách
nhiệm liên đới (Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000).
Đối với trường hợp vợ chồng tiến hành sản xuất kinh doanh
Thứ nhất, chỉ có môt bên vợ hoặc chồng tiến hành hoạt độn sản xuất kinh
doanh. Có những cặp vợ chồng mà xuất phát từ điều kiện thực tế của gia đình,
họ quyết định chỉ cẩn một bên tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, một bên
5
ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh cũng như tùy thuộc vào trình độ chuyên môn
của mỗi bên. Lúc này nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh sẽ được bảo
đảm thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản riêng thì vẫn còn có những quan
điểm khác nhau.
Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện
“Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp
pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết
yếu của gia đình”.
Theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật dân sự: “Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa
vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và người có quyền có thể yêu cầu bất cứ
ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”.
Lần đầu tiên Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đặt ra vấn đề: “Vợ hoặc
chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một
trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia
đình”. Điều này có nghĩa khi vợ chồng thực hiện giao dịch dân sự nhằm đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì đương nhiên được coi là đã có sự
thỏa thuận của cả hai vợ chồng và vợ chồng cùng liên đới chịu trách nhiệm.
Trong cuộc sống và sinh hoạt gia đình, để đáp ứng nhu cầu về mặt vật chất và
tinh thần của các thành viên, việc vợ hoặc chồng phải tham gia giao kết nhiều
loại hợp đồng dân sự với các chủ thể khác là phổ biến, pháp luật không thể kiểm
soát mỗi khi giao kết hợp đồng phải có sự thỏa thuận, thậm chí bằng văn bản của
hai bên. Vì vậy, mặc dù giao dịch đó chỉ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện
với người thứ ba nhưng vẫn được thừa nhận là phù hợp với pháp luật, vợ hoặc
chồng không thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng này bị vô hiệu với lý do chưa có sự
đồng ý của mình. Việc thực hiện hợp đồng phải được bảo đảm bằng tài sản
7
chung của vợ chồng, tức vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao
Theo Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, thì việc xác lập,
thực hiện, chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ, chồng
được quy định như sau:
“1. Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch
dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản
chung là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm
dứt các giao dịch liên quan đến định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một
bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi
tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định thì sự
thỏa thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản
có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực…)
2. Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo
hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản
thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng
chung và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia
đình, thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự
thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.
3. Tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng nói tại khoản 1, khoản 2 Điều này
được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trông khối tài sản chung
của vợ chồng.
4. Trong trường hợp vợ chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch
dân sự liên quan đến tài sản chung quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà
9
không có sự đồng ý của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố
giao dịch đó vô hiệu theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật Dân sự và hậu quả
pháp lý được giải quyết theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật Dân sự.”
2. Theo các quy định nêu trên của pháp luật thì khi tham gia vào giao dịch
Trung.
Căn cứ vào kết luận giám định số 1017 ngày 15-4-2002 của Viện khoa học
hình sự Bộ Công an thì chữ ký trông hợp đồng mua bán nhà giữa ông Dũng, bà
Nga với ông Trung, bà Tuyết không phải chữ ký của bà Nga, nên Tòa án cấp sơ
thẩm và cấp phúc thẩm đều xác định hợp đồng mua bán nhà giữa ông Dũng với
vợ chồng ông Trung là vô hiệu. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 147/DSPT ngày
16-4-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang nhận định để đảm bảo việc thi
hành án nên tuyên xử buộc vợ chồng ông Dũng và bà Nga cùng liên đới hoàn trả
cho vợ chồng ông Trung 300.000.000 đồng tiền bán nhà đã nhận và tiền chênh
lệch 1/2 giá trị căn nhà là 191.807.000 đồng. (Ngoài ra Bản án còn giải quyết các
quan hệ pháp luật khác).
