LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở Việt Nam đặt ra một yêu cầu cấp thiết
là phải phát triển thị trường vốn hiệu quả nhằm cung cấp vốn trung và dài hạn cho
nền kinh tế. Để có một thị trường vốn như thế, đòi hỏi trước mắt là phải xây dựng
được một thị trường chứng khoán vững mạnh. Thị trường chứng khoán sẽ làm tăng
tính thanh khoản của các công cụ huy động vốn, từ đó thúc đẩy thị trường sơ cấp
phát triển. Mặt khác, thị trường chứng khoán khắc phục được đáng kể hạn chế về
không gian, thời gian và quy mô trong việc huy động vốn. Cùng với sự phát triển
của thị trường chứng khoán là sự phát triển của hoạt động kinh doanh chứng khoán,
và hoạt động kinh doanh chứng khoán đã trở thành hoạt động không thể thiếu của
thị trường chứng khoán. Muốn xây dựng một thị trường chứng khoán vững mạnh
thì việc xây dựng, phát triển, và quản lí các hoạt động kinh doanh chứng khoán là
vô cùng cần thiết. Tuy nhiên để làm được điều này thật sự không dễ dàng, vì hoạt
động kinh doanh chứng khoán luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Để tìm hiểu vấn đề này.
Em đã chọn đề tài: “Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán, phân loại nguyên
nhân và các quy định pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro”.
Do đây là một vấn đề khó, đòi hỏi kiến thức kinh tế cũng như hiểu biết về thị
trường chứng khoán Việt Nam nên trong bài làm không thể tránh khỏi những sai
sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để hoàn thiện bài làm của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái niệm kinh doanh chứng khoán
Cùng với sự xuất hiện của nghề kinh doanh chứng khoán, thuật ngữ “kinh doanh
chứng khoán” thực chất mới được du nhập và sử dụng ở nước ta trong thời gian
gần đây do hệ quả của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Ở Việt Nam theo quy định tại Khoản 19 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 thì
_Thứ ba, hoạt động kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ một số nguyên tắc đặc
thù của thị trường chứng khoán, chẳng hạn như nguyên tắc công bằng, công khai,
2
minh bạch và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Việc thể chế hóa bằng
pháp luật những nguyên tắc này là những đảm bảo pháp lí cho sự vận hành an toàn,
hiệu quả của thị trường chứng khoán đồng thời bảo vệ một cách hữu hiệu quyền và
lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư tham gia thị trường.
1.3 Vai trò của hoạt động kinh doanh chứng khoán
Ta có thể nhận thấy vai trò của hoạt động kinh doanh chứng khoán được thể hiện
trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:
_Một là, kinh doanh chứng khoán là phương thức thiết lập kệnh dẫn vốn trực tiếp
giữa các nhà đầu tư là công chứng với chính phủ và doanh nghiệp.
_Hai là, kinh doanh chứng khoán khiến cho dòng vốn đầu tư trên thị trường chứng
khoán vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn thông các nghiệp vụ chính như môi giới
chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tự doanh, quản lí danh mục đầu tư hay tư vấn
đầu tư chứng khoán.
_Ba là, kinh doanh chứng khoán là chất xúc tác, thúc đẩy thị trường chứng khoán
hoạt động thông qua đòn bẩy lợi ích kinh tế của các nhà kinh doanh chứng khoán
chuyên nghiệp. Điều dễ hiểu là khi các nhà kinh doanh chứng khoán được lợi nhiều
hơn trong các hoạt động kinh doanh thì đương nhiên họ sẽ tham gia vào thị trường
chứng khoàn một cách tích cực hơn và ngược lại. Khoản lợi ích này thực chất là sự
chia sẻ giữa khách hàng với các nhà kinh doanh chứng khoán thông qua con đường
thương lượng bằng các hợp đồng.
