1
I. Cơ sở lý luận về nhận thức
1. quan niệm duy vật biện chứng về nhận thức
Theo quan niệm duy vật biện chứng, nhận thức là một quá trình phản ánh
tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở
thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó.
Như vậy, theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhận thức thuộc phạm vi
hoạt động phản ánh của con người (với tư cách chủ thể nhận thức) đối với thế giới
khách quan (với tư cách khách thể nhận thức) được tiến hành thông qua hoạt động
thực tiễn và nhằm sáng tạo tri thức phục vụ hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng lấy
thực tiễn là tiêu chuẩn để xác định tính chân lý của những tri thức đó.
2. Phân loại nhận thức
Có nhiều cách phân loại nhận thức, dựa vào tính tự phát hay tự giá của sự
nhận thức xâm nhập vào bản chất của sự vật ta có thể phân loại nhận thức thành
nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.
Nhận thức thông thường là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát,
trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người. Nó phản ánh sự vật, hiện
tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau
của sự vật. Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn
liền với những quan niệm sống thực tế hàng ngày. Vì thế, nó có vai trò thường
xuyên và phổ biến chi phối hoạt động của con người trong xã hội.
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và
gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng
nghiên cứu. Sự phản ánh này diễn ra dưới dạng trừu tượng logic. Đó là các khái
niệm, phạm trù và các qui luật khoa học. nhận thức khoa học vừa có tính khách
quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực.
Nó vận dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng cả ngôn ngữ
2
3
như tri thức khoa học, phương pháp tư duy khoa học, khả năng vận dụng khoa học
hệ thống tri thức vào thực tiễn... là một trong những cách tiếp cận cơ bản, hệ thống
và toàn diện nhất.
1. Tri thức khoa học.
Con người cải biến tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn của mình. Hoạt
động đó ngày càng trở nên tự giác vì nó được dẫn dắt, chỉ đạo bởi "bộ não thông
minh", bởi tri thức khoa học. Trong lịch sử triết học, tri thức luôn được đề cao.
Hêraclít đã coi tri thức là mặt trời thứ hai; Ph.Bêcơn đưa ra quan niệm cho rằng, tri
thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức và do vậy, con người cần phải thống trị, làm
chủ thế giới tự nhiên và khả năng đó thực hiện được hay không phụ thuộc vào sự
hiểu biết của con người. Và, theo Ph.Ăngghen, trước khi nghiên cứu những sự biến
đổi của một đối tượng nào đó, cần phải sơ bộ tiếp nhận dù chỉ là một số tri thức về
đối tượng đó.
Với tư cách thành tố của nhận thức khoa học, tri thức bao gồm toàn bộ
những hiểu biết sâu sắc, phong phú và đa dạng của con người về thế giới khách
quan. Nó bao hàm tri thức - nguồn, tri thức - tiền đề và tri thức - kết quả của quá
trình nhận thức. Khác với nhận thức thông thường, tri thức trong nhận thức khoa
học phải đúng đắn, chân thực và phản ánh sự nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về
thế giới khách quan. Tri thức khoa học có thể được tiếp cận ở nhiều lĩnh vực, phạm
vi, v.v.. Song, xét về trình độ phản ánh qua các giai đoạn của quá trình nhận
thức, tri thức khoa học như một chỉnh thể bao gồm các cấp độ trực quan khoa học,
kinh nghiệm khoa học, lý luận khoa học.
Tri thức trực quan khoa học là kết quả của quá trình nhận thức và phản ánh
trực tiếp thế giới khách quan của chủ thể. Nội hàm của nó phản ánh các mặt, các bộ
phận bên ngoài sự vật, hiện tượng, thông qua các hình thức cảm giác, tri giác, biểu
tượng. Cảm giác là cơ sở nền tảng cho các giai đoạn nhận thức tiếp theo, như
V.I.Lênin khẳng định: "Tiền đề đầu tiên của lý luận về nhận thức chắc chắn là ở
đựng các thao tác tư duy khoa học bảo đảm cho nhận thức đi từ hiện tượng đến bản
6
chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn, từ nhận thức cảm tính đạt tới
nhận thức lý tính, từ nhận thức kinh nghiệm tới lý luận khoa học. Vai trò của thao
tác tư duy khoa học được thể hiện ở tất cả các giai đoạn khác nhau, đặc biệt là giai
đoạn tư duy trừu tượng trong quá trình nhận thức khoa học.
Hệ thống phương pháp tư duy khoa học bao gồm các phương pháp lý thuyết
và phương pháp thực nghiệm. Trong các phương pháp lý thuyết ngày càng được sử
dụng rộng rãi hiện nay, cần phải chú ý phương pháp trừu tượng hoá và khái quát
hoá, bởi đó là một trong những công cụ chủ yếu để nhận thức chân lý, nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của con người. Các phương pháp giả định - suy diễn,
phương pháp tiền đề - kết luận, phương pháp thuật toán - toán học không ngừng
được nghiên cứu và hoàn chỉnh thêm. Các phương pháp hệ thống - cấu trúc, hình
thức hoá và mô hình hoá... ngày càng có vai trò quan trọng trước sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học hiện đại. Mặc dù vai trò của phương pháp lý thuyết ngày
càng tăng lên, song không vì thế mà ý nghĩa của các phương pháp thực
nghiệm (quan sát, thí nghiệm, đo đạc) bị suy giảm. Trong nhiều trường hợp, nhất là
đối với khoa học tự nhiên, các phương pháp thực nghiệm còn đóng vai trò kiểm tra,
thẩm định tính chân thực của các kết luận hoặc giả thuyết khoa học được rút ra nhờ
phương pháp lý thuyết. Thậm chí, một số thực nghiệm cụ thể nào đó còn có thể
quyết định một hướng nghiên cứu, hoặc một lý thuyết khoa học đang hình thành.
