tiểu luận môn tài chính quốc tế phân tích những tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam bài học kinh nghiệm trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài vào việt nam - Pdf 25

Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
MỤC LỤC
I.TỔNG QUAN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2
1.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2
2.Các hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp 4
3.Tác động của đầu tư nước ngoài trực tiếp 7
3.1 Tác động tích cực của đầu tư nước ngoài trực tiếp 7
3.2 Tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài trực tiếp 8
II.TÁC ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004-2011 8
1.Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2004-2011 8
2.Phân tích tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 17
2.1 Tác động tích cực FDI 17
2.1.1 Bổ sung vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 17
2.1.2 Tạo cơ sở hạ tầng nền kinh tế qua thiết lập doanh nghiệp, chi nhánh 18
2.1.3 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế 18
2.1.4 Góp phần vào phát triển công nghệ của Việt Nam 20
2.1.5 Thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước 22
2.1.6 Cải thiện cán cân thanh toán 23
2.1.7 Phát triển các vùng kinh tế 24
2.1.8 Tăng thu ngân sách qua thu thuế doanh nghiệp FDI 24
2.1.9 Tác động tích cực về mặt xã hội 24
2.2 Tác động tiêu cực FDI 24
2.2.1 Gây bất bình đẳng và phân tầng xã hội 24
2.2.2 Góp phần gia tăng ô nhiễm môi trường 25
2.2.3 Gây phá sản các doanh nghiệp trong nước 25
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 1
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
2.2.4 Khánh kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên 25
2.2.5 Gây tham nhũng và thúc đẩy đô la hóa nền kinh tế 28
2.2.6 Làm trầm trọng thêm tình trạng nhập siêu 28
2.2.7 Gia tăng nợ xấu ngân hàng trong nước 28

mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1997 cũng đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài
hoặc bất kì tải sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh theo quy
định của luật này”.
Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự di chuyển
vốn từ một nước này sang một nước khác. Có sự dịch chuyển này là do chênh lệch về năng suất
cận biên của vốn giữa các nước. Theo Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự
khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được
do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường
có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn.
Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa
hóa lợi nhuận vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy
nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được
các Doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của
Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp. Ngoài ra,
đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của các sản phẩm
này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai
đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát
minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng
lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 3
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị
trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất
hiện(giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự
hình thành đầu tư trực tiếp nước ngoài. Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một
sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản
phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh

 Nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh
theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
 Doanh nghiệp thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này được liên doanh với nhà đầu
tư trong nước và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới theo
quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
 Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp
luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
2.4 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
 Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân
chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác.
 Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của
mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi
trong hợp đồng.
 Hợp đồng BCC trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên
khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của Luật
đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
 Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa và vận hành
các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp
thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định.
 Chính phủ quy định lĩnh vực đầu tư, điều kiện, trình tự, thủ tục và phương thức thực hiện
dự án đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các bên thực hiện dự án đầu tư theo hình thức hợp
đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT.
 Trường hợp đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa một hoặc nhiều nhà
đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước (sau đây gọi tắt là các bên
hợp doanh) thì nội dung hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có quy định về quyền lợi,
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh.
 Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí và
một số tài nguyên khác theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm thực hiện theo quy

hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường; tuân thủ các quy định về điều kiện tập
trung kinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp; đáp ứng điều
kiện đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện.
2.7 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
Điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật đầu tư, pháp luật về cạnh
tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2.8 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 6
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
3. Tác động của đầu tư nước ngoài trực tiếp
3.1 Tác động tích cực của đầu tư nước ngoài trực tiếp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng với cả nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu
tư, cụ thể:
Đối với các nước tiếp nhận vốn đầu tư (Host countries):
 FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng phục vụ cho chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế cao, đặc biệt là với các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển vốn là những
nước còn nghèo, tích luỹ nội bộ thấp, nên để có tăng trưởng kinh tế cao thì các nước này
không chỉ dựa vào tích luỹ trong nước mà phải dựa vào nguồn vốn tích luỹ từ bên ngoài,
trong đó có FDI.
 FDI có ưu điểm hơn các hình thức huy động vốn nước ngoài khác, phù hợp với các nước
đang phát triển. Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ xây dựng các dây chuyền sản xuất tại
nước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Điều này sẽ cho phép các nước đang phát
triển tiếp cận công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý hiện đại. Tuy nhiên, việc có tiếp cận
được các công nghệ hiện đại hay chỉ là các công nghệ thải loại của các nước phát triển lại
tuỳ thuộc vào nước tiếp nhận đầu tư trong việc chủ động hoàn thiện môi trường đầu tư
hay không.
 FDI giúp giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư. Vai trò này của FDI
không chỉ đối với các nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển, đặc biệt là khi
nền kinh tế bước vào giai đoạn khủng hoảng theo chu kỳ. FDI đóng góp tích cực vào việc
nâng cao chất lượng lao động và phát triển nhân lực, FDI làm thay đổi cơ bản năng lực,