Tóm lại, vai trò tác động của hoạt động kinh doanh chứng khoán đối với hoạt động
kinh tế nói chung và thụ trường chứng khoán nói riêng là không thể phủ nhận. Do
vậy, việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán
nhằm định hướng cho hoạt động này phát triển phù hợp với các quy luật kinh tế,
thể gây tổn thất cho các chủ thể hoạt động kinh doanh chứng khoán. Các chấn động
của thị trường như:
+, Các trào lưu mua bán theo tâm lý đám đông, đầy cảm tính và xúc cảm, làm phá
vỡ các quy luật vận động bình thường của thị trường. Ta có thể thấy rõ tác động
của các trào lưu này qua diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam năm
2007, khi mọi người đổ xô đi mua chứng khoán, chỉ số VN-INDEX liên tục phá vỡ
những kỉ lục và đã vượt xa mốc 1000 điểm, vượt xa giá trị thực tế của thị trường.
+, Các hoạt động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và tự “đánh
bóng”, thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo và thông đồng có tổ chức của một số nhà đầu
tư chuyên nghiệp có tiềm lực tài chính và sức mạnh khác đủ tạo nên động thái
thăng, trầm của thị trường để trục lợi.
+, Các chấn động thị trường khác từ nước ngoài. Tiêu biểu là các cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu như cuộc cuộc khủng hoảng tài chính – tiền lệ những năm
cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX ở châu Á, hay mới đây nhất là cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2008 bắt nguồn từ Mĩ và lan rộng ra khắp thế giới đã kéo chỉ số
VN-INDEX xuống mức thấp kỉ lục, nhà đầu tư ào ạt rút vốn khỏi thị trường, tính
thanh khoản giảm mạnh, rất nhiều công ty chứng khoán làm ăn thua lỗ.
2.2 Rủi ro không hệ thống
2.2.1 Rủi ro từ tính thanh khoản thấp của chứng khoán đầu tư
Tính thanh khoản thấp mà chủ thể kinh doanh chứng khoán đang sở hữu có thể do
chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được hoặc không được phép bán
hay chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư. Hàng hóa thông thường không thể
bán được phần nhiều do: chất lượng và tiện ích của hàng hóa không đáp ứng nhu
cầu; không phù hợp với “gu” của người mua; cung vượt quá cầu; có hàng hóa khác
thay thế tương đương, thậm chí có sức hấp dẫn hơn.
2.2.2 Rủi ro từ thông tin chứng khoán và thị trường
Ra đời cách đây trên 200 năm, bất chấp những thăng trầm của các ngành, nghề, sản
phẩm kinh doanh khác, kinh doanh chứng khoán ngày càng trở thành một bộ phận
4
Nói một cách tổng quát, lựa chọn đối nghịch là những quyết định sai lầm của một
bên tham gia giao dịch mà nguyên nhân là do cac rủi ro về thông tin. Ví dụ, công ty
chứng khoán A mua cổ phiếu X trong lĩnh vực bất động sản từ nhà đầu tư B, B biết
rõ khả năng kinh doanh sinh lời của công ty X nhưng A thì không. Kết quả là B sẵn
sàng bán ở mức giá có lợi và không bao giờ bán ở mức giá bất lợi cho anh ta. Và
khi A mua cổ phiếu X từ B với mức giá bất lợi cho mình, B đã thực hiện một lực
chọn đối nghịch do thiếu thông tin.
2.2.4 Rủi ro từ đạo đức
Rủi ro đạo đức cũng là một hậu quả của thông tin không cân xứng trên thị trường.
Khác với lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức xuất hiện sau cuộc giao dịch khi một
5
bên thực hiện những hành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của phía đối
tác. Có nhiều cách định nghĩa về rủi ro đạo đức:
_ Rủi ro đạo đức là tình trạng một bên tham gia thị trường không thể giám sát hoạt
động của phía bên kia. Vì lý do này, rủi ro đạo đức còn được gọi là vấn đề hành
động ẩn giấu (hidden action).
_ Rủi ro đạo đức là một cách gọi khác của hành động ẩn giấu theo đó người được
thông tin có thể thực hiện những hành động “sai trái”.
_ Rủi ro đạo đức phát sinh khi những người sở hữu thông tin riêng thực hiện những
hành động có ảnh hưởng đối lập đến xác suất đưa đến những hậu quả xấu.
Qua những khái niệm trên có thể thấy rủi ro đạo đức có những đặc điểm chính sau
đây:
_ Thứ nhất, có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu (hidden action).
_ Thứ hai, bên có hành động ẩn giấu, dù vô tình hay cố ý, sẽ làm tăng xác suất xảy
ra hậu quả xấu.
