I. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. So sánh là một thao tác tư duy rất cơ bản. Trong cuộc sống, khi ta tư duy, ta đã dùng
đến thao tác này rất thường xuyên như một phần tất yếu. Văn học cũng là một lĩnh vực của
tư duy, của nhận thức, mang tính đặc thù, cho nên việc sử dụng thao tác so sánh trong sáng
tác và nghiên cứu văn học là một điều hết sức tự nhiên. Từ khi có văn học, nhất là văn học
viết đến nay, các nhà nghiên cứu đã có ý thức so sánh khi tìm hiểu văn chương, đặc biệt là
khi có những hiện tượng song hành trong văn học. Có thể nhắc đến những hiện tượng song
hành tiêu biểu trong văn học Việt Nam: Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du và
Nguyễn Đình Chiểu,Cung Oán Ngâm và Chinh Phụ Ngâm,… So sánh các hiện tượng văn
chương trở thành một phương pháp nghiên cứu văn chương. Ở đây tôi không nhắc tới so
sánh văn học như một bộ môn khoa học mà được hiểu như một kiểu bài nghị luận văn học,
một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận.
2. Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau. Thứ
nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn” . Thứ hai, nó
được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luận như: phân tích, bác bỏ, bình
luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11. Thứ ba, nó được xem như “một phương
pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận”, tức là như một kiểu bài nghị luận bên
cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác
phẩm văn xuôi… ở sách giáo khoa Ngữ văn 12. Ở đề tài này chúng ta nghiên cứu vấn đề ở
góc nhìn thứ ba.
3. So sánh là phương pháp nhâân thức trong đó đăât sự vâât này bên cạnh môât hay
nhiều sự vâât khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vâât môât cách toàn diêân, kỹ lưỡng, rõ
nét và sâu sắc hơn. Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học lại chưa
được cụ thể bằng một bài học độc lập, chưa xuất hiện trong chương trình sách giáo khoa. Vì
vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài
cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết song lại gặp không ít khó khăn.
4. Kiểu bài viết so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiều bình
diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuật
trần thuật… Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả, nhưng
cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại,
giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học.
“Có biết bao người con gái, con trai
...Để đất nước này là Đất Nước nhân dân”
(trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm)
+ Năm học 2011-2012: Đề ra cảm nhận về hai đoạn văn trong bài Vợ nhặt của Kim Lân
và Vợ chồng APhủ của Tô Hoài
+ Năm học 2012-2013: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
“Những đường Việt Bắc của ta
.....Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng” (Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
“Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
.....Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
+ Năm học 2013-2014: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trong bài Tràng giang(Huy
Cận) và bài Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử)
- Đề thi đại học, cao đẳng của Bộ giáo dục:
+ Đề thi tuyển sinh đại học năm 2009, khối D (câu 3a) như sau:
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt - Kim Lân)
và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu).
+ Đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
“Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình,..... lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở
một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”
(Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao)
“Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, ..... .....“sớm
xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả”
(Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12 Nâng cao)
+ Đề thi Tuyển sinh đại học khối D (câu 3b) năm 2010: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát
cháo hành” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm
nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
+ Đề thi Tuyển sinh đại học khối D năm 2012: Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc
bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng
người lại qua…
đề tài nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng khi đứng trước đề bài so sánh văn học, còn
không ít thầy cô thì băn khoăn về phương pháp làm bài. Đứng trước thực trạng đó, bằng kinh
nghiệm của bản thân qua những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề đại học
cũng như trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất cách làm dạng đề so sánh này.
III. ĐỀ XUẤT CÁCH LÀM DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN HỌC
1.Xác định các loại đề so sánh văn học thường gặp
Thực tế cho thấy dạng bài so sánh văn học có rất nhiều loại nhỏ. Bằng sự trải
nghiệm của bản thân và dựa vào tổng kết các đề thi của những năm gần đây, tôi thống kê và
khái quát lại thành những cấp bââc đề so sánh văn học cơ bản và đưa ra một vài ví dụ mang
tính chất minh họa cho mỗi loại nhỏ:
- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học:
Ví dụ 1: Đề khối D 2010: So sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hôâ
và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà nhân vật
Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn 11) và chi tiết
“Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong đêm tình mùa
xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12)
- So sánh hai đoạn thơ
Ví dụ 1: Đề khối C 2008 (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: Tây Tiến của Quang Dũng vàTiếng
hát con tàu của Chế Lan Viên
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11,
Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm
Đề thi đại học khối C năm 2013 cũng có thể xem là một dạng của so sánh: Về hình tượng
người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng: người lính ở đây có
dáng dấp của tráng sĩ thuở trước; ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang
đậm vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp.Từ cảm nhận của mình về hình
tượng này, anh chị hãy bình luận những ý kiến trên.