Trình độ thực nghiệm sẽ ngày càng tinh vi, phức tạp với các dụng cụ, phương tiện
ngày càng hiện đại. Cùng với sự phát triển của nhận thức khoa học, đặc biệt trong
khoa học - công nghệ hiện đại, trình độ thực nghiệm cũng như các phương tiện,
công cụ của hoạt động đó sẽ phát triển hiện đại hơn và hữu ích hơn đối với nhận
thức của con người.
3. Khả năng vận dụng hệ thống tri thức vào thực tiễn
dụng đúng đắn hệ thống tri thức vào thực tiễn là thành tố "hoạt hoá" các tri thức
khoa học đã được tiếp nhận, làm cho nhận thức khoa học thực sự xuất phát từ thực
tiễn và quay trở lại phục vụ hoạt động thực tiễn. Việc phát huy vai trò của nhận
8
thức khoa học trong hoạt động thực tiễn thực chất là quá trình phát triển, hoàn thiện
các thành tố của nhận thức khoa học, song phải bảo đảm sự thống nhất chặt chẽ
giữa chúng, bởi sự vận động, biến đổi của mỗi thành tố không tách rời cấu trúc
tổng thể của nhận thức khoa học.
III. Lịch phát triển của nhận thức khoa học
Lịch sử phát triển của triết học cho thấy, vấn đề nhận thức khoa học được đặt
ra từ rất sớm, đầu tiên là trong triết học Hy - La cổ đại, khoảng thế kỷ VI - IV TCN.
Tuy nhiên, trong thời kỳ cổ đại, do những hạn chế về các phương tiện, phương
pháp nhận thức cũng như khả năng của mình, nhận thức của con người đối với thế
giới khách quan còn giản đơn, mang tính phỏng đoán hoặc chỉ dựa vào suy lý.
Luận bàn về vấn đề nhận thức khoa học mới chỉ là bước đầu, làm cơ sở cho sự phát
triển, hoàn thiện lý luận về nhận thức sau này.
Đến thời trung cổ, người ta đã cố gắng tìm cách giải thích thế giới thông qua
tính tích cực của nhận thức con người. Tuy nhiên, việc giáo dục trí tuệ khi đó còn
là sự độc quyền của các cha cố và có xu hướng thiên về thần học. Điều này dẫn đến
khó tránh khỏi cách đặt vấn đề: phải chăng có thể nhận thức được "Thượng đế" và
linh hồn của con người là linh hồn của "Chúa"? ... Do vậy, trong suốt thời kỳ trung
cổ, tri thức lý luận và các phương pháp nhận thức khoa học gần như không xuất
phát từ thực tiễn, không gắn với thực tiễn sản xuất.
Phủ nhận tính phi khoa học của triết học kinh viện, nhận thức luận cổ điển đã
giải thích thế giới bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp duy lý.
Cantơ đi xa hơn khi ông dùng cả những yếu tố biện chứng lẫn siêu hình của
V.I.Lênin đã kế tục tư tưởng vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, phát triển sâu
sắc lý luận nhận thức nói chung và nhận thức khoa học nói riêng như một bộ phận
cấu thành hệ thống triết học mácxít hoàn chỉnh. Ông cho rằng, nhận thức là sự phản
ánh giới tự nhiên bởi con người, bao gồm cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự
10
cấu thành, sự hình thành các khái niệm, quy luật...; rằng, "nhận thức là quá trình,
xâm nhập (của trí tuệ) vào giới tự nhiên..." và nó "... là sự tiến gần mãi mãi và vô
tận của tư duy đến khách thể...". Đặc biệt, trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đã chỉ ra những vấn đề cơ bản nhất của nhận thức
khoa học, như đối tượng nhận thức, khả năng nhận thức thế giới khách quan của
con người và biện chứng phức tạp của quá trình nhận thức. Điều đó đã khẳng định
vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng. Hơn thế, trong khi
khái quát về nhận thức khoa học và khả năng nhận thức của con người đối với thế
giới khách quan, V.I.Lênin đã phê phán sâu sắc các quan điểm duy vật siêu hình,
duy tâm, thuyết không thể biết... liên quan đến vấn đề này.
Lý luận nhận thức trong triết học Mác - Lênin là một trong những thành quả
vĩ đại của khoa học triết học và nó tiếp tục được các nhà triết học mácxít sau này
vận dụng, phát triển. Nhà triết học Nga V.I.Cúpxốp chỉ ra rằng, nhận thức khoa học
có thể chia thành kết quả nhận thức và quá trình thu nhận tri thức đó. Nếu tiếp cận
nhận thức khoa học như một quá trình thì nó được bắt đầu từ việc thu thập những
sự kiện. Song, sự tích luỹ các sự kiện khoa học không diễn ra một cách tự phát, mà
là hoạt động có mục đích, có kế hoạch và có ý thức. Bởi vì, trên thực tế, trước khi
triển khai việc nghiên cứu một vấn đề nào đó, nhà khoa học đã chủ động xác định
cần phải thu thập những sự kiện, tài liệu nào, ở đâu và sử dụng các phương tiện,
phương pháp gì để đạt được mục tiêu đề ra v.v.. Xét về tư duy khoa học, nhận thức
khoa học là hình thái có tính trừu tượng và khái quát cao nhất, nhằm mục đích tìm
kiếm, phát hiện các nguyên lý, sơ đồ khoa học mới có tính tổng quát hơn, sâu sắc