Ví dụ: Những người lãnh đạo công ty có thể hành động vì lợi ích cá nhân mà đi
ngược lại lợi ích của các cổ đông. Các hành động này bao gồm việc tăng chi phí
phục vụ cho lợi ích của người quản lí công ty như trang bị đồ dùng văn phòng tốt,
khai và nô nức đấu giá mua cổ phiếu của cả những công ty trên thực tế đã bị phá
sản vì trình trạng tài chính âm, không thể trả nợ, hoặc của những công ty, quỹ đầu
tư thậm chí mới có quyết định thành lập, chưa hề triển khai hoạt động trên thực
tế…
_Lựa chọn không đúng cơ cấu chứng khoán đầu tư. Nhà đầu tư chứng khoán có thể
chịu rủi ro từ việc “bỏ hết trứng vào một giỏ”. Việc sở hữu thuần túy các cổ phiếu
ưu đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định (thường từ 3-5
năm) cũng có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro liên quan đến tính thanh khoản thấp
của các chứng khoán này, nhất là khi họ cần tiền để trả lãi vay ngân hàng hoặc
muốn rút vốn về để đầu tư vào nơi khác có lãi hơn, an toàn hơn…
_Sự cạnh tranh khốc liệt và biến động khôn lường của thị trường. Ngay cả những
chứng khoán tốt nhất có sức hấp dẫn nhất, “hot” nhất thuộc dạng “blue-chip” cũng
có thể không giữ vững được vị thế của mình một cách ổn định, lâu dài trước sự
cạnh tranh và biến động tới chóng mặt của thị trường trong xu thế toàn cầu hóa.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư chứng khoán có thể phải hứng
chịu cả hai dạng thiệt hại “khấu hao hữu hình” và “khấu hao vô hình” giá trị và tính
thanh khoản của các chứng khoán mà họ nắm giữ.
3.3 Vấn đề thông tin không cân xứng
Trong các giao dịch tài chính luôn xuất hiện một mâu thuẫn cơ bản và cố
hữu, một mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại của các điều kiện cho vay trong các tổ
chức tài chính, đó là sự không cân xứng về thông tin giữa người cho vay và người
đi vay. Người cho vay đóng vai trò cung cấp vốn trong giao dịch tài chính và
thường không có sự khác biệt lớn về đồng vốn giữa những người cho vay (sự khác
biệt chủ yếu nằm ở thời hạn cho vay và các ràng buộc liên quan). Nói cách khác,
những thông tin về phía đối tác của mình mà người đi vay có được là tương đối
đồng nhất. Người đi vay có thể huy động từ một trong những người cung cấp vốn
mà không cần quan tâm nhiều đến bên cho vay vì chỉ cần vay được vốn là họ đã đạt
được gần như hoàn toàn mục đích của một giao dịch tài chính.
Mọi chuyện hoàn toàn khác đối với người cho vay. Họ có quyền lựa chọn
một trong số những người hỏi vay, lúc này họ có cả quyền sử dụng và định đoạt đối
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh chứng
khoán tại Việt Nam thì phải thành lập công ti chứng khoán dưới hình thức công ti
trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần và phải được UBCKNN cấp giấy phép
thành lập và hoạt động.
Pháp luật Việt Nam có quy định cụ thể điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt
động cho công ty chứng khoán như sau (Điều 62 Luật chứng khoán):
_Thứ nhất, có trụ sở, có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng
khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng
khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang thiết bị (Khoản 1 Điều 3 Quy chế
tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định của
Bộ trưởng Bộ tài chính số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007).
_Thứ hai, có vốn điều lệ thực góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định
của Chính phủ (Điều 18 Nghị định của Chính phủ số 14/2007/NĐ-CP ngày
8
19/01/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán có quy
định mức vốn pháp định cụ thể như sau: Môi giới chứng khoán: 25 tỉ VNĐ; Tự
doanh chứng khoán: 100 tỉ VNĐ; Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỉ VNĐ;
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỉ VNĐ). Như vậy, mức vốn pháp định được xác
định cho từng nghiệp vụ kinh doanh. Trong trường hợp công ti xin cấp giấy phép
cho nhiều loại nghiệp vụ kinh doanh thì vốn pháp định là tổng số vốn pháp định
theo từng loại nghiệp vụ kinh doanh mà công ty được cấp phép.
