Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ logistic ở ViệtNam - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Dịch vụ logistics là dịch vụ xuất phát từ dịch vụ giao nhận hàng hóa , hay nói cách khác
dịch vụ logististics là bước phát triển cao của dịch vụ giao nhận hàng hóa. Dịch vụ này
được bắt đầu ghi nhận tại Luật thương mại năm 1997 và được ghi nhận chính thức, hoàn
thiện tại Luật thương mại 2005. Dịch vụ logistics đã ngàycàng phát triển trong nền kinh
tế thị trường và đem lại cho các thương nhân kinh doanh dịch vụ này những khoản lợi
không hề nhỏ bởi đây là một loại ngành nghề còn mới đối với các thương nhân Việt
Nam.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện ngày càng nhiều các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistic. Nhưng các doanh nghiệp lại chưa có cái nhìn
tổng quát về dịch vụ logistics. Nên muốn có được cái nhìn rõ hơn về dịch vụ logistic tại
Việt nam cũng như các vấn đề pháp lý liên quan đến kinh doanh loại hình dịch vụ này em
xin chọn đề tài: “Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ logistic ở Việt
Nam” để làm đề tài viết bài tập cuối kỳ.
Bài viết của em rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý của các thầy cô. Em xin
trân thành cảm ơn!


NỘI DUNG
I) KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ LOGISTIC.
1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ logistic
1.1 Khái niệm
Thuật ngữ logistics vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau và chưa thống nhất về
thuật ngữ này. Có nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau được xây dựng tương
ứng với mỗi ngành nghề và mục đích nghiên cứu nhưng tựu chung chia làm hai loại sau:
Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa logistics trong các lĩn vực chuyên
ngành. Theo trường phái này logistics là yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm
từ nơi sản xuất tới nơi tiê thụ, dịch vụ logistics mang yếu tố vận tải là chính. Đồng nghĩa
dịch vụ logistics với việc vận chuyển hàng hóa.
Nhóm định nghĩa rộng, theo nhóm này thì dịch vụ logistics gắn liền với cả quá
trình nhập nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất,sản xuất ra hàng hóa và đưa

qui định; nhận hàng hóa được vận chuyển đến.
+) Tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc thực hiện việc giao hàng
hóa được vận chuyển đến người có quyền nhận hàng.
- Dich vụ logistic là một loại hình hoạt động dịch vụ. Thương nhân kinh doanh dịch vụ
giao nhận hàng hóa được khách hang trả tiền công và các chi phí hợp lý từ việc cung ứng
dịch vụ. Trong kinh doanh Logistic thì ui tín luôn được khách hàng quan tâm hàng đầu.
- Đây là một loại dịch vụ mang tính liên hoàn, chuỗi ác dịch vụ gắn kết tương đối chặt
chẽ với nhau. Đặc điểm này cũng đã được đề cập đến trong phần phân tích định nghĩa ở
phần trên.
2. Vai trò của dich vụ logistic
Cần phải thấy rằng trong xu thế phát triển của nền kinh tế nước ta thì dich vụ
logistic ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong thương mại trong nước và nước
ngoài. Cụ thể:
3


a) Logistic đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết các bài toán đầu vào và đầu ra của
các doanh nghiệp.
Logistic có thế thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu
chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa dịch vụ…các chi phí thừa trong quá trình quản lí được
giảm thiểu vì “chuỗi dịch vụ logistic” đã được cung ứng trọn gói, chi phí sản xuất giảm,
giá thành hạ và tất nhiên sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
b) Dịch vụ logistic có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân
phối.
Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là chi phí vận tải chiếm một tỉ lệ không nhỏ
và là bộ phận cấu thành giá cả trên thị trường. Vân tải là yếu tố quan trọng trong lưu
thông. Vân tại đóng vai trò quan trọng nhất trong hệ thống logistic cho nên dịc vụ logistic
ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho chi phi vận tải và các chi phí khác phát
sinh trong quá trình lưu thông
c) Dịch vụ Logistic góp phần tăng giá trị kinh doanh của doanh nghiệp vận tải giao nhận

danh (khoản 3, 4)
Điều 14 qui định về hợp đồng đăng kí trước khi kinh doanh
Điều 15 quy định trình tự đăng kí kinh doanh.
Mỗi một loại hình doanh nghiệp khác nhau có qui định khác nhau điều chỉnh. Nếu
thương nhân chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân sẽ nộp hồ sơ gồm những nội dung theo
quy định tại điều 17 LDN 2005 mô hình công ty trách nhiêm hữu hạn tuân theo qui định
tại Điều 18 LDN 2005, công ty cổ phần nộp hồ sơ đăng kí kinh doanh theo Điều 19 LDN
2005.
Nếu thương nhân là nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam sẽ
nộp hồ sơ, tuân theo trình tự thủ tục, điều kiện và nội dung đăng kí kinh doanh quy định
tại Điều 20 LDN 2005.

5


Những quy định cụ thể khác về nội dung giấy tờ đề nghị đăng kí kinh doanh Điều
21 LDN 2005), nội dung và điều lệ công ty ( Điều 22 LDN 2005), điều kiện cấp Gấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh (Điều 24 LDn 2005), cung cấp thông tin về nội dung
đăng kí kinh doanh ( Điều 27 LDN 2005), chuyển quyền sở hữu tài sản (Điều 29 LDN
2005), ngoài ra còn nhiều các qui định khác.
b) Những qui định đặc thù
Ngoài những điều kiện kiện kể trên thì, thương nhân kinh doanh dich vụ logistic
còn phải tuân theo các qui định đặc thù cho ngành nghề kinh doanh này khi đăng kí kinh
doanh.
+) Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh
doanh dịch vụ logistic theo qui định của pháp luật
+) Chỉnh Phủ qui định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic
Từ những điều kiện chung đó, Nghị định số 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi
tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic và giới hạn trách nhiệm
với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic đã hướng dẫn cụ thể.

Theo khái niệm qui định tại Điều 233 LTM 2005, dich vụ logistic là hoạt động
thương mại. Vì vậy, hợp đồng dich vụ logistic cũng sẽ tuân theo các quy định chung về
hợp đồng dịch vụ được qui định tại Chương III “cung ứng dịch vụ” của LTM 2005.
Điều 74 LTM 2005 “Hình thức hợp đồng dich vụ” qui định: “ Hợp đồng dịch vụ
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể” và “ Đối với
các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải
tuân theo các qui định đó”. Như vậy, hợp đồng dich vụ logistic không bắt buộc phải được
kí kết dưới hình thúc văn bản. Hình thúc của hợp đồng phụ thuộc vào thỏa thuận cảu các
bên và nhưng qui định cụ thể.
Cũng trên cơ sở nhưng qui định của Luật Thương mại 2005, thì hợp đồng cung
ứng dịch vụ logistic còn phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:

7


+) Nguyên tắc tự do thỏa thuận: Tự do thỏa thuẩn ở đây là tự do thỏa thuận về
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Các bên có quyền thảo thuận về rất nhiều
nội dung của hợp đồng như trách nhiệm đối với hàng hóa, thời hạn, giá cả thực hiện hợp
đồng… Các bên cũng được quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức, luật và nơi giải quyết
tranh chấp.
+) Áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế: LTM 2005 qui
định rõ nếu các bên tham gia hợp đồng dịch vụ có yếu tố nước ngoài thì được thỏa thuận
áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế không trái với nguyên tắc cơ
bản của pháp luật Việt Nam (Điều 5).
2.2)Nội dung và các loại hợp đồng dich vụ logistic
a) Nội dung hợp của đồng dich vụ logistic
Nội dung của hợp đồng dịch vụ logistic chính là nguyên nhân lí giải vì sao trong thương
mại không có một hợp đồng chung là hợp đồng dịch vụ logistic.
+) Luật thương mại không có điều khoản nào qui định thế nào là hợp đồng dịch vụ
logistic, dịch vụ logistic gồm những nội dung gì. Sở dĩ như vậy là do hợp đồng dịch vụ