Đề thi đại học 2013 yêu cầu người viết hiểu đúng, hiểu sâu nhưng quan trọng là tự bày tỏ
hiểu biết tùy theo năng lực nhận thức, không lệ thuộc tài liệu hay bài giảng của thầy cô. Đáp
án chấp nhận cả quan điểm khác hướng dẫn chấm nhằm khuyến khích thí sinh mạnh dạn
viết về vấn đề với cảm nhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau, trình độ khác nhau. Vấn đề quan
trọng quyết định đánh giá chất lượng bài thi văn lại chính là kỹ năng phân tích, so sánh, bình
luận làm rõ vấn đề của học sinh.
2. Các cách làm bài dạng đề so sánh văn học
- Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyết vấn đề, song
đối với kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết , hai đoạn thơ, hai đoạnh
văn, hay hai nhân vật .... phương pháp làm bài văn dạng này thông thường có hai cách:
Nối tiếp : Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau
Song song : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tích từng
luận điểm kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa.
* Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp. Đây là cách làm bài phổ biến của học sinh khi tiếp
cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướng trong đáp án đề
thi đại học - cao đẳng. Bước một lần lượt phân tích từng đối tượng so sánh cả về phương
diện nội dung và nghệ thuật, sau đó chỉ ra điểm giống và khác nhau. Cách này học sinh dễ
dàng triển khai các luận điểm trong bài viết. Bài viết rõ ràng, không rối kiến thức nhưng cũng
có cái khó là đến phần nhận xét điểm giống và khác nhau học sinh không thành thạo kĩ năng,
nắm chắc kiến thức sẽ viết lặp lại những gì đã phân tích ở trên hoặc suy diễn một cách tùy
tiện. Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài:
- Điểm giống nhau
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm .....
- Điểm khác nhau
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)
+ Luận điểm .....
Kết bài
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
* Hai cách làm bài của kiểu đề so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt
mạnh, mặt yếu khác nhau. Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng
theo đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên. Phải tùy thuộc vào cách hỏi trong
mỗi đề cụ thể mà ta áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linh hoạt, phù hợp. Cũng có
khi vận dụng đầy đủ các ý của phần thân bài, cũng có khi phải cắt bỏ một phần cho hợp với
yêu cầu trọng tâm của đề, hay dụng ý của người viết.
3. Hướng dẫn thực nghiệm
Để minh họa cho các bước làm một đề so sánh văn học tôi đưa ra hai ví dụ để ứng
dụng. Ví dụ 1 sẽ được làm theo cách làm bài số 1 – Phân tích nối tiếp; ví dụ 2 sẽ được làm
theo cách làm bài số 2 – Phân tích song song. Hai ví dụ được vận dụng xuyên xuốt trong
phần thực nghiệm để chúng ta kiểm chứng lại lí thuyết về cách làm bài và tiện đối chiếu mặt
mạnh, mặt yếu của từng cách làm.
* Ví dụ 1: Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của
Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
* Ví dụ 2: Hình tượng người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp qua hai bài
thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu.
3.1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
Ví dụ 2: Hình tượng người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp qua hai bài thơ Tây
Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu.
Giáo viên cần xác định cho học sinh đây là dạng hỏi không có định hướng hay nói
một cách khác là một dạng của đề mở. Với đề bài này người viết tự tìm ra luận điểm sao cho
phù hợp, dù luận điểm xác định như nào thì nhất thiết người đọc cũng phải thấy được nét
tương đồng và khác biệt trong hai tác phẩm. Đề này có thể thấy điểm giống nhau trên các
bình diện: thời đại, hình tượng, lí tưởng...điểm khác nhau về bút pháp, nguồn gốc xuất thân...