_Thứ ba, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán và có tối thiểu ba
người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh.
Ngoài ra, Luật chứng khoán còn quy định cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng
lạp là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp
đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị tòa án cấm hành nghề kinh doanh;
trường hợp là pháp nhân phải đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính
chứng khoán năm 2006 và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 63/2007/QĐTTg ngày 10 tháng 5 năm 2007 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của UBCKNN thuộc Bộ tài chính. Và một trong những nhiệm vụ
của UBCKNN là thanh tra, kiểm tra và giám sát các đối tượng tham gia hoạt động
trên thị trường chứng khoán và xử lí các vi phạm về chứng khoán và thị trường
chứng khoán theo quy định của pháp luật. Hoạt động thanh tra chứng khoán được
xem là một trong những nội dung quản lí nhà nước quan trọng nhất về chứng khoán
và thị trường chứng khoán. Đối tượng thanh tra, giám sát bao gồm: công ty chứng
khoán, công ty quản lí quỹ đầu tư chứng khoán,...Phạm vi thanh tra, giám sát bao
gồm: hoạt động phát hành chứng khoán, hoạt động niêm yết chứng khoán, hoạt
động giao dịch chứng khoán, hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ chứng khoán;
hoạt động công bố thông tin. Đây là hoạt động quan trọng nhằm kịp thời phát hiện
những sai phạm trên thị trường chứng khoán nói chung và hoạt động kinh doanh
chứng khoán nói riêng, góp phần đảm bảo sự ổn định của thị trường, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của chủ thể hoạt động kinh doanh chứng khoán.
4.3 Các quy định về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán
4.3.1 Xử lí hành chính
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định 36/2007/NĐ-CP về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định
hai hình thức xử phạt vi phạm hành chính mà tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu là
phạt cảnh cáo và phạt tiền.
- Phạt tiền: Cơ sở để tính mức phạt là khoản thu phi pháp, khoản huy động bất
hợp pháp. Mức phạt cụ thể đối với mỗi hành vi thường được tính là mức trung bình
của khung hình phạt tiền tương ứng với hành vi đó, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì
mức tiền phạt có thể thấp hơn nhưng không được giảm thấp hơn mức tối thiểu của
khung hình phạt, nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt tiền có thể tăng cao hơn
nhưng không quá mức tối đa của khung hình phạt.
- Cảnh cáo là hình phạt chủ yếu với những hành vi vi phạm lần đầu, nhỏ, ít
nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và gây thiệt hại không lớn cho các chủ
thể khác.
Ngoài hình phạt chính thì tùy tính chất, mức độ vi phạm các chủ thể có hành vi
TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
5.1 Sửa đổi bổ sung một số quy định của pháp luật
5.1.1 Về mức tiền phạt đối với mỗi hành vi cụ thể
Pháp luật chứng khoán đã quy định việc xử phạt hành chính đối với hành vi vi
phạm cụ thể trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Cùng với viện
đề xuất nâng mức tiền phạt tối đa, yêu cầu đặt ra cũng cần phải nâng mức tiền phạt
đối với mỗi hành vi vi phạm. Điều này xuất phát từ những lí do sau đây:
_Các chế tài và mức xử phạt như hiện nay là chưa đủ mạnh để răn đe và xử lí các vi
phạm.
_Hoạt động trên thị trường chứng khoán chứng kiến nhiều hành vi vi phạm ngày
càng tinh vi và phức tạp, tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng cao.
_Yêu cầu tăng cường quản lí nhà nước đối với thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, việc tăng mức xử phạt cũng cần tính đến khả năng chi trả và đảm bảo
hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư, do đó đòi hỏi các nhà
quản lí và các nhà soạn thảo luật cần cân nhắc, tính toán chính xác.
Thực tế diễn biến của thị trường chứng khoán trong thời giân qua cần đặc biệt lưu ý
tăng mức tiền phạt đối với 3 nhóm hành vi vi phạm. Đó là:
_Các hành vi vi phạm về hồ sơ, điều kiện và thực hiện chào bán chứng khoán ra
công chúng.
_Các vi phạm quy định về chế độ báo cáo.
