A.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng để
phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; khi
thu hồi đất, Nhà nước sẽ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho
người có đất bị thu hồi để giải phóng mặt bằng. Mục đích của việc bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư là nhằm bù đắp những tổn thất mà NSDĐ phải gánh chịu, giải quyết
các vấn đề về kinh tế- xã hội mà hậu quả của thu hồi đất gầy ra để qua đó nhằm ổn
định xã hội, chính trị , giải quyết hài hòa lợi ích hợp pháp giữa NSDĐ, Nhà nước
và nhà đầu tư trong việc sử dụng đất vì lợi ích chung. Tuy pháp luật đã quy định rõ
ràng về vấn đề này nhưng vẫn có rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc
xây dựng và thi hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
đặc biệt là trong thời gian gần đây. Chính vì thế em xin chọn đề tài “ Phân tích
các yếu tố tác động đến việc xây dựng và thi hành pháp luật về bồi thường , hỗ
trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở nước ta”
B.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.
Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật hiện hành tuy đã đưa ra các quy định về bồi thường , hỗ trợ, tái định cư
khí Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên khái niệm thế nào là bồi thường, hỗ trợ , tái
định cư thì lại chưa được nêu rõ. Chính vì vậy ta có thể hiểu đơn giản các khái
niệm trên như sau:
Bồi thường: là việc nhà nước trả lại giá trị đối với diện tích đất bị thu hồi cho
NSDĐ
Hỗ trợ: Là việc nhà nước giúp đỡ tạo điều kiện cho người có đất bị thu hồi ổn định
sản xuất, hỗ trợ về chuyển đổi nghề nghiệp, di chuyển chổ ở , tạo việc làm để ổn
định đời sống, vượt qua khó khăn trước mắt.
Tái định cư: Là việc nhà nước bố trí chổ ở mới , ổn định cho những người sử dụng
đất bị thu hồi đất mà phải di chuyển đến chổ ở mới.
II.
nhận đền bù phần nào cảm thấy thỏa đáng hơn khi Nhà nước thu hồi
Hai là, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao đã tạo điều kiện cho người bị thu hồi
đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất.
Ba là, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư (Điều 28, 29 NĐ
69/CP) cũng đã được đơn giản hóa nhằm giải quyết những khúc mắc trong công
tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; giúp cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả.
Bốn là, tại nhiều địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật Đất đai
năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành cũng đã đưa ra các văn bản pháp quy
áp dụng cho địa phương mình trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm
đạt được hiệu quả cao trong việc thực hiện các dự án của Nhà nước cũng như của
các thành phần kinh tế
Năm là, nhận thức về vai trò, ý nghĩa cũng như tính phức tạp của việc thu hồi đất,
tái định cư của các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý đã được nâng lên, trong
đó về phía Chính phủ đã tạo nhiều điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư; còn đội ngũ cán bộ đảm trách công tác bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư của các cấp, các ngành, các tổ chức về khả năng và kinh nghiệm
thực tiễn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng ngày càng được khẳng định
hơn. Điều đó đã góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như
2
đối với dự án, nhất là xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ
cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế,
ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi.
Sáu là ý thức tự giác của nhân dân ta khá cao trong chấp hành quyết định thu hồi
đất của Nhà nước vào mục đích quốc phòng, an ninh, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật (như đường giao thông, công trình thủy lợi, v.v...), xây dựng cơ sở hạ tầng xã
hội (như trường học, bệnh viện, sân vận động, công viên, chợ, v.v...). Nhiều trường
hợp người bị thu hồi đất chịu thiệt thòi ít nhiều trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
3
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất). Theo đó, việc quy định giá đất để
tính bồi thường cho người bị thu hồi trong một thời gian phải thay đổi liên tục
trong khi các dự án, công trình khi đã có quyết định thu hồi nhưng sau nhiều năm
vẫn không thể thực hiện do các chính sách bồi thường của chính quyền địa phương
cũng luôn phải thay đổi đã gây ra cho người dân tâm lý hoang mang và không trả
đất để chờ được bồi thường theo giá mới cao hơn giá hiện hành, nhất là việc bồi
thường đối với đất nông nghiệp thì người nông dân thường chịu thiệt thòi, còn
người bị thu hồi đất phi nông nghiệp thường được lợi.
Ngoài ra có nhiều quy định về xác định khung giá đất đã bộc lộ sự hạn chế ngay từ
đầu .Ví dụ Theo quy đinh của pháp luật hiện hành UBND tỉnh có thẩm quyền xác
định khung giá đất sử dụng làm căn cứ để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất dựa
trên nguyên tắc, phương pháp và khung giá đất do Chính phủ quy định. Quy định
này rõ ràng là không hợp lý bởi vì UBND cấp tỉnh vừa là cơ quan quản lý nhà
nước về đất đai có thẩm quyền thu hồi đất lại vừa là cơ quan có thẩm quyền xác
định khung giá đất để bồi thường như vậy sẽ dẫn đến tình trạng áp đặt, lạm quyền
trong việc xác định giá đất sao cho nhà nước có lợi nhất như vậy sẽ gây ra sự bất
công cho NSDĐ. Mặt khác việc xác định giá đất là một hoạt động mang tính
chuyên môn, mang tính kỹ thuật nghiệp vụ định giá chuyên nghiệp thực hiện.