3.2. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết
- Trước một đề văn, phân tích tìm hiểu đề cho kĩ càng đã khó, xây dựng được một
dàn ý cho tương đối hoàn chỉnh và đúng đắn lại càng khó hơn. Bởi trước một vấn đề của văn
chương không ít cách tiếp cận. Trước một câu hỏi văn chương ít khi có một lời đáp duy nhất,
nhất là các dạng đề mở. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là trước một đề văn ai nói gì
thì nói mà ta cũng phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Một bài văn làm theo hình
thức tự luận thì bất kì đề thi thuộc kiểu, dạng gì cũng thường có đủ ba phần: Đặt vấn đề (mở
bài), giải quyết vấn đề (thân bài), kết thúc vấn đề(kết bài).
- Nội dung tiếp theo của SKKN tôi sẽ giới thiệu cách làm ba phần trong một bài viết,
có dàn ý chi tiết minh họa cho hai cách làm bài như đã trình bày ở trên. Còn bài viết chi tiết
tôi sẽ minh chứng bằng bài viết của học sinh ở phần Phụ lục của SKKN
3.2.1.Đặt vấn đề
- Không phải không có lí khi có ý kiến cho rằng: văn hay chỉ cần đọc mở bài. Tất nhiên nếu
chỉ đọc mở bài thì không thể đánh giá được toàn bộ bài văn. Nhưng mở bài có tầm quan
trọng thực sự đối với bài viết. Người ta thường nói “Vạn sự khởi đầu nan”. Khi viết văn có
được một mở bài hay, tự nhiên “dòng văn” như được khơi chảy, tuôn trào. Mở bài lúng túng,
trục trặc sẽ khiến bài văn thiếu sinh khí, văn phong không liền mạch, ý tứ sẽ trở nên rời rạc.
- Đối với dạng đề so sánh văn học, học sinh càng lúng túng hơn khi viết mở bài vì liên qua
tới hai tác giả, hai tác phẩm. Qua thực tế chấm bài của học sinh làm tôi thấy nhiều học sinh
mở bài so sánh chưa đúng nguyên tắc. Các em thường mắc phải lỗi giới thiệu tuần tự hai tác
giả, hai tác phẩm một cách rời rạc khiến người chấm có cảm giác như có hai mở bài. Vì vậy
dạy đề văn dạng này giáo viên cần lưu ý cho học sinh cách mở bài:
tưởng và cảm hứng nghê ă thuâ ăt.....
+ Sau đó cần nhâân xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khác nhau. Bước này đòi hỏi học
sinh cần có sự quan sát tinh tường, phát hiêân chính xác và diễn đạt thâât nổi bâât, rõ nét, tránh
nói chung chung, mơ hồ.
Khi nhận xét về điểm giống và khác nhau, giáo viên cũng cần định hướng cho các em tìm
trên các bình diện để so sánh như :
-> Thời đại, hoàn cảnh ra đời
-> Đề tài, chủ đề
-> Phong cách sáng tác
-> Nội dung tư tưởng
-> Đặc sắc nghệ thuật
->Vị trí đóng góp của tác phẩm, tác giả.....
Nếu các em đối chiếu hai đối tượng (văn bản) được so sánh trên các bình diện trên để khái
quát vấn đề chắc chắn các em sẽ tìm thấy điểm giống và khác nhau. Vì người ra đề thi dạng
so sánh thường dựa trên những vấn đề có liên quan tới nhau để ra đề.
+ Cuối cùng là đánh giá, nhâân xét và lí giải nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó.
Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn chắc chắn và bản lĩnh vững vàng cùng những hiểu biết
sâu sắc ngoài văn bản để tránh những suy diễn tùy tiêân, chủ quan, thiếu sức thuyết phục.
Đây là một luận điểm khó nhất trong bài viết nên không nhất thiết đề thi nào cũng yêu cầu
học sinh phải làm được, mà chỉ là khuyến khích học sinh tìm ra để thưởng điểm. Vì vậy giáo
viên cũng không nên quá nặng nề khi đạt ra yêu cầu thực hiện ở học sinh. Thực tế cho thấy
đa phần đáp án đề thi đại học, cao đẳng, đề thi học sinh giỏi những năm qua cũng không bắt
buộc phải có ý này.
* Ví dụ 1:
- Phân tích đối tượng so sánh 1: Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tốitrong
truyện ngắn Hai đứa trẻ
+ Bóng tối: Dày đặc, bao trùm cả phố huyện và được lặp đi, lặp lại nhiều lần: Một đêm mùa
hạ êm như nhung; đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối; tối hết cả con
đối lập mà văn học lãng mạn hay sử dụng nhằm tạo tình huống truyện. Đây là các chi tiết nhỏ
nhưng góp phần chuyển tải nội dung tư tưởng, chủ đề tác phẩm
+Ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm tác phẩm vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý
nghĩa biểu tượng cao. Bóng tối tượng trưng cho cái xấu, còn ánh sáng tượng trưng cho cái
tốt.
+ Điểm khác biệt
+ Sự tương phản gữa ánh sáng và bóng tối được xây dựng trên sự đối lập gay gắt, có sự
chuyển biến bất ngờ, đột ngột. Thủ pháp nghệ thuật này dẫn dắt tình huống truyện đi đến kết
thúc là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của chân lí, cái đẹp, cái thiên lương với
cái xấu cái ác. Qua đó nhà văn thể hiện rõ thái độ trân trọng cái Đẹp
+Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối không có sự chuyển biến bất ngờ. Ánh sáng của
phố huyện nhỏ bé, ánh sáng từ đoàn tàu qua nhanh nên ánh sáng chỉ càng làm cho bóng tối
trở nên dày đăc hơn, tô đậm thêm cái ngột ngạt, tăm tối của cuộc sống nơi đây. Qua đó nhà
văn bày tỏ lòng cảm thông đối với những con người nhỏ bé, đặc biệt là số phận trẻ thơ trong
xã hội cũ- những con người sống trong tăm tối nhưng không nguôi hướng về ngày mai tươi
sáng.
+Lí giải sự khác biệt
Cả hai nhà văn đều xuất hiện trong giai đoạn văn học 1930-1945, trong một xã hội đầy biến
động tuy nhiên phong cách sáng tác khác nhau
Nguyên Tuân: Đại biểu của dòng văn học lãng mạn, một nhà văn xuốt đời đi tìm cái
đẹp. Cảm hứng thẩm mĩ của ông thường hướng tới cái đẹp lớn lao, cái cao cả, những nhân
cách lớn.... vì thế sự tương phản giữa ánh sáng và bóng đối lập bất ngờ, cuối cùng ánh
sáng, cái Đẹp phải chiến thắng.
Thạch Lam: Là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn nhưng sáng tác của ông không theo
hướng lãng mạn mà tác phẩm có sự hòa trộn cả lãng mạn và hiện thực. Đặc biệt Thạch Lam
hay quan tâm đến những cái nhỏ bé, giản dị, đời thường, thế giới của trẻ thơ.... nên ánh
sáng và bóng tối không có sự chuyển biến bất ngờ, ánh sáng không hoàn toàn thắng thế.
* Ví dụ 2:
+ Luận điểm 3: Vẻ đẹp của tâm hồn:
Người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng nhưng cũng rất hào hoa (Mắt trừng gửi
mộng qua biên giới./Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm) Tâm hồn bay bổng trước vẻ đẹp của
thiên nhiên (Heo hút cồn mây súng ngửi trời). Một tâm hồn nghệ sĩ trong sinh hoạt tinh thần
(Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa; Kìa em xiêm áo tự bao giờ; Khèn lên man điệu nàng e ấp;
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ)
+ Vẻ đẹp tâm hồn của người lính trong Đồng chí lại được nhấn mạnh đến tình đồng chí đồng
đội giữa những người lính . Cơ sở làm nên tình cảm của họ là có chung một hoàn cảnh
nghèo khổ nên họ dễ đồng cảm, có chung một chí hướng (Đêm rét chung chăn thành đôi tri
kỷ), chung tấm lòng yêu quê hương đất nước... Chính tình đồng đội, đồng chí đó đã tạo nên
sức mạnh chiến đấu.
3.2.3 Kết thúc vấn đề
- Kết bài là khâu cuối cùng để hoàn thành bài viết. Trải qua khâu chấm thi chúng tôi
nhận thấy các em học sinh thường xem nhẹ kết bài. Với tâm lí “đầu xuôi thì đuôi khắc lọt”,
thêm vào đó một lí do sắp hết giờ nên chỉ cần có “đóng lại” bằng cách tóm lại một vài ý đã
trình bày ở trên là được. Đứng trước thực trạng đó nên giáo viên cần hướng dẫn cho học
sinh cách kết bài, nhất là cách kết bài của dạng đề so sánh vốn mang tính đặc thù riêng.
- Một kết bài đúng nguyên tắc, hay không chỉ ngắn gọn, khép lại những vấn đề đã
bàn luận ở trên mà học sinh có thể kết bài mở, kết bài phát triển, kết bài theo hướng nâng
cao, mở rộng để gợi ra nhiều suy nghĩ liên tưởng mới nơi người đọc
Ví dụ 1:
- Hai nhà văn, hai phong cách nhưng đều gặp nhau trong việc sử dụng thủ pháp đối lập giữa
ánh sáng và bóng tối để thể hiện những dụng ý nghệ thuật riêng.
- Đây là những chi tết nhỏ nhưng làm lên giá trị lớn....
Ví dụ 2:
- Hai hình tượng người lính này mang những vẻ đẹp khác nhau nhưng đã hoàn chỉnh bức
chân dung anh bộ đội Cụ Hồ trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Hình tượng người lính đã sống lại trong lòng người đọc về một thời khổ nhục nhưng vĩ đại
của dân tộc.
* Như chúng tôi đã trình bày, kiểu bài so sánh văn học có yêu cầu so sánh khá phong
+Nguyễn Du thương cho nàng Tiểu Thanh tài sắc mà Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên
hương
+Thanh Thảo cảm thương cho Lor-ca, người nghệ sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ đấu tranh cho tự do
nhưng số phận bi tráng
*Điểm khác biệt:
-Về nghệ thuật:
+ Nguyễn Du sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, hình ảnh thơ có tính chất ước lệ, tượng
trưng, lối đối chặt chẽ.
+ Thanh Thảo sử dụng thể thơ tự do, hình ảnh thơ chịu ảnh hưởng của bút pháp tượng
trưng, siêu thực, câu thơ giàu nhạc tính, miên man như một bản nhạc giao hưởng bởi cả bài
thơ không một dấu chấm câu.
- Nội dung:
+ Nguyễn Du từ thương người mà đến thương mình, tự nhận mình là người cùng hội cùng
thuyền với Tiểu Thanh và gửi lại niềm băn khoăn đến hậu thế.
+Thanh Thảo từ tình thương, sự cảm thông con người có số mệnh nghiệt ngã mà ngưỡng
mộ thiên tài, khẳng định sức sống bất diệt của tiếng đàn, của nghệ thuật.
- Lí giải sự khác biệt: Cội nguồn của sự khác biệt ấy là do đặc trưng của văn chương, do
phong cách nghệ thuật cũng như cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ khác nhau.
Đề 2: Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) và Ai đã đặt tên
cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Gợi ý
*Nét tương đồng:
- Cả hai nhà thơ đều lấy những địa danh nổi tiếng của xứ Huế (Vĩ Dạ và sông Hương) làm
điểm nhấn và khởi hứng cảm xúc.
- Cùng tái hiện được vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh sắc con người xứ Huế rất riêng, rất thơ
mộng. Có được điều đó chứng tỏ mảnh đất, con người Huế đã chiếm chỗ sâu bền nhất trong
lòng các tác giả.
- Cả hai đều là những cây bút tài hoa, tinh tế, nhạy cảm trong văn chương, có tâm hồn hết
Tập 2, NXB Giáo dục 2011)
Gợi ý
* Nét tương đồng:
- Hai bài thơ ra đời cùng thời (1938).
- Nhân vật trữ tình trong hai bài thơ đều là hình tượng cái tôi tác giả vì thế nó thể hiện đầy đủ
những nét độc đáo thế giới tinh thần của hai nhà thơ.
- Cái tôi trẻ trung giàu nhiệt huyết, tâm hồn sôi nổi, nồng nhiệt trong tình cảm cùng giọng
điệu lãng mạn.
- Đều hướng đến cuộc đời, con người bằng tình yêu chân thành, mãnh liệt và gửi vào đó
những lẽ sống đẹp.
* Sự khác biệt
- Khổ thơ của Tố Hữu :
+ Đối tượng hướng đến là tầng lớp quần chúng nhân dân cần lao.
+Thái độ tha thiết gắn bó bằng một trái tim tự nguyện
+Mục đích chia sẻ, đồng cảm giữa cá nhân với cộng đồng tạo thành một khối đời vững chắc
-> Cái tôi tận hiến
-> Tố Hữu một người say mê lí tưởng, sẵn sàng dâng hiến nhiệt huyết tuổi trẻ cho lí tưởng
cộng sản. Bộc lộ mình là nhà thơ cách mạng
- Khổ thơ của Xuân Diệu
+ Đối tượng hướng đến là tất cả những gì thuộc về sự sống ở trần gian, ngay trong tầm tay
với.
+Thái độ khao khát giao cảm mãnh liệt.
+Mục đích: chiếm lĩnh và hưởng thụ trọn vẹn hương sắc của cuộc đời, vẻ đẹp của trần gian
-> Cái tôi tận hưởng
-> Xuân Diệu một tâm hồn nhạy cảm, giàu rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống trần gian.
Một cái tôi chân thành mãnh liệt trong cảm xúc, một cái tôi công khai bộc lộ khát vọng cá
nhân, bộc lộ mình là nhà thơ lãng mạn.
Đề 4: So sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đất
các bài kiểm tra thường xuyên và định kì về nghị luận văn học của học sinh, tôi đã kiểm tra
dạng đề so sánh văn học. Đồng thời tôi đã trao đổi với đồng nghiệp về cách làm bài dạng so
sánh, được các thầy cô ủng hộ và cũng nhân rộng ra các lớp, nhất là các lớp học chuyên đề
Văn. Sau ba năm ứng dụng và thống kê điều tra kết quả như sau:
Năm
Lớp
2009
11
12
11
12
11
12
2012
2013
Tổng số Khi chưa giới thiệu PP làm bài Sau khi giới thiệu PPlàm bài
HS điều Số chưa biết Số biết cách làmSố còn lúng Số đã biết cách
tra
cách làm bài bài
túng, chưa biết làm bài
cách làm bài
SL
%
SL
63.7
126
72
57.1
54
42,9
32
25.4
94
74.6
144
101 70.1
43
29.9
34
23.6
110 76.4
140
81
57.8
59
42.2
27
19.3
113 80.7
- Kết quả cho thấy trước khi chưa hướng dẫn phương pháp làm dạng đề so sánh
văn học, phần lớn học sinh tỏ ra không hiểu hoặc lúng túng khi viết bài. Nhiều học sinh không
biết tìm ra điểm giống và khác nhau trên những bình diện nào mà cứ viết lặp lại một vài ý ở
trên, thậm trí có học sinh chỉ đi vào phân tích hai đối tượng so sánh mà không có đoạn văn
1 Vàng, 1 Bạc, 1 Đồng
Kết quả đồng đội
(Xếp thứ)
Ba
Nhất
Nhì
Kết quả trên tôi đã thống kê trong 3 năm khi tôi chịu trách nhiệm hướng dẫn đội
tuyển HSG của nhà trường. Trong đó có một năm 2014 kì thi HSG cấp tỉnh tôi chỉ hỗ trợ dạy
đội tuyển hai mảng là dạng đề so sánh và vấn đề nghị luận xã hội trong một câu chuyện. Có
thể nói kết quả đội tuyển Văn những năm qua đã góp phần không nhỏ để trường THPT
Dương Quảng Hàm giữ vững được vị trí tốp đầu trong lĩnh vực mũi nhọn của tỉnh nhà.
- Kết quả học sinh thi đại học, cao đẳng
Ba năm học (2008-2009; 2009-2010; 2012-2013) tôi phụ trách ôn thi Đại học lớp
12B5, 12A1,12A8 . Kết quả thi Đại học của các lớp khối C và khối D cả ba năm đều vượt chỉ
tiêu điểm trung bình môn thi Văn nhà trường giao và được tuyên dương khen thưởng. Mỗi
năm đều có từ 5 đến 8 học sinh trong một lớp (37 đến 42 học sinh) đạt điểm thi đại học môn
Văn từ 8 điểm trở lên.
Điển hình một số em đạt điểm môn văn cao như:
Năm học 2008- 2009 em Nguyễn Thị Biển đạt 8,75 điểm thi Văn (Học viện hành chính quốc
gia)
Năm học 2009-2010 em Nguyễn Thị Oanh đạt 8,5 điểm thi văn (Đại học Ngoại ngữ)
Năm 2012-2013 em Hoàng Thị Cúc đạt 9,0 điểm thi Văn Đại học Lao động Xã hội; Nguyễn
Hạnh Nga đạt 8.5 điểm Đại học Ngoại thương.
Kết quả học sinh lớp đại trà, đặc biệt là kết quả học sinh giỏi, kết quả học sinh thi đại
học cũng góp phần làm cho tỉ lệ đỗ Đại học –cao đẳng của nhà trường phát triển, năm sau đỗ
cao hơn năm trước, Liên tục đứng trong tốp 200 trường có điểm thi Đại học, cao đẳng cao