11
_Các hành vi vi phạm quy định về giao dịch chứng khoán: hành vi gian lận trong
giao dịch, thao túng giá chứng khoán và sử dụng thông tin nội bộ để mua bán
chứng khoán.
5.1.2Hoàn thiện một số quy định về xử lí vi phạm vốn còn nhiều bất cập, thiếu
sót.
Liên quan đến phát hành chứng khoán: Nghiên cứu các quy định về chào bán
phải quy định rõ xử phạt với hành vi vi phạm liên quan đến báo cáo kiểm toán. Các
vi phạm của tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên cần được xử lí nghiêm minh với
các hình thức xử phạt thích đáng.
5.2 Các giải pháp khác
12
5.2.1Tăng cướng công tác thanh tra, giám sát
Thanh tra, giám sát hoạt động thị trường là một trong những công cụ quản lý hiệu
quả mà các nhà quản lý dù ở bất kỳ thị trường chứng khoán nào cũng đều quan
tâm, chú trọng. Mục tiêu chính của công tác thanh tra, giám sát hoạt động chứng
khoán và thị trường chứng khoán không phải chỉ là để phát hiện, xử lí những người
vi phạm pháp luật chứng khoán, mà quan trọng là nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các
hành vi này, đảm bảo thị trường hoạt động bình ổn, có hiệu quả. Vì vậy, trong thời
gian tới cần chú trọng phát triển đội ngũ làm công tác thanh tra, giám sát; nâng cao
thẩm quyền, tạo vị trí, vai trò “độc lập” của thanh tra trong việc thực hiện nhiêm
vụ. Đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành có liên quan trong
việc xử lí vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
5.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Chứng khoán nhà nước
Thực tế hiện nay, thẩm quyền của cơ quan quản lí nhà nước về chứng khoán và thị
trường chứng khoán ở Việt Nam là khá hạn chế. Để đảm bảo khả năng điều tra, xử
lí các hành vi giao dịch nội gián và thao túng trên thị trường, tác giả cho rằng cần
mở rộng thẩm quyền cho Ủy ban Chứng khoán nhà nước, theo đó Ủy ban phải có
quyền chất vấn những người mà xét thấy có thông tin liên quan về các trường hợp
bị nghi ngờ có hành vi lạm dụng thị trường. Hơn nữa, Ủy ban chứng khoán phải có
quyền tìm kiếm bằng chứng và nắm giữ tài liệu cần thiết cho việc điều tra về các
trường hợp lạm dụng thị trường. Pháp luật cũng cần phải mở rộng thời hạn thanh
tra, kiểm tra để cơ quan này có thể thực thi được nhiệm vụ, đặc biệt trong trường
hợp các vụ việc phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng đòi hỏi phải tiến hành
thanh tra, kiểm tra sâu rộng mới xác định được hành vi vi phạm.
Việc làm này không chỉ có ý nghĩa trong việc hạn chế tác động tiêu cực của thông
tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức mà còn giúp tăng cường
tính chuyên nghiệp và hiệu quả cho thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường
tài chính nói chung.
14
KẾT LUẬN
Từ các phân tích trên đây, ta có thể nhận thấy thị trường chứng khoán là thị trường
tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các rủi ro này có thể là rủi ro hệ thống như rủi ro chính sách,
các chấn động của thị trường trong nước và thế giới; cũng có thể là các rủi ro
không mang tính hệ thống như rủi ro về thông tin, rủi ro về lựa chọn đối nghich, rủi
ro về đạo đức. Nguyên nhân của các rủi ro trên rất đa dạng như bản chất của thị
trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, trình độ của chủ thể hoạt động kinh
doanh chứng khoán,... Nước ta là một nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu về vốn
để phát triển kinh tế là rất lớn. Chính vì lí do đó, việc hạn chế các rủi ro trên thị
trường, thúc đẩy hoạt động kinh doanh chứng khoán phát triển, đẩy mạnh tính
thanh khoản là vô cùng cần thiết để các nhà đầu tư yên tâm khi đầu tư vào thị
trường chứng khoán, qua đó tăng hiệu quả huy động vốn. Đảm bảo sự phát triển
của nền kinh tế.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình luật chứng khoán, Nxb CAND, Hà
Nội, 2008.
2, Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp : Khoá luận tốt