ra nước ngoài sản xuất.
II. TÁC ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2004-2011
1. Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2004-2011
Việt Nam là một nước đang phát triển nên nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất cao.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 8
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Nam trong những năm qua đã tăng lên đáng kể và có đóng góp nhất định cho sự tăng trưởng kinh
tế của đất nước.
Tình hình vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2004 – 2011
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
T9/2011
Tổng vốn đầu tư (VĐT) toàn xã hội (Đơn vị: Nghìn tỷ đồng)
Tổng VĐT 258.7 324.0 398.9 461.9 637.3 704.2 830.3 679.9
VĐT khu vực Nhà
nước 144.9 172.0 199.8 200.0 184.4 245.0 316.3 243.9
VĐT khu vực ngoài
Nhà nước 69.6 105.0 134.0 187.8 263.0 248.0 299.5 264.1
VĐT hu vực FDI 44.2 47.0 65.0 74.1 189.9 181.2 214.5 171.9
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Đơn vị: Tỷ USD)
Vốn thực hiện 2.853
3.30
9 4.100 8.030
11.50
0
10.00
0 11.000 8.200
Vốn đăng ký 4.548
6.84

nước ngoài được đầu tư vào một số lĩnh vực trước đây chưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm,
kinh doanh siêu thị, ngân hàng… cũng góp phần tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn ở
Việt Nam.
Năm 2008, mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp
phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm
trước năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 71 tỉ USD - mức cao nhất từ trước tới nay. Kết quả
này đạt được là nhờ môi trường đầu tư - kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện và được
cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư ngày càng phù
hợp với thông lệ quốc tế và khu vực. Chính sách phân cấp việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và
quản lý hoạt động FDI về địa phương đã tạo thế chủ động và tích cực cho cơ quan quản lý đầu tư
các cấp trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng giảm thiểu thủ tục hành
chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào
hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, hoạt động xúc tiến đầu tư đã đổi mới cả về phương thức lẫn nâng cao chất lượng thông qua
nhiều hoạt động, như triển khai thực hiện Quyết định số 109/2007/QĐ-TTg, ngày 17-7-2007 của
Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến
đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 - 2010; thành lập nhóm hỗ trợ dự án tiềm năng quy mô lớn, ảnh
hưởng lớn tới địa phương; ban hành Danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI giai đoạn 2006 -
2010; xuất bản các tài liệu cập nhật, đĩa CD liên quan tới hoạt động FDI; tổ chức nhiều hội
thảo xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, kết hợp với các chuyến thăm và làm việc của lãnh
đạo cấp cao Đảng, Nhà nước; chú trọng hướng thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia nhằm
thu hút các dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu.
Một điều dễ nhận thấy là dòng vốn FDI vào Việt Nam trong vài năm trở lại đây không chỉ
thay đổi về lượng (vốn đầu tư) mà cả về chất (chiều sâu đầu tư) thông qua sự có mặt của các tập
đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực điện tử, như: Intel, Compal, Foxconn, Samsung Đặc biệt trong
năm 2008 còn xuất hiện dự án của các tập đoàn lớn, như Good Choi (Hoa Kỳ), Berjaya (Ma-lai-
xi-a) v.v Điều này cho thấy, sau một thời gian nghiên cứu thị trường Việt Nam các tập đoàn
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 10
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức

trước.
FDI vào Việt Nam phân theo lĩnh vực đầu tư giai đoạn 2004 - 2008
(Đơn vị : triệu USD, Nguồn: Tổng cục thống kê)
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 11
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 12
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 13
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Theo lĩnh vực đầu tư, có thể thấy việc thu hút FDI vào các ngành công nghiệp nặng, công
nghiệp nhẹ, dầu khí chiếm lượng vốn cao; trong khi ngành nông lâm nghiệp, tài chính ngân
hàng, thủy sản lại thu hút được lượng vốn rất nhỏ. Có thể thấy ngành công nghiệp nặng luôn luôn
chiếm tỷ trọng thu hút vồn FDI lớn nhất. Năm 2007, ngành công nghiệp nặng chiếm 37% trong
tổng vốn đầu tư, năm 2006 tăng lên là 54,25%. Tuy nhiên, từ năm 2007 trở lại đây nguồn vốn
FDI trong ngành công nghiệp nặng giảm dần, năm 2007 FDI cho công nghiệp nặng chỉ chiếm
19,47%, năm 2008 là 32,25%. Theo bảng số liệu trên, có thể thấy ngành xây dựng văn phòng,
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 14
TT Ngành 2004 2005 2006 2007 2008
1 Công nghiệp nặng 773,960 1557,362 4104,448 3477,021 19441,0
2 Dầu khí 11,500 20,000 106,600 1868,320 10574,9
3 Công nghiệp nhẹ 414,285 638,739 762,782 2474,304 1818,5
4 Công nghiệp thực phẩm 44,558 80,436 77,360 243,066 434,2
5 Nông, lâm nghiệp 344,710 107,114 119,910 180,540 247,2
6 Khách sạn, du lịch 209,184 36,700 482,687 1872,796 9126,1
7
Giao thông, Vận tải và
Bưu điện 32,667
675,670
448,475
571,250

2006, ngành xây dựng văn phòng căn hộ, tỷ trọng FDI đầu tư chỉ chiếm 6,32% nhưng đến năm
2008 đã tăng lên con số 15,92% với số vốn đầu tư xếp thứ 3 trong các ngành.
Đến năm 2009, có sự thay đổi chỉ tiêu trong việc sắp xếp các nhóm ngành thu hút vỗn đầu tư
FDI. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau:
FDI vào Việt Nam phân theo lĩnh vực đầu tư giai đoạn 2009 - T9/2011
(Đơn vị : triệu USD, Nguồn: Tổng cục thống kê)
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 15
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Theo lĩnh vực đầu tư, nguồn FDI dành cho lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục
tăng, trong khi ngành bất động sản giảm nhanh. Năm 2010 FDI dành cho ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo tăng 2861,2 triệu USD. Và mới 9 tháng đầu năm 2011, nguồn FDI dành cho lĩnh
vực này đã là 4911,84 triệu USD. Trong khi đó, ngành bất động sản thu hút nguồn FDI lớn nhất
năm 2009 đã giảm 529,7 triệu USD, và chỉ còn 3 tháng nữa là hết năm 2011, nguồn FDI dành
cho lĩnh vực này chỉ có 307,19 triệu USD. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tòan cầu,
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 16
TT Ngành Năm 2009 Năm 2010 Tháng 9/2011
1 CN chế biến,chế tạo 2220.0 5081.2 4,911.84
2 SX,pp điện,khí,nước,đ.hòa 129.0 2952.6 2,525.31
3 Xây dựng 388.3 1,794.6 689.34
4 Dvụ lưu trú và ăn uống 4982.6 308.8 446.77
5 Cấp nước;xử lý chất thải 9.1 322.71
6 KD bất động sản 7372.4 6842.7 307.19
7 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 191.7 398.0 193.49
8 Nghệ thuật và giải trí 291.8 36.2 152.78
9 HĐ chuyên môn, KHCN 65.5 97.93
10 Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 59.0
11 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 18.6 84.36
12 Dịch vụ khác 15.0 43.66
13 Vận tải kho bãi 109.8 879.1 38.80
14 Thông tin và truyền thông 71.6 31.99

Vào thời điểm cuối thế kỷ 20, FDI được đẩy mạnh tại Việt Nam với mục tiêu: cung cấp
vốn, công nghệ, kỹ năng, việc làm, thị trường, những yếu tố này kết hợp với nguồn lực sẵn có
trong nước góp phần đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp với mức thu nhập trung bình
vào năm 2010.
Theo ghi nhận, từ năm 2000, đóng góp của FDI vào sự phát triển của các ngành công
nghiệp Việt Nam là rất ấn tượng, cả về tỷ lệ việc làm , đầu tư và xuất khẩu, góp phần quan trọng
trong tăng trưởng sản lượng công nghiệp.
Nhưng trong khi dòng vốn tiếp tục đổ vào, thì số việc làm được tạo ra tuy có tăng nhưng lại
chủ yếu là thâm dụng lao động rẻ mạt, không có kỹ năng.
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 17
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Sự gia nhập WTO của Việt Nam càng đẩy nhanh dòng vốn. Kể từ năm 2007, tổng số FDI
đăng ký tăng từ 10 lên 60 tỉ USD, thực hiện từ khoảng 4 tỉ trong năm 2006 lên 12 tỉ USD vào
cuối năm 2008.
Nguồn vốn FDI tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho
người dân, cải thiện và đổi mới các hệ thống giáo dục và đào tạo để nâng cao trình độ tay nghề
cho người lao động phù hợp với yêu cầu của thời đại mới. Thứ nhất: trực tiếp tạo việc làm bằng
cách tuyển dụng lao động địa phương vào các doanh nghiệp có vốn FDI. Thứ hai, FDI gián tiếp
tạo ra việc làm thông qua các doanh nghiệp cung cấp hoàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp
có vốn FDI. Vấn đề nâng cao thu nhập, người lao động làm việc trong các công ty có vốn FDI
thường cao hơn so với làm tại các doanh nghiệp trong nước, vì sản lượng sản xuất tại các doanh
nghiệp FDI thường cao hơn với các doanh nghiệp trong nước, lao động có chất lượng cao hơn,
và công ty FDI có thị trường rộng lớn và quy mô lớn.
2.1.2 Tạo cơ sở hạ tầng nền kinh tế qua thiết lập doanh nghiệp, chi nhánh
Một đặc trưng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là khi đầu tư vào Việt Nam, các nhà
đầu tư nước ngoài thiết lập các doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện,… Ngoài ra khi
tham gia vào các khu công nghiệp các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài còn thiết lập cơ sở hạ
tầng kinh tế. Chính vì lý do này mà các nước khuyến khích FDI.
2.1.3 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
FDI là một nhân tố tích cực góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ông nghiệp

của đầu tư nước ngoài trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng dần từ 16,9% (1991) lên
23,65% (1995), 26,5% (1996) lên tới 41,3% năm 2000, và 36,4% (2006) và 43,8% giá trị sản
lượng công nghiệp (2007) tương đương với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Tốc độ tăng trưởng
cao của khu vực công nghiệp có vốn FDI đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cao tốc độ tăng giá
trị sản xuất công nghiệp. Chất lượng của các dự án FDI vào lĩnh vực công nghiệp đang có sự cải
thiện rõ rệt. Có thêm nhiều dự án quy mô lớn, áp dụng công nghệ hiện đại, nhiều dự án đầu tư
theo các nhóm liên kết ngành- đây cũng là cơ sở thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ phát
triển trong thời gian tới. Vì với lợi thế về máy móc thiết bị và kỹ thuật hiện đại, có thị trường ổn
định, được khuyến khích bằng các cơ chế, chính sách ngày cáng thông thoáng, khu vực có vốn
FDI trong công nghiệp đã và đang phát triển khá nhanh và ổn định, luôn có xu hướng tăng nhanh
hơn các khu vực khác.
Việc đầu tư nước ngoài trong công nghiệp phát triển nhanh cũng đã tạo ra một môi trường
kinh doanh cạnh tranh, góp phần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, đổi mới và sắp xếp lại các
doanh nghiệp nhà nước. Khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp cũng được nâng cao
thông qua việc áp dụng các công nghệ, máy móc và thiết bị sản xuất hiện đại, phương pháp quản
lý tiên tiến từ các dự án FDI, tạo điều kiện ra đời và thay đổi diện mạo của nhiều ngành công
nghiệp như khai thác dầu khí, sản xuất, lắp ráp ôtô, điện tử và công nghệ thông tin, thiết bị kỹ
thuật điện và điện gia dụng, chế biến thực phẩm và đồ uống, các ngành công nghiệp xuất khẩu
chủ lực như dệt may, giày dép thu hút hàng hàng trăm ngàn lao động
Ngoài ra, đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp đã gián tiếp đào tạo cho Việt Nam
một đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, được tiếp xúc với công nghệ mới, cũng như các kỹ
năng quản lý tiên tiến, kỷ luật công nghiệp chặt chẽ.
+ Dịch vụ:
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 19
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Ngành dịch vụ càng ngày càng chiếm một thị phần lớn của thương mại toàn cầu. Khu vực
dịch vụ bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau từ du lịch, qua tài chính cho đến lĩnh vực y tế, chăm
sóc sức khỏe, giáo dục
FDI vào Việt Nam ngày càng nhiều va dòng vốn đang có sự chuyển dịch cơ cấu “chảy”
mạnh vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm 47,7% tổng vốn đăng ký của cả nước trong năm 2007 vừa qua,