không thực hiện một hoạt động riêng lẻ. Họ phải đăng kí kinh doanh dịch vụ này trước,
rồi mới theo nhu cầu của khách hàng kinh doanh một hoặc nhiều dịch vụ trong chuỗi dich
vụ. Kinh doanh dịch vụ logistic thì không yêu cầu thương nhân phải thực hiện tất cả các
khâu của quá trình này. Điều này khác hẳn với một doanh nghiệp không đăng kí kinh
doanh dich vụ logistic tiến hành một trong các công việc đơn lẻ như: lưu kho, vận
chuyển…Vì trên thực tế tư cách của các doanh nghiệp này vẫn là kinh doanh các dịch vụ
thông thường, đơn lẻ. Bởi vậy khi chúng ta thấy các công việc của dịch vụ logistic và các
dịch vụ thông thương không khác nhau nhưng xét về bản chất thì lại khác nhau vì tư cách
thương nhân là khác nhau. Và vì thế không phải cứ thương nhân thực hiện một trong các
hoạt động của dịch vụ logistic thì đều phải đăng kí kinh doanh dịch vụ logistic.

9


Câu trả lời là không có gì mâu thuẫn hoặc không hợp lí trong các qui định tại Điều
233 LTM với các đặc trưng của dịch vụ logistic.
b) Các loại hợp đồng dịch vụ logistic và các qui định của pháp luật có liên quan.
- Hợp đồng chọn gói thực hiện các dịch vụ logistic (trên cơ sở một hợp đồng)
- Hợp đồng thực hiện theo đơn đặt hàng một số dich vụ trong chuỗi dịch vụ logistic
theo kiểu logistic chuyền thống, tức là thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp
đồng giao nhận vận tải và các vấn đề khác liên quan đến vận chuyển đa phương quốc tế.
Hợp đồng logistic được thực hiện dự trên thỏa thuận giữa các bên về thực hiện các
dịch vụ có thể là trọn gói hoặc một số loại dịch vụ riêng lẻ. Ở loại hợp đồng trọng gói chủ
hàng yêu cầu công tuy thực hiện các dịch vụ: vận tải, giao hàng, lưu kho và gửi hàng, bốc
xếp… Ở loại hợp đồng thực hiện một số dịch vụ logistic, chủ hàng thường xuyên yêu cầu
về vận chuyển và giao nhận hàng.
Đối với hợp đồng từng chặng một số chặng có các loại hợp đồng như hợp đồng
vận tải đơn thức, hợp đồng vận tải đa phương thức, hợp đồng giao nhận hàng hóa và các
loại khác.
- Các loại hợp đồng này được điều trỉnh bởi các qui định ở Luật quốc gia và các văn bản

các điều kiện của hợp đồng dịch vụ logistic đã kí kết với khách hàng hoặc những hướng
dẫn trái pháp luật. Nếu việc thực hiện đúng với các chỉ dẫn của khách hàng có nguy cơ
gây thiệt hại hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì người làm dịch vụ phải kịp
thời thông báo cho khách hàng để xin chỉ dẫn. Trong trường hợp cấp bách thì người làm
dịch vụ có thể tự mình quyết định thực hiện công việc sau đó phải thông báo ngay cho
khách hàng biết. Trong trường hợp không thông báo kịp thì người thực hiện dịch vụ phải
chụi trách nhiệm tài sản phát sinh do không thực hiên đúng chỉ dẫn của khách hàng.
(Điểm b,c Khoản 1, Điều 235 LTM 2005)
b) Quyền được hưởng thù lao và chi phí về việc thực hiện dịch vụ
+) Theo điển a, Khoản 1, Điều 235 LTM 2005, mức thù lao dịch vụ do các bên
thỏa thuận và ghi trong hợp đồng. Mức thù lao này có thể được xác định theo số tiền
11


tuyệt đối hoặc tỉ lệ trên giá trị hàng hóa. Mức thù lao do có bên thỏa thuận và phụ thuộc
vào nội dung, mức độ phức tạp của công việc giao nhận hàng hóa mà khách hàng ủy thác
cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa thực hiện.
Ngoài tiền thù lao, người làm dịch vụ logistic có thể yêu cầu khách hàng thanh
toán các khoản chi phí liên quan đến việc thực hiện dịch vụ nếu điều này được các bên
thỏa thuận trong hợp đồng.
+ Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán thù lao và các khoản chi phí hợp lí khác, người
làm dịch vụ logistic có quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa.
Theo qui đinh tại Điều 239 LTM 2005 thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa
có quyền cầm giữ số hàng hóa nhất định và các chứng từ liên quan đến hàng hóa để đòi
tiền nợ đã đến hạn của khách hàng. Tuy nhiên quyền cầm giữ chi phí phát sinh khi có
những điều kiện sau:
Thứ nhất: Khách hàng không thanh toán nợ dã đến hạn cho người làm dich vụ.
Thứ hai: Người làm dịch vụ chỉ được cầm cố giữ số lượng hàng hóa có giá trị
tương đương với giá trị nợ mà khách hàng chưa thanh toán nợ.
Thứ ba : Người làm dịc vụ phải thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng về

Như vậy, pháp luật đã qui định khung cơ bản nhất cho các bên khi tham gia vào quan hệ
thương mại. Sự thỏa thuận hợp pháp vẫn luôn được tôn trọng, tuy nhiên nếu nó không
được hình thành thì sẽ áp dụng các điều khoản này để đảm bảo sự công bằng về quyền và
nghĩa vụ.
4) Trách nhiệm và các trường hợp miễn trách nhiệm của người làm dịch vụ logictics.
Trách nhiệm này có thể là thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng, bồi thường thiệt hại
phát sinh từ sự vi phạm nghĩa vụ hoặc phạt hợp đồng.
Thứ nhất giới hạn trách nhiệm, Điều 238 Luật thương mại quy định: trừ khi các
bên có thỏa thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa”. Đây được coi là
một ngoại lệ trong chế tài bồi thường thiệt hại của Luật thương mại nói chung khi điều
13


302 quy định: giá trị bồi thường thiệt hại là tổn hại thực tế trực tiếp xảy ra, khoản lợi trực
tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Tuy nhiên họ
sẽ không được giới hạn trách nhiệm trong trường hợp người bị vi phạm chứng minh được
thiệt hại là do hành vi cố ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Nghị định
140/2007/NĐ- CP có quy định cụ thể giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh
logistics tại Điều 8.
Thứ hai là các trường hợp miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng nói
chung tại Diều 294 bà đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nói riêng tại
Điều 237.
+)Điều 294 quy định các trường hợp:
Xảy ra trương hợp miễn trách nhiệm do 2 bên thỏa thuận.
Xảy ra sự kiện bất khả kháng
Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
Hành vi vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà các
bên không thể biết khi giao kết hợp đồng.
+)Điều 237 Luật thương mại quy định miễn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh

dịch vụ tổng hợp, quá trình hoạt động liên qua đến sự quả lí của nhiều Bộ, ban, ngành
như: Giao thông vận tải, Hải quan, Đo lường… Việc mỗi cơ quan này ban hành nhưng
qui định riêng điều chỉnh các hoạt động thuộc lĩnh vự mình quản lí là hoàn toàn rễ hiểu.
Nhưng nếu có quá nhiều văn bản cùng điều chỉnh một hoạt động kinh doanh sẽ tạo nên
sự chồng chéo, khó nắm bắt và khó áp dụng trong thực tế. Dịch vụ logistic là một loại
hình dịch vụ mới, sự chồng chéo này sẽ gây cản trở không nhỏ cho thương nhân khi họ
chưa có kinh nghiệm và lúng túng sẽ phải tuân theo qui định nào.
1.2. Nhưng qui định mâu thuần trong kinh daonh dich vụ logistic là thực tiễn còn
tồn tại. Ví dụ rõ ràng nhất là việc xem xét dịch vụ Bưu chính có được coi là dịch vụ
logisic liên quan hay không ? Theo Khoản 3, Điều 4 Nghị đinh số 140/2007/NĐ-CP qui