Trong khi đó UBND tỉnh lại không phải là cơ quan định giá chuyên nghiệp nên
việc xác định giá đất để bồi thường dễ tiềm ẩn nguy cơ thiếu khách quan, công
bằng.
+ Vấn đề nữa là về cơ chế thu hồi đất: Theo quy định pháp luật hiện hành, hiện nay
có 2 cơ chế thu hồi đất đó là cơ chế hành chính và cơ chế dân sự. Việc song song
áp dụng 2 cơ chế này cũng mang lại rất nhiều lợi ích tuy nhiên cũng làm nảy sinh
một số vấn đề bất cập làm ảnh hưởng đến việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
thu hồi đất. Ví dụ như đối với 2 mảnh đất có cùng một vị trí địa lý cùng một mục
đích sử dụng nếu khi thu hồi mà áp dụng 2 cơ chế khác nhau thì dẫn đến giá bồi
toàn bộ phải tái định cư phải ở nơi khác, thì cũng khó có thể mua được một mảnh
đất như cũ để định cư. Hoặc ngược lại, có người đang sử dụng đất ở vị trí không
thuận lợi nhưng khi có dự án đi qua ngẫu nhiên họ lại được ở vị trí thuận lợi và
như vậy giá trị mảnh đất của họ lại tăng thêm nhiều lần do dự án, công trình đó
mang lại, nhất là tại các huyện giáp ranh trong các đô thị. Từ đó gây ra tâm lý
nhiều người bị thu hồi đất không muốn chuyển đi, hoặc nếu chấp nhận chuyển đi
họ thường đòi bồi thường với giá rất cao trong khi giá bồi thường của Nhà nước
thấp hơn nhiều so với giá thị trường, nên thường là các dự án rất chậm được triển
khai do quá trình thỏa thuận về giá bồi thường, hỗ trợ của các bên. Điều này đã làm
nảy sinh sự suy bì giữa những NSDĐ có đất bị thu hồi và gây ra tình trạng khiếu
kiện, tranh chấp kéo dài làm cho việc thu hồi, giải phóng mặt bằng, bồi thường
chậm triển khai.
Thứ hai là đối với nhà đầu tư , trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất, nhà đầu tư thường phải làm việc với nhiều đối
tác để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ…(khoản 1 Điều 28, Điều 29 NĐ 69/CP)
như: phải làm việc với UBND của cả ba cấp tỉnh, huyện và xã, làm việc với Ban
bồi thường giải phóng mặt bằng, làm việc với những người có đất bị thu hồi, với
5
Tổ chức phát triển quỹ đất nên không ít trường hợp phải chi phí đóng góp thêm
cho địa phương, chi thêm ngoài phương án cho người có đất bị thu hồi...Bên cạnh
đó, việc thu hồi đất để thực hiện những dự án như xây dựng nhà ở sinh thái, nhiều
địa phương cũng không ưu tiên trả bằng đất mà trả bằng tiền làm cho người dân
mất thêm thời gian đi tìm, mua đất để định cư nên cũng gặp nhiều khó khăn. Bên
cạnh đó theo cơ chế thu hồi dân sự có rất nhiều trường hợp Doanh nghiệp, nhà đầu
tư không tự thỏa thuận được với NSDĐ về giá bồi thường do người dân đưa ra đòi
hỏi vô lý yêu cầu giá bồi thường quá cao vượt khả năng tài chính của doanh nghiệp
khiến cho dự án không thể triển khai hoặc doanh nghiệp phải lại nhờ đến các cơ
quan công quyền để thu hồi đất.Điều này đã góp phần tăng tình trạng lạm quyền,
làm ổn định thì dễ dẫn đến các tệ nạn xã hội, gây mất ổn định trật tự xã hội. Đồng
thời sẽ gây tốn kém, lãng phí cho ngân sách nhà nước.
Một vấn đề nữa là những trường hợp phải tái định cư cho người bị thu hồi đất ở đối
với các dự án lớn thì người bị thu hồi đất cũng chưa được giải quyết thỏa đáng do:
điều kiện khu tái định cư đa phần là rất tồi tệ về cả hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng cơ
sở trong khi pháp luật quy định Khu tái định cư phải có điều kiện bằng hoặc tốt
hơn khu đất bị thu hồi.Điều này khiến cho người dân bất bình, phản đối, khiếu kiện
gây nên tình trạng mất trật tự xã hội. Có thể nói nhà nước dường như chỉ giao cho
người bị mất đất một nơi chỉ để ở chứ không quan tâm đến chất lượng cuộc sống
của họ như thế nào, có tốt hơn hay không.