nghệ…).
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 20
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
 Hoạt động phổ biến công nghệ: Hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích cực đối với các doanh
nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư thông qua cạnh tranh sẽ thúc đẩy việc cải thiện và nâng
cao công nghệ trong nước; di chuyển lao động từ nơi có trình độ công nghệ cao đến các
nước đang phát triển góp phần chuyển giao công nghệ.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những phương thức quan trọng nhất trong việc
chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển. Chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư
trực tiếp nước ngoài tạo ra nguồn lợi mà ta không có được khi sử dụng những phương thức
chuyển giao khác. Ví dụ, một nguồn đầu tư không chỉ bao gồm công nghệ đơn thuần mà còn bao
gồm “cả gói”, kể cả kinh nghiệm quản lý và khả năng kinh doanh cũng được chuyển giao qua
các chương trình đào tạo và phương thức học thông qua thực hành. Hơn nữa, nhiều công nghệ và
những bí quyết khác được chi nhánh của các doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) sử dụng thường
không có sẵn trên thị trường, mà chỉ có ở trong chính các doanh nghiệp đó. Đồng thời, kể cả nếu
một số công nghệ đã có sẵn trên thị trường, thì chúng chỉ có thể được sử dụng một cách có giá trị
hơn hoặc ít tốn kém hơn ở chính công ty đã phát triển ra công nghệ đó so với các công ty khác.
Những kênh chính để chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài thường
trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hiện tượng lan tỏa, bao gồm:
 Liên kết theo chiều dọc: Các doanh nghiệp đa quốc gia có thể chuyển giao công nghệ cho
các công ty cung ứng cho họ hàng hóa trung gian, hoặc cho những khách hàng mua sản
phẩm của họ.
 Liên kết theo chiều ngang: Các công ty bản địa trong cùng một ngành công nghiệp hoặc
cùng một giai đoạn sản xuất có thể áp dụng công nghệ thông qua mô phỏng, hoặc buộc
phải cải tiến công nghệ của họ vì sự cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp đa quốc gia
ngày càng tăng.
 Di trú lao động: Công nhân được đào tạo hoặc đã từng làm việc cho chi nhánh của doanh
nghiệp đa quốc gia có thể chuyển giao kiến thức của mình cho các công ty bản địa khác
khi chuyển sang công ty khác hoặc tự thành lập cơ sở kinh doanh.
 Quốc tế hóa nghiên cứu và phát triển: Khi được đặt ở nước ngoài, hoạt động nghiên cứu

nghệ chế tạo phức tạp (đèn hình, xe máy, tổng đài điện tử số…). Đến nay chất lượng sản phẩm
của các doanh ngiệp Việt Nam đã được thế giới biết đến và công nhận thông qua việc cấp chứng
chỉ ISO cho một số doanh nghiệp. Đây là một nhân tố quan trọng giúp sản phẩm của các doanh
nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
2.1.5 Thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước
FDI góp phần nâng cao năng lực quản lý, tiếp thu công nghệ, trình độ tay nghề cho người
lao động, thúc đẩy tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
FDI tác động tới các doanh nghiệp (DN) Việt Nam qua bốn kênh chính:
Tạo sức ép cạnh tranh trên thị trường, từ đó buộc các DN trong nước phải đầu tư đổi mới
công nghệ; lưu chuyển lao động từ DN FDI đến các DN trong nước; chuyển giao công nghệ cho
DN trong nước; liên kết giữa DN FDI và DN trong nước để sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, việc
tác động có các mức độ rất khác nhau và tùy thuộc từng loại hình DN.
Sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với DN trong nước:
 Chỉ có 31% nguyên liệu sản xuất các DN FDI hiện đang sử dụng được mua từ các DN
trong nước, còn lại phần lớn là nhập khẩu hoặc mua lại từ các DN FDI khác.
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 22
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
 Khu vực FDI hiện đang góp 100% sản lượng một số sản phẩm công nghiệp như dầu khí,
ôtô, máy giặt, máy điều hòa, tủ lạnh, điện tử; 60% cán thép; 28% ximăng; 33% máy móc
thiết bị điện, điện tử; 25% thực phẩm đồ uống
 Trong năm năm 2001-2005, xuất khẩu của khu vực FDI (không kể dầu thô) ước đạt 33,8
tỉ USD, chiếm trên 33% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Nếu tính cả xuất khẩu dầu
thô, tỉ lệ này đạt gần 55%. Khu vực FDI chiếm khoảng 15% tổng sản phẩm nội địa
(GDP), 18% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Một trong những tác động lớn nhất của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
là tác động đến việc di chuyển lao động và chuyển giao công nghệ giữa DN FDI và DN trong
nước. Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy tác động này đã không hoặc rất ít diễn ra. Vậy nguyên
nhân của nó là do di chuyển lao động có tay nghề và kỹ thuật cao hiện nay chủ yếu diễn ra trong
nội bộ các DN FDI hơn là giữa DN FDI với các DN trong nước. Cụ thể chỉ có 4,6% DN trong
nước thuộc nhóm ngành chế biến thực phẩm cho biết là có tiếp nhận lao động từ DN FDI. Lý do

nghiệp ô tô còn thấp, mà cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính những năm 2008-nay đang cho thấy
rõ điều đó.
2.1.7 Phát triển các vùng kinh tế
Tính đến năm 2011, FDI vào Việt Nam đã có mặt trên 44 tỉnh thành trên cả nước. Việc FDI đầu
tư vào các vùng, các tỉnh theo định hướng của Nhà nước đã thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế.
Nhờ đó kinh tế giữa các vùng được cân bằng, giảm khoảng cách phát triển giữa các vùng.
2.1.8 Tăng thu ngân sách qua thu thuế doanh nghiệp FDI
Các doanh nghiệp FDI hầu hết là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả. Ví dụ
như HSBC 6 tháng đầu năm 2011 lãi lãi trước thuế 82 triệu USD tương đương 1.689 tỷ đồng trên
vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng. Trong khi các ngân hàng trong nước có vốn điều lệ tương đương thậm
chí vốn điều lệ lớn hơn thu được lãi chỉ khoảng 400-700 tỷ đồng.
Với thuế thu nhập 25% lợi nhuận trước thuế, các doanh nghiệp FDI đã đóng góp tích cực
vào nguồn thu ngân sách.
2.1.9 Tác động tích cực về mặt xã hội
- Nhờ có các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội học
hỏi được kinh nghiệm quản lý của các doanh nghiệp FDI.
- Thúc đẩy nâng cao nguồn nhân lực trong nước. Các doanh nghiệp FDI khi vào Việt Nam
có nhu cầu tuyển lao động trong nước. Để đáp ứng yêu cầu công việc của các doanh nghiệp FDI,
người lao động phải học tập nâng cao trình độ, ngoài ra doanh nghiệp FDI cũng sẽ đào tạo người
lao động. Do vậy, FDI có tác dụng thúc đẩy nâng cao trình độ người lao động trong nước.
- Nhờ có các doanh nghiệp FDI, người tiêu dùng trong nước không phải nhập khẩu nhiều
hàng hóa mà vẫn được tiêu dùng hàng hóa chất lượng cao với giá thành rẻ hơn.
2.2 Tác động tiêu cực FDI
2.2.1 Gây bất bình đẳng và phân tầng xã hội
Tăng trưởng kinh tế đã chia sẻ lợi ích cho đông đảo các tầng lớp xã hội, trong đó có cả
người nghèo, các nhóm xã hội yếu thế. Tuy nhiên, vẫn còn những khác biệt, không công bằng,
do có những nhóm xã hội được hưởng lợi nhiều hơn và những nhóm hưởng lợi ít hơn,thậm chí bị
rủi ro, mất mát. Phân tầng xã hội trong 2 thập kỷ đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng,
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 24
Tài chính Quốc tế GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức

mình.
Con số vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện qua từng tháng, quý và năm luôn thu hút sự
chú ý đặc biệt của nhiều người. Rất thường xuyên, những con số này được coi đồng nghĩa với
thước đo thành công của chính sách phát triển kinh tế cũng như môi trường kinh doanh của Việt
Nam. Bởi vậy, việc duy trì và không ngừng làm cho những con số này tăng lên là điều đặc biệt
quan trọng đối với các cấp chính quyền, và cũng vì vậy mà người ta có xu hướng chạy đua, châm
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 25

Trích đoạn Gia tăng nợ xấu ngân hàng trong nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status