15


đinh “dịch vụ bưu chính” được coi là “dịch vụ logistic liên quan”. Tuy nhiên Nghị đinh
số 128/2007/NĐ-CP ngày 2/8/2007 về dịch vụ chuyển phát lại qui định: Không điều
chỉnh hoạt động kinh doanh và sử dung “… dịch vụ logistic; Dịch vụ vận tải đa phương
thức quốc tê; dịch vụ giao nhận bằng phương thức vận tải đường hàng không, đường
biển, đường thủy nội địa, đường sắt, đường bộ” ( Điều 1). Vậy nhưng thương nhân kinh
doanh dịch vụ bưu chính sẽ phải tuân theo qui định nào ? Đây là một vấn đề đang có
nhiều quan điểm khác nhau và chưa thống nhất.
1.3. Dịch vụ logistic là loại hình dịch vụ có nội hàm rất rộng chỉ với 8 Điều trong
LTM 2005, một Nghị định hướng đãn trực tiếp và một số văn bản nằm giải rác thì có đủ
để điều chỉnh toàn bộ lĩnh vự kinh doanh này hay không ?. Đây còn là vấn đề mà pháp
luật còn để “hở”, nghĩa là hiện chưa có qui phạm pháp luật nào điều chỉnh.
Từ thực trạng trên, mục đích đặt ra là phải làm thế nào để hoàn thiện các qui định
pháp luật về dịc vụ logistic, khắc phục kịp thời những điểm còn thiếu sót nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước, phát triển ngành dich vụ còn mới
và từ đó tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
2. Cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistic

3.2. Thúc đẩy hơn nữa sự liên kết các doanh nghiệp giao nhận kho với nhau để có những
doanh nghiệp có đủ qui mô, đủ điều kiện cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng loại trong
khu vực và trên thế giới.
Muốn kinh tế hội nhập, muốn tạo một khu vực tự do dịch vụ thì bản thân các
doanh nghiệp Việt Nam phải có đủ năng lực để cung ứng dịch vụ trong nước trước khi
doanh nghiệp nước ngoài dành mất thị phần của họ. Chính phủ cần khuyến khích các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistic liên kết lại tập hợp vào hiệp hội chung mà cụ
thể là Hiệp hội giao nhận Kho vận Việt Nam (VIFAS) để cùng hỗ trợ phát triển giống
như khi thành lập các hiệp hội như hiệp hội Da - Giầy Việt Nam, Hiệp hội Cà phê Việt
Nam… có được như vậy vị thế của các doanh nghiệp nước ta sẽ được nâng cao và sức
cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài cũng được tăng lên.
17


3.3 Ban hành các biện pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài.
Trong đó đặc biệt chú trọng đến việc chọn lọc vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào các
vùng trọng điểm, khơi luồng vận chuyển trong và ngoài nước. Điều này có vai trò rất
quan trọng trong việc thúc đẩy mạnh công nghiệp hóa logistic. Đồng thời, cũng nên tạo
cơ chế thông thoáng cho các nhà đầu tư có uy tín và năng lực trong lĩnh vực này. Kinh
nghiệp từ Trung Quốc cho thấy các chính sách khuyến khích là nên có và vô cùng quan
trọng cà cần thiết. Tận dụng thế mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài để phát triển những
mặt còn yếu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
3.4 Nhà nước cần có những chính sách để đầu tư vào cơ sở hạng tầng phục vụ cho các
doanh nghiệp kinh doanh dich vụ logistic.
Cơ sở hạng tầng là yêu cầu quan trọng của hoạt động logistic. Ở Việt Nam cơ sở
vật chất còn khá yếu kém. Điều này cần có sự đòi hỏi phải có sự cải cách nhanh chóng và
toàn diện nguồn tài nguyên cho ngành từ cảng, sân bay, càng thông qua nội địa, đường
bộ, đường sắt… Tất cả tài nguyên cần được sắp xếp hợp lí trong một bản đồ qui hoạch
liên hoàn. Đặc biệt cần nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông khuyến khích vận tải
container phát triển.


20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status