Ví dụ thứ hai: Ngày 16-3-2000 ông Nguyễn Văn Can lập hợp đồng bán cho
anh Doãn Hữu Hùng căn nhà tại tổ 6, khu 5, phường Trần Hưng Đạo, thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là tài sản chung của ông và bà Ngô Thị Lý (là vợ
ông) với giá 34.500.000 đồng, không có sự đồng ý của bà Lý. Do đó bà Lý đã
khởi kiện đòi anh Hùng phải trả lại nhà cho bà. Ông Can và anh Hùng đều thừa
nhận việc mua bán nhà chưa có sự đồng ý của bà Lý, tiền bán nhà ông Can đã sử
dụng. Anh Hùng đề nghị được tiếp tục thực hiện hợp đồng, trường hợp phải trả
lại nhà thì yêu cầu ông Can, bà Lý phải trả cho anh tiền mua nhà và tiền sửa
chữa nhà mà anh đã bỏ ra là 28.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc
thẩm đều xác định hợp đồng mua bán nhà giữa ông Can với anh Hùng là vô hiệu.
11
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 11/DSPT ngày 6-3-2002 của Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ninh đã quyết định: Buộc anh Hùng phải trả cho bà Lý, ông Can căn
nhà tại tổ 6, khu 5, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng
Ninh. Buộc ông Can phải trả cho anh Hùng 34.500.000 đồng. Vợ chồng bà Lý,
ông Can có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền sửa chữa nhà cho anh Hùng.
19.000.000 đồng (vì bà Lý, ông Can cùng được nhận lại nhà, thì cùng phải liên
pháp lý của hợp đồng vô hiệu có khác nhau.
3. Để khắc phục tình trạng trên khi giải quyết các vụ án xác định trách nhiệm
liên đới liên quan đến hợp đồng dân sự bất hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng
thực hiện đối với tài sản chung của vợ chồng, em nhận thấy cần phải thống nhất
đường lối giải quyết loại việc này như sau:
- Nếu một bên vợ hoặc chồng tham giá các hợp đồng dân sự liên quan đến tài sản
chung có giá trị lớn mà không có sự đồng ý của bên kia, thì bên đó có quyền yêu
cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng dân sự đó, Tòa án phải tuyên bố hợp đồng dân sự
đó là vô hiệu.
- Tuy một bên vợ hoặc chồng không có sự tham gia hợp đồng dân sự, làm cho
hợp đồng dân sự đó trở nên bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu, song thông qua các
hợp đồng đó vẫn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình, thì bên vợ hoặc
chồng không tham gia hợp đồng dân sự vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối
với việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
- Việc thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bên vợ hoặc chồng không tham
gia hợp đồng dân sự, không nhất thiết phải được xác định bằng văn bản thỏa
thuận, mà chỉ cần xác định bên vợ hoặc chồng không tham gia hợp đồng dân sự
đó có biết và phải biết việc tham gia hợp đồng dân sự của phía bên kia, thì sẽ
13
buộc họ phải có trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp
đồng vô hiệu.
Tóm lại, vấn đề về trách nhiệm pháp lý của vợ chồng cũng như vấn đề về
trách nhiệm và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng luôn là một trong những vấn đề
quan trọng nhất của Luật hôn nhân và gia đình. Bên cạnh những quy phạm đã
được quy định sẵn thì trên thực tế vẫn còn rất nhiều những bất cập, vì vậy mong
rằng trong tương lai, nước ta sẽ có một hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện
hơn nữa, xứng đáng là công cụ đắc lực của Nhà nước về quản lý xã hội.
Lời mở đầu
Nội dung chính
1. Cơ sở lý luận
a. Trách nhiệm pháp lý
b. Giao dịch dân sự
c. Tài sản chung của vợ và chồng trong TKHN
2. Nội dung chính
a. Những vấn đề cơ bản về tài sản của vợ chồng
b. Trách nhiệm pháp lý của vợ, chồng đối với những giao
dịch do một bên chồng hoặc vợ thực hiện liên quan đến
tài sản chung của vợ chồng
Đối với trường hợp vợ chồng tiến hành SXKD
Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch
một bên thực hiện
Thực tế
Lời kết
1
2
2
2
3
3
4
4
5
5
7
8