Còn về phía người dân, có nhiều trường hợp cho dù được đền bù giá cao, nhưng
điều họ muốn không phải nhằm hướng tới tiền nong, giá trị mà là cuộc sống ổn
định, là vấn đề tình cảm giữa chính quyền với người dân, rồi giữa những người
thân trong gia đình với nhau cũng như bảo đảm được yếu tố tâm linh đặc biệt là
trong vấn đề thu hồi đất liên quan tới mồ mả…Nhiều người dân có suy nghĩ theo
hướng tâm linh, họ không muốn rời bỏ nơi mà họ, tổ tiên của họ đã bao đời sinh
sống cho nên dù giá bồi thường có cao thì họ vẫn không muốn chuyển đi nơi khác.
Một vấn đề khác nữa là nước chúng ta là nước đang phát triển chính vì thế vấn đề
tài chính là một trong những vấn đề nan giải khi nhắc đến bồi thường , hỗ trợ hay
tái định cư. Chính vì ngân sách còn hạn hẹp nên việc bồi thường, hỗ trợ cho NSDĐ
còn chưa hợp lý và chưa đủ để người dân có thể trang trải cuộc sống của mình sau
khi bị mất đất. Hay nếu có được cấp nhà tái định cư thì chất lượng nhà ở vẫn còn
quá kém, không tốt bằng nơi ở mới chính vì vậy đa số người dân đều không có
muốn bị thu hồi đất.
3.
Giải pháp nhằm nâng cao tính thực thi các quy định của pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ,tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
+ Đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định
cư, tránh tình trạng mỗi địa phương, mỗi dự án, mỗi công trình có mức bồi thường
và hỗ trợ khác nhau, từ đó làm nảy sinh ý tưởng so sánh quyền lợi từ phía người
hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Khống chế một cách nghiêm chỉnh về quy mô
thu hồi đất; xác định tiêu chuẩn bồi thường một cách hợp lý và hoàn thiện hơn nữa
quy trình thu hồi đất.
+ Khắc phục những khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất dẫn đến sự khó
khăn trong việc xác định điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho
người dân bằng cách đưa vào những điều khoản để quy định rõ điều này.
+ Hoàn thiện chính sách về hậu tái định cư, cần có quy định rõ ràng về trách
nhiệm của Nhà nước, các nhà đầu tư, chủ dự án về công tác hậu tái định cư tránh
tình trạng “đem con bỏ chợ”, “nhóm dân cư bị bỏ rơi”; đảm bảo lợi ích thiết thân
của người dân: Nhà ở, đất ở, đất sản xuất, việc làm, học hành, các dịch vụ công
cộng, văn hóa, tâm linh… Có quy định về thành lập ban chuyên trách về hậu tái
định cư. Ban chuyên trách này có trách nhiệm theo dõi, nguyên cứu, lượng hóa,
8
báo cáo về đời sống xã hội của người dân trước và sau tái định cư và chịu trách
nhiệm trước pháp luật.
+ Ban hành những chế tài đủ mạnh để xử lý những trường hợp lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để trục lợi bất chính khi thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư. Cần phải rõ ràng, minh bạch trong việc thực hiện các bước quy hoạch và triển
khai dự án, bàn bạc công khai, thông báo đầy đủ đến người dân về các khâu bồi
thường, giải phóng mặt bằng.
+ Luật nên quy định hình thành những tổ chức trung gian trong việc đánh giá, giám
sát thực thi công tác bồi thường cũng như xác định giá (đất, nhà, tài sản gắn liền
với đất...) để tránh trường hợp làm sai quy trình (đang là hiện tượng khá phổ biến
trong công tác bồi thường), bao biện, vừa đánh trống vừa thổi kèn như hiện nay.
+ Xã hội hóa trong công tác di dời, giải tỏa, bồi thường, tái định cư;không chỉ định
thầu các công trình tái định cư (hoặc quy định các công trình có vốn đầu tư nhỏ
mới chỉ định thầu), các công trình lớn có ảnh hưởng lớn, tác động lớn, nhóm ảnh
hưởng lớn sẽ quy định đấu thầu công khai.
5. http://vietbao.vn/Nha-dat/Co-che-boi-thuong-GPMB-tai-dinh-cu-khi-nhanuoc-thu-hoi-dat/45136693/511/
10
6. http://khudothimoi.com/tintuc/thi-truong-nha-dat/2000-cac-yeu-to-anhhuong-den-thi-truong-bds-nam-2010.html
MỤC LỤC
Trang
A.
B.
I.
II.
Đặt vấn đề………………………………………………………………
Giải quyết vấn đề……………………………………………………….
Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư……………………………
Các yếu tố tác động đến việc xây dựng và thực thi pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất……………………………………..
1. Các yếu tố tác động tích cực đến việc xây dựng và thực thi pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất………………………..
2. Các yếu tố tác động tiêu cực đến việc xây dựng và thực thi pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất………………………..
3. Giải pháp nhằm nâng cao tính thực thi của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ,
A.
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất………………………………………..
Kết luận………………………………………………………………
11