Nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ ở khu vực Vườn Quốc gia Pù Mát nhằm đề xuất các giải pháp khai thác và phát triển bền vững (TT) - Pdf 34

a

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

ĐÀO THỊ MINH CHÂU

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ SINH HỌC
NGHIÊN CỨU LÂM SẢN NGOÀI GỖ Ở KHU VỰC VƯỜN
QUỐC GIA PÙ MÁT NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 62 42 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Minh Hợi
PGS.TS. Trần Huy Thái

Hà Nội – 2016


b

Luận án được hoàn thành tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật –
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Trần Minh Hợi
2. PGS. TS. Trần Huy Thái

mang lại thu nhập thường xuyên hơn cho người dân sống gần rừng.
Từ khi VQG Pù Mát được thành lập, gỗ và động vật hoang dã được quản lý
chặt chẽ hơn nên người dân địa phương tập trung vào khai thác LSNG, các loại cây
thuốc, song mây, mật ong, hương liệu,... bị khai thác ngày càng nhiều để bán cho
thương lái đưa sang Trung Quốc. Khai thác liên tục nhiều năm khiến LSNG trong
rừng ngày càng cạn kiệt. Đề tài “Nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ ở khu vực VQG Pù
Mát nhằm đề xuất các giải pháp khai thác và phát triển bền vững” được thực hiện
nhằm đánh giá tài nguyên LSNG và đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển
LSNG ở vùng miền Tây Nghệ An.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án
Nghiên cứu thành phần loài và giá trị của LSNG; hiện trạng khai thác, quản
lý LSNG ở VQG Pù Mát nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp cho bảo tồn, khai
thác và phát triển bền vững tài nguyên LSNG.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Ở vùng miền núi Tây Nghệ An nói chung và VQG Pù Mát nói riêng chưa có
nghiên cứu thống kê các loài LSNG theo 6 nhóm như tài liệu Lâm sản ngoài gỗ
Việt Nam; chưa có đánh giá các tác động của hoạt động khai thác, buôn bán và
quản lý lên tài nguyên LSNG; chưa thống kê các loài có giá trị, các loài nguy cấp,
các loài có khả năng phát triển,... để có kế hoạch bảo tồn và phát triển trong vùng
nghiên cứu. Nghiên cứu này sẽ thực hiện các nhiệm vụ trên để góp phần thực hiện
“Đề án phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An” đã được Chính phủ phê duyệt
tháng 12/2013 và "Đề án quốc gia về Bảo tồn và phát triển LSNG, giai đoạn 2006 2020".


2

Từ danh lục các loài LSNG, 3 loài trong họ Gừng (Zingiberacae) của VQG Pù
Mát được lựa chọn và lần đầu được nghiên cứu về thành phần hóa học của tinh dầu.
4. Những điểm mới của đề tài luận án


Phụ lục 4: Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình
Phụ lục 5: Bảng gợi ý phỏng vấn bán cấu trúc

3 trang
28 trang
5 trang
75 trang
2 trang
6 trang
2 trang
64 trang

10 trang
8 trang
3 trang
5 trang


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. 1. Khái niệm và phân loại Lâm sản ngoài gỗ
1.1.1. Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ
Hiện nay, trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về Lâm sản ngoài gỗ,
khái niệm này không chỉ thay đổi theo tác giả, tổ chức mà còn thay đổi theo thời
gian. Theo nhiều nhà khoa học và quản lý lâm nghiệp ở Việt Nam thì dù có nhiều
định nghĩa về LSNG, nhưng để phù hợp với các nước trong khu vực, Việt Nam nên
sử dụng định nghĩa LSNG đã được thống nhất trong hội nghị các chuyên gia về
LSNG của các nước vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Trong hội nghị này, khái

Trong cuốn LSNG Việt Nam xuất bản năm 2007, các tác giả đã chia các
LSNG thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi; Nhóm cây làm thực phẩm: Gồm rau, củ và
quả; Nhóm cây thuốc; Nhóm cây cho dầu và nhựa: bao gồm tinh dầu, dầu béo,
nhựa dầu và nhựa; Nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm; Nhóm cây cảnh, cây hoa và
cây bóng mát... Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối vì công dụng của lâm
sản luôn có sự thay đổi, một số sản phẩm có thể phân vào nhiều nhóm khác nhau
tuỳ nơi, tuỳ lúc, không cố định, và biến đổi theo địa phương.
1.2. Tình hình nghiên cứu về LSNG
1.2.1. Tình hình nghiên cứu LSNG trên thế giới
LSNG trên thế giới rất đa dạng và phong phú, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới,
nơi tập trung sự giàu có của hệ sinh thái, trong đó các nước Đông Nam Á đã nắm
giữ một phần năm diện tích rừng nhiệt đới của thế giới.
Việc nghiên cứu về LSNG đã và đang là vấn đề được quan tâm chú ý ở nhiều
nước trên thế giới, nhất là ở những nước có rừng nhiệt đới. Có khá nhiều công trình
khoa học nghiên cứu về LSNG từ rất sớm, như các công trình nghiên cứu của
Chopra, R. N. và cộng sự (1956) về thực vật làm thuốc ở Ấn Độ. Nghiên cứu của
W. L. Ackerman về Crataegus sp. hay của Akhtar Husain và các cộng sự về các
cây có chứa tinh dầu ở Ấn Độ. Giai đoạn1990s cũng đã có nhiều nghiên cứu về tinh
dầu như của D. J. Charles, J. E.Simon, M. P.Widrlechner, N. K Singl.
Ở khu vực Đông Nam Á cũng đã có rất nhiều công trình của các tác giả về
LSNG từ thập kỷ 1990 đăng trong “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á”, như các tác
giả: R. C. K. Chung & Purwaningsh, C. C. De Guzman & R. A. Reglos, Diah
Sulistiarini, M. Flach & F. Rumawas, M. Flash & J. S. Siemonsma, ... Những
nghiên cứu này đã quan tâm nhiều đến các loài cây cho tinh dầu, dầu béo, cây làm
thuốc, các loài phong lan và các loài cây cho sợi như song, mây, tre, nứa.
Ngoài ra còn có nhiều công trình lớn nghiên cứu về LSNG của các nhóm tác
giả như: H. de Beer Jenne và cộng sự (1989), Virgilio de La Cruz và cộng sự (1989),
Nepstad và cộng sự (1992), French và cộng sự (1996), Brockhoven (1996), Leakey
và cộng sự (1996), Taylor (1996), Vorhies (1997), Wollenberg và cộng sự (1998),
Agarwal (1999)... và FAO đã tổ chức rất nhiều hoạt động thúc đẩy nghiên cứu và

xuyên hơn, ít đầu tư, ngắn ngày... dễ dàng để người dân các vùng miền núi nghèo
có thể có cơ hội để phát triển và khai thác tốt các loại sản phẩm này. Đây cũng có
thể là một hình thức làm kinh tế để người dân địa phương "lấy ngắn nuôi dài" khi
họ đầu tư vào trồng rừng hoặc trồng cây lâu năm.
1.4. Một số đặc điểm của các chi lựa chọn nghiên cứu tinh dầu trong họ Gừng
1.4.1. Đặc điểm nhận biết các chi lựa chọn nghiên cứu tinh dầu
Chi: Etlingera Giseke – Ét ling: Cây to cao khoảng 4-5m. Cụm hoa mọc từ
thân rễ, dạng bông hay đầu, xếp theo vòng cầu đồng tâm trên một đế phẳng, thường
có vài hoa nở đồng thời xòe ra. Cánh môi dạng lưỡi dài. Thường sống ở ven rừng,
ven suối, sườn đồi nơi ẩm. Trên thế giới có khoảng 70 loài, Việt Nam có 5 loài.
Chi: Hornstedtia Retz. – Giả sa nhân: Cây thảo cao 1-2(4)m. Cụm hoa mọc từ
thân rễ, gần gốc thân giả, hình trứng hay thoi, cuống cụm hoa ngắn. Các lá bắc xếp
lợp, những lá bắc ở dưới và ngoài cùng dày, bất thụ, mầu đỏ, lá bắc hữu thụ ở phía
trên, chứa 1 hoa. Quả nang gần hình cầu, gần như 3 góc, nhẵn, mở đến gần gốc.
Mọc nơi đất ẩm, ven đường mòn, ven suối, bờ đá ẩm. Việt Nam có 1 loài.
Chi: Siliquamomum Baill. – Sa nhân giác: Cây thảo cao 1-2m. Cụm hoa
chùm, trên ngọn thân có lá, hoa thưa. Hoa đẹp có cuống dài, gần đầu có khớp. Quả
nang dài dạng quả cải, dài gấp nhiều lần rộng. Thường mọc ở các sườn núi ẩm ở độ
cao 800-1500m. Trên thế giới có 2 loài, Việt Nam mới phát hiện 1 loài..
1.4.2. Các nghiên cứu về tinh dầu trong một số đại diện của họ Gừng
Các thành phần chính của tinh dầu thân, lá, rễ, thân rễ, hoa, vỏ quả và hạt) của
5 loài riềng trong nghiên cứu của Trịnh Đình Chính (1995) gồm: zerumbon, các
monoterpen như α–pinen, β-pinen, một số monoterpen alcohol, sesquiterpen hoặc
dẫn xuất của chúