1
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập hiện nay, nền kinh tế thế giới đang vận động không
ngừng, bước sang giai đoạn hội nhập đa dạng và xu hướng hội nhập hết sức mạnh
mẽ. Trong tình hình chung đó, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng kể.
Đáng kể nhất là gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 11 năm
2006. Việc này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với nền kinh tế nước nhà, đặc biệt là
hoạt động ngoại thương trong đó dịch vụ khai thác cảng đóng vai trò hết sức quan
trọng. Hơn nữa nước ta có đường bờ biển dài 3.260 km với hơn 160 cửa sông tạo
nền tảng và cơ hội cho Việt Nam từng bước trở thành quốc gia mạnh về biển, do đó
việc phát triển cảng biển rất được chú trọng và thu hút đầu tư. Trong hệ thống cảng
tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Cát Lái được xem là một trong những cảng
trọng điểm.
Cảng Cát Lái được xây dựng theo nhiều giai đoạn, bắt đầu từ tháng 06 năm
1996 cho đến 2002, diện tích ban đầu khoảng 170,000 mét vuông, gồm 2 cầu tàu
150m, khả năng đón tàu với trọng tải trên 20,000 DWT. Cùng thời gian đó Cát Lái kết
hợp với thành phố xây mở tuyến đường liên tỉnh lộ 25 từ xa lộ Hà Nội đến phà Cát Lái
nhằm thu hút khách hàng và thuận tiện cho các loại xe có trọng tải lớn ra vào cảng.
Chuyến tàu đầu tiên cập Cát Lái vào tháng 03/1998 là Nan Ping San của Trung
Quốc, bốc dỡ hơn 5,000 tấn gạo. Sau khi chuyển sang khai thác container, chuyến tàu
đầu tiên là của Hãng tàu RCL, cập Cát Lái vào tháng 10 năm 2002.
Năm 2005, khi Cầu Thủ Thiêm hoàn tất xây dựng, Tân Cảng Sài Gòn
chuyển toàn bộ các hoạt động đón tàu container từ Cảng Tân Cảng sang Cảng Cát
Lái, từ đó Cát Lái trở thành cảng trọng điểm của khu vực phía Nam.
Cảng Cát Lái được xây dựng trên khu đất 6,2 ha và mặt nước tiếp giáp khu
đất phía bờ sông Đồng Nai thuộc phạm vi khu nước cầu tàu Vitaico cũ. Đây là một
trong những cảng có chất lượng dịch vụ hàng đầu và tiếp tục dẫn đầu cả nước về
sản lượng container xuất nhập khẩu thông qua. Đơn vị chính thức khai thác tại đây
là Công ty Cổ phần Cảng Cát Lái.
hoạt động kinh doanh phát triển các ngành nghề liên quan đến hoạt động của Cảng
như: Dịch vụ Logistics, Vận tải hàng hoá đa phương thức quốc tế, Xuất nhập khẩu,
Du lịch Cảng, …
3
- Mở rộng lĩnh vực đầu tư và hợp tác kinh doanh khi có điều kiện thích hợp
nhằm tăng doanh thu và tối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông.
Với chiến lược phát triển lâu dài, công ty không ngừng đào tạo phát triển
nguồn nhân lực, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ tăng sức cạnh tranh trước
yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
Tuy nhiên để có thể tiếp tục phát triển và hoàn thành các mục tiêu đề ra cần
phải có một cái nhìn khái quát phản ánh thực trạng và cũng như chỉ ra các định
hướng, giải pháp giúp Công ty Cổ phần Cảng Cát Lái ngày một phát triển. Chính vì
vậy tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai
thác cảng tại Công ty Cổ phần Cảng Cát Lái” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
Hy vọng dưới góc nhìn của một sinh viên và kinh nghiệm công tác sẽ đóng góp một
phần nào đó vào hiệu quả sản xuất kinh doanh, khai thác cảng của Công ty Cổ phần
Cảng Cát Lái góp phần phát triển đất nước.
2. Mục đích đề tài
+ Nghiên cứu, tổng hợp cơ sở lý luận về khai thác cảng.
+ Đánh giá thực trạng hiệu quả khai thác cảng tại Công ty Cổ phần Cảng Cát
Lái giai đoạn 2011 đến 2013 trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm cải thiện và
nâng cao hiệu quả khai thác cảng tại Công ty Cổ phần Cát Lái đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Tìm hiểu về hiệu quả khai thác cảng.
+ Phạm vi: Nghiên cứu hiệu quả khai thác cảng tại Công ty Cổ phần Cảng
Cát Lái giai đoạn 2011-2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão,
vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng để xây dựng luồng cảng biển và các
công trình phụ trợ khác.
Luồng cảng biển là phần giới hạn vùng nước từ biển vào cảng được xác định
bởi hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình phụ trợ, để bảo đảm cho tàu biển
và các phương tiện thủy khác ra vào bến cảng an toàn.
Theo quan niệm hiện đại: Cảng không phải là điểm đầu hoặc kết thúc của
quá trình vận tải mà là điểm luân chuyển hàng hóa và hành khách. Nói cách khác
cảng như là một mắt xích trong dây chuyền vận tải.
1.1.2. Phân loại về Cảng biển
* Theo một số tài liệu quốc tế, hiện nay các cảng biển trên thế giới được
phân chia thành các loại như sau:
- Cảng du lịch:
+ Cảng du lịch (Cruise home port): cảng biển nơi tàu chở hành khách bắt đầu
chuyến đi và cho hành khách xuống tại cuối cuộc hành trình. Loại cảng này cũng
đồng thời là nơi tàu chở khách nạp nhiên liệu và các loại sản phẩm cho chuyến đi
gồm có nước sạch, hoa quả, rau củ,… Cruise home port rất đông đúc vào các ngày
6
mà tàu dừng tại cảng do các hành khách đưa hành lý lên và xuống tàu cũng như các
nguyên liệu được đưa lên tàu. Hiện nay, Cruise home port lớn nhất thế giới là cảng
Miami, Florida, USA, theo sau đó là cảng Everglades, Florida và cảng San Juan,
Puerto Rico.
+ Cảng dừng (Port of call): Là nơi tàu dừng lại trong hành trình. Tại những
cảng này, một tàu hàng có thể lấy thêm nguyên nhiên liệu, cũng như bốc dỡ hàng,
nhưng đối với tàu khách, đây là điểm dừng chân định sẵn để hành khách thưởng
thức kỳ nghỉ.
- Cảng hàng hóa (Cargo port): Cảng biển dành cho tàu chở hàng với rất nhiều
gọi là cảng nước sâu, Cảng loại B, Cảng loại C.
Cảng chuyên dụng: Là các cảng giao nhận chủ yếu một loại hàng hóa (xi
măng, than, xăng dầu…) phục vụ cho đối tượng riêng biệt (cung cấp nguyên liệu,
phân phối sản phẩm của nhà máy hoặc các khu công nghiệp dịch vụ sữa chữa tàu
thuyền …), bao gồm cảng chuyên dụng hàng rời, cảng chuyên dụng dầu, cảng
chuyên dụng công nghiệp.
Cảng chuyển tàu quốc tế: Là những cảng chuyên làm nhiệm vụ chuyển tàu
hoặc trung chuyển hàng quốc tế và một phần nhỏ lượng hàng giao nhận nội địa.
- Phân theo quy mô và mức độ quan trọng:
Cảng biển loại I là cảng biển đặc biệt quan trọng có quy mô lớn, phục vụ cho
việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc bản vùng.
Cảng biển loại II là cảng biển quan trọng, có quy mô vừa, phục vụ cho việc
phát triển kinh tế - xã hội của vùng và địa phương.
Cảng biển loại III là cảng biển có quy mô nhỏ, phục vụ cho hoạt động của
doanh nghiệp.
1.1.3. Ý nghĩa và vai trò của Cảng biển
Trong các phương thức vận tải, vận tải đường biển chiếm vai trò chủ đạo.
Hàng năm, hơn 80% hàng hóa trên thế giới được vẩn chuyển bằng đường biển.
Cảng biển là đầu mối quốc gia quan trọng, nối liền các khu vực của quốc gia và nối
quốc gia đó với thế giới bên ngoài. Do đó, cảng biển đóng vai trò quan trọng trong
lưu thông hàng hóa, hành khách giữa các khu vực trong nội địa của một quốc gia và
giữa quốc gia đó với các quốc gia khác trên thế giới.
8
Tăng trưởng kinh tế liên quan với buôn bán, cụ thể là ngoại thương, trong
khi chính buôn bán lại tạo ra tăng trưởng. Hay nói cách khác, buôn bán quốc tế
đồng thời là nguyên nhân và kết quả của tăng trưởng kinh tế và sự buôn bán không
thể xảy ra nếu không có vận tải đường biển. Do vậy, vận chuyển có hiệu quả với chi
được phát triển trong 50 năm qua có thể kể đến như Marseilles, Dubai, Colon,
Norfolk, Rotterdam, Yokohama,… Ví dụ như các cảng lớn ở châu Âu xác định mục
tiêu sắp xếp vị trí và phát triển đồng thời các ngành công nghiệp dược phẩm và tinh
luyện được đánh giá là khá thành công. Như cụm công nghiệp lớn gồm năm công ty
tinh luyện và nhiều công ty dược được đặt tại cảng Rotterdams là kết quả của mối
liên hệ nội địa với khí đốt cùng với dầu được tìm thấy tại Biển Bắc. Một ví dụ khác
là phát triển cụm công nghiệp tại cảng Colombo, cụm công nghiệp hàng hóa thời
trang may mặc được phát triển quanh Colombo, tập trung vào dịch vụ container vận
chuyển ngắn để phục vụ các đơn mua hàng yêu cầu đúng giờ. Sự phát triển này
hoàn toàn được tạo nên do định hướng thương mại và không phải là kết quả trực
tiếp của chính sách công cộng.
Bên cạnh đó, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong lưu thông, một khâu
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cảng biển còn liên quan đến nhiều lĩnh vực
khác như buôn bán, giao dịch, đại lý, môi giới, bảo hiểm, luật pháp, tài chính, ngân
hàng, du lịch …Những hoạt động này mang lại nguồn lợi đáng kể cho các quốc gia
có biển. Cảng biển tạo cơ sở cho các hoạt động dịch vụ, cho chính cảng biển và
hàng loạt các ngành khác.
Ngoài ra cũng không thể không đề cập tới ý nghĩa và vai trò của cảng biển
tới thành phố của chúng. Cảng và thành phố chưa cảng tương tác với nhau qua
nhiều mặt: kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa. Vận tải hội nhập - sự chuyển
giao hàng hóa và thiết bị từ đất liền tới hệ thống đường thủy - là một chức năng
thuộc về bản chất của cảng, nhưng nó không diễn ra một cách cô lập. Một nút cảng
biển trong hệ thống vận tải đa chức nằng thường đi liền với sự phát triển của một
trung tâm đô thị và tạo ra số lượng đáng kể các việc làm, hoạt động công nghiệp,
phát triển quốc gia và khu vực. Lợi ích của cảng biển mở rộng ra ngoài giao thông
và vận tải khu vực do kết nối nội địa, về cả phương diện quốc gia cũng như quốc tế,
dựa vào liên kết giữa đường bộ, đường sắt và đường thủy.
10
11
Ngoài ra xét trên các khía cạnh khác cảng biển còn có các chức năng sau:
- Chức năng vận tải: Cảng biển là một mắt xích quốc gia và quốc tế, là nơi
các dịch vụ xếp dỡ, bảo quản, đóng gói, giao nhận hàng hóa và phục vụ cho các
phương tiện vận tải đến cảng, được thể hiện bằng khối lượng hàng hóa thông qua
cảng và xếp dỡ của cảng,
- Chức năng thương mại: Chức năng thương mại của cảng biển là đưa đến
các ký kết hợp đồng trong mua bán. Cảng là nơi diễn ra việc thực hiện các hợp
đồng, các hợp đồng đại lý, đóng gói, cung ứng và các dịch vụ khác cho tàu và
phương tiện đến cảng. Đặc biệt là cảng vận chuyển container.
- Chức năng công nghiệp: Cảng tạo điều kiện cho việc định cư các xí nghiệp
công nghiệp. Trong nội bộ cảng cũng thực hiện nhiều công việc có tính chất công
nghiệp như xưởng gia công chế biến, sản xuất và bao gói, cảng sửa chữa…
- Xây dựng thành phố và địa phương: Cảng là một đơn vị có trách nhiệm
đóng góp và ngân quỹ địa phương; Cảng tạo ra một cơ cấu kinh tế đa dạng cho
thành phố cảng; Cảng tạo công ăn việc làm cho dân trong thành phố cảng.
Theo quan điểm về tầm quan trọng chiến lược của đất, quyền sở hữu của
cảng hiếm khi được bán cho các tổ chức tư nhân do điều đó có ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp đến khu vực và thường là cả kinh tế quôc gia cũng như phúc lợi công
cộng. Do vậy, vai trò quan trọng của nhiều nhà quản lý cảng là chịu trách nhiệm
quản lý bất động sản trong phạm vi cảng. Việc quản lý bao gồm khai thác kinh tế,
phát triển dài hạn và bảo trì các cơ sở hạ tầng cơ bản như luồng, bến cảng, đường
vào, kênh …
Cảng vụ thường có quyền hạn rộng quy liên quan đến cả hai hoạt động cảng
và vận chuyển, có trách nhiệm áp dụng các quy ước, luật pháp, quy tắc, và quy
định, như là một cơ quan có trách nhiệm thực hiện quy ước và pháp luật liên quan
đến an ninh, môi trường, định hướng và chăm sóc sức khỏe. Cảng vụ cũng đưa ra
chung mà nhiều cảng có ý định phát triển bao gồm bán tạp phẩm cho thuyển, sửa
chữa tàu, bảo dưỡng container, thẩm định hàng hải, yêu cầu kiểm tra bảo hiểm và
dịch vụ ngân hàng. Chức năng quảng bá cho cảng là một phần mở rộng hợp lý của
chức năng quy hoạch cảng. Cảng quảng bá nhằm giúp cho chính quyền cảng thu hút
khách hàng mới và cho ngành công nghiệp cảng nói chung thúc đẩy kinh doanh.
Đây là loại mở rộng thị trường khác với tiếp thị hướng về khách hàng nhằm thu hút
13
khách hàng và hàng hoá cụ thể cho thiết bị , dịch vụ cụ thể. Một loạt các chức năng
phụ trợ như lai dắt, hoa tiêu, bán các tạp phẩm cho tàu, phòng cháy chữa cháy, quản
lý đường ray, dịch vụ thông tin của cảng, các cơ quan vận chuyển hàng hóa trong
cộng đồng các cảng. Cảng lớn thường không cung cấp các dịch vụ này, ngoại trừ có
thể có hoa tiêu và lai dắt. Đối với các cảng nhỏ hơn, chúng là một phần của hoạt
động quản lý cảng do hạn chế về cơ sở giao thông.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác cảng biển
1.2.1. Các chỉ tiêu về sản lượng
1.2.1.1. Sản lượng thông qua
Vận tải đường biển đóng vai trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hoá
ngoại thương của mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây, do chính sách mở cửa
của Nhà nước và tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế quốc dân nên lượng hàng
hoá thông qua các cảng biển Việt Nam đã không ngừng tăng lên. Chỉ tính riêng từ
năm 1999 đến năm 2004, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua cảng biển Việt
Nam đã tăng từ khoảng 17.425 nghìn tấn (năm 1999), lên khoảng 21.900 nghìn tấn
(năm 2000), và 127,7 triệu tấn (năm 2004). Số lượt tàu biển cập các cảng để bốc dỡ
hàng hoá cũng nhiều hơn. Tuy nhiên vị trí cảng, chất lượng phương tiện và thiết bị
cũng như cách bố trí mặt bằng sản xuất trong cảng và hệ thống giao thông vận tải sau
cảng là những yếu tố làm ảnh hưởng đến thời gian tàu đỗ tại cảng, năng suất xếp dỡ,
khả năng thu hút tàu biển vào làm hàng tại cảng. Do đó lượng hàng hóa thông qua hệ
Sản lượng xếp dỡ là khối lượng hàng hóa được dich chuyển hoàn thành theo
một phương án xếp dỡ nào đó. Điều này có nghĩa là: Tổng sản lượng xếp dỡ của
cảng bằng tổng khối lượng hàng hóa xếp dỡ theo các phương án. Có nghĩa là khối
lượng hàng được chuyển theo các quá trình xếp dỡ, nó không phụ thuộc vào cự ly
vận chuyển hàng, phương pháp xếp dỡ và các công việc phụ khác.
∑QXD = QXD1 + QXD2 +.................+ QXDi
(T)
- Các phương án xếp dỡ xếp dỡ ở cảng bao gồm:
+ Phương án chuyển hàng trực tiếp từ tàu sang ô tô, toa xe (và ngược lại),
gọi là phương án chuyển thẳng.
+ Phương án chuyển hàng trực tiếp từ tàu sang sà lan, gọ là phương án sang
mạn (thực chất cũng là phương án chuyển thẳng).
15
+ Phương án chuyển hàng từ tàu lên kho bãi (và ngược lại), gọi là phương án
lưu kho.
+ Phương án chuyển hàng từ kho bãi lên ô tô, toa xe và ngược lại, gọi là
phương án giao nhận hàng tại kho bãi.
+ Phương án chuyển hàng từ kho bãi này sang kho bãi khác, gọi là phương
án dịch chuyển nội bộ
- Quá trình xếp dỡ (phương án xếp dỡ) là quá trình chuyển hoàn toàn một tấn
hàng từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác, từ phương tiện vận
tải vào kho hoặc ngược lại và cả những công việc tự chuyển hàng trong kho, trong
cảng đều được thực hiện theo kế hoạch đã vạch sẵn.
- Phương án chuyển thẳng là phương án mà trong đó hàng được chuyển từ
phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác mà không qua kho, nó là
Tổng số tấn (Container) xếp dỡ của tàu
N1 =
Tổng số giờ tàu ở cảng
Tổng số tấn (Container) xếp dỡ của tàu
N1 =
Thời gian chờ đợi + Thời gian dịch vụ + Thời gian xếp dỡ
- Năng suất tính theo thời gian tàu ở bến
Tổng số tấn (Container) xếp dỡ của tàu
N2 =
Tổng số giờ tàu ở bến
Tổng số tấn (Container) xếp dỡ của tàu
N2 =
Thời gian dịch vụ + Thời gian xếp dỡ
- Năng suất tính theo thời gian xếp dỡ:
Tổng số tấn (Container) xếp dỡ của tàu
N3 =
Thời gian xếp dỡ
17
Trong đó các yếu tố liên quan được tính như sau:
- Thời gian chờ đợi bao gồm thời gian thủ tục cho tàu nhập cảnh, thời gian
chờ kế hoạch cập bến, chờ thời tiết... muốn rút ngắn thời gian chờ đợi đòi hỏi đại lý
tàu cần cung cấp thông tin tàu kịp thời, đầy đủ; sự mẫn cán của đại lý viên; qui trình
giãi quyết thủ tục cho tàu cần đơn giản, nhanh chóng; bộ phận điều hành khai thác
phải có giải pháp tốt để giải quyết các yêu cầu phát sinh nhằm thực hiện đúng kế
hoạch, hạn chế việc điều chỉnh kế hoạch đã được xác lập.
Bằng tổng số tấn hàng hóa thông qua trên tổng thời gian tàu tại cảng. Lưu ý
là: Đứng trên quan điểm điều hành cảng thì thời gian tàu tại cảng bao gồm cả
khoảng thời gian tàu nằm ở vũng để chờ cập cầu.
1.2.2.4. Năng suất hàng hóa
Bằng tổng số tấn hàng hóa thông qua trên tổng thời gian tàu làm hàng.
1.2.2.5. Năng suất thông qua của 1m cầu tàu
Bằng tổng số tấn hàng hóa thông qua cảng trong 1 năm chia cho tổng chiều
dài cầu tàu.
1.2.2.6. Năng suất thông qua của 1 đơn vị diện tích kho bãi
Bằng tổng số tấn hàng hóa thông qua cảng trong 1 năm chia cho tổng diện
tích kho bãi.
1.2.3. Các chỉ tiêu về khai thác cảng khác
1.2.3.1. Hệ số sử dụng của cầu tàu
Hệ số làm việc của cầu tàu (còn gọi là hệ số sử dụng cầu tàu) được xác định
dựa vào các số liệu thực tế và tùy loại cầu cảng.
Những cảng chỉ cho phép tiếp nhận duy nhất 1 tàu tại 1 thời điểm (như cảng
cho tàu dầu, tàu ro - ro, tàu khách) thì việc xác định hệ số làm việc của cầu tàu
không có gì phức tạp. Điều này không quan trọng ngay cả khi tàu có chiều dài vượt
quá cầu tàu và ngược lại. Người ta chỉ việc lấy tổng thời gian tàu đậu tại cầu chia
cho tổng thời gian có khả năng tiếp nhận tàu của cầu tàu:
Trong trường hợpTổng
khôngthời
bị hạn
điều
nhiên
thì các cầu tàu
gianchế
đậuvề
của
tàukiện
cả khi cầu tàu đã được sử dụng hết khả năng về mặt thời gian tiếp nhận.
1.2.3.2. Khả năng thông qua của kho, bãi
- Khái niệm kho bãi:
Kho bãi được xem xét dưới hai góc độ:
+ Góc độ kỹ thuật: Kho bãi là những công trình, dùng để dự trữ, bảo quản
các loại vật tư, hàng hóa cho các quá trình sản xuất, lưu thông một cách liên tục,
bao gồm: Nhà kho, sân bãi, các thiết bị…
+ Góc độ kinh tế - Xã hội: Kho bãi là một đơn vị kinh tế có chức năng và
20
nhiệm vụ dự trữ, bảo quản, giao nhận vật tư, hàng hóa phục vụ cho sản xuất, lưu
thông, bao gồm đầy đủ các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh doanh (cơ sở vật
chất, kỹ thuật, lao động, các yếu tố môi trường hoạt động khác).
- Vai trò của kho bãi: Kho bãi là nơi cất giữ , bảo quản trung chuyển hàng
hóa và có những vai trò quan trọng như sau:
+ Giúp cho các tổ chức tiết kiệm được chi phí vận tải: Nhờ có kho bãi các tổ
chức có thể gom nhiều lô hàng nhỏ thành một lô hàng lớn để vận chuyển.
+ Tiết kiệm chi phí trong sản xuất: Kho giúp bảo quản tốt nguyên vật liệu,
bán thành phẩm, thành phẩm, giảm bớt hao hụt, mất mát, hư hỏng, giúp cung cấp
nguyên vật liệu đúng lúc, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất tiến hành liên tục,
nhịp nhàng…
+ Giúp vượt qua những khác biệt về không gian và thời gian giưa người sản
xuất và người tiêu dùng.
+ Cung cấp cho khách hàng những sản phẩm đồng bộ, chứ không phải là
những sản phẩm đơn lẻ, giúp phục vụ tốt hơn những nhu cầu của khách hàng.
- Để đánh giá khả năng hoạt động hiệu quả của một cảng không đơn thuần
chỉ đánh giá xem tổng khối lượng hàng hóa hay số tàu qua cảng là bao nhiêu mà
khả năng chứa hàng, kho bãi của cảng cũng là một chỉ tiêu quan trọng. Bởi hàng
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng chi phí
=
Tổng chi phí trong kỳ
- Hiệu quả sử dụng giá vốn hàng bán
Tổng doanh thu trong kỳ
Hiệu suất sử dụng
giá vốn hàng bán
=
Tổng giá vốn hàng bán
22
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng giá vốn hàng bán bỏ vào sản xuất kinh doanh
trong kỳ thì thu đựơc bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu suất này càng cao càng tốt và
ngược lại.
Lợi nhuận sau thuế
Hiệu quả sử dụng
giá vốn hàng bán
=
Tổng giá vốn hàng bán
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng giá vốn hàng bán bỏ vào sản xuất kinh doanh
trong kỳ thì thu đựơc bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu suất này càng cao càng tốt và
ngược lại.
Lợi nhuận sau thuế
Hiệu
quả
sử
dụng
chi
phí
tài
chính
=
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng chi phí tài chính bỏ vào sản xuất kinh doanh
Tổng chi phí tài chính
thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
- Hiệu quả sử dụng chi phí khác
Tổng doanh thu trong kỳ
Hiệu suất sử dụng chi phí khác =
Tổng chi phí khác trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng chi phí khác bỏ vào hoạt động sản xuất kinh
doanh thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sử
dụng yếu tố đầu vào thông qua kết quả càng cao càng tốt.
Lợi nhuận sau thuế
Hiệu quả sử dụng chi phí khác =
Tổng chi phí khác trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng chi phí khác bỏ vào sản xuất kinh doanh thì
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
1.2.4.2. Hiệu quả vốn đầu tư đã sử dụng
được trong việc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cảng trong một thời kỳ
xác định.
Doanh thu mà công ty cung cấp dịch vụ trong cảng cho khách hàng bao gồm
các hoạt động sau:
+ Bốc xếp tại cầu cảng: Doanh thu được dựa trên sản lượng thực tế đã bốc
xếp container qua cầu cảng cho tàu và sà lan.
25
+ Vận chuyển bốc xếp trong cảng: Doanh thu được dựa trên sản lượng thực
tế đã bốc xếp container trên đường bộ.
+ Lưu bãi: Doanh thu lưu bãi dựa vào ngày lưu container của các khách hàng
và lượng hàng lưu bãi dài hạn ký kết giữa cảng và khách hàng.
+ Giao nhận hàng hóa.
+ Dịch vụ cầu bến: Doanh thu này phụ thuộc nhiều vào kích thước, tổng tải
trọng và số giờ câp cảng của tàu
+ Doanh thu khác trong cảng.
- Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng các khoản thu với tổng các khoản
chi. Khi hiệu số này mang dấu dương thì DN có lãi, mang dấu âm thì DN bị lỗ.
LN = ∑ D − ∑ C
- Doanh lợi tiêu thụ
LNST(LNTT)
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
Doanh thu (thuần)
Đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, cho biết trong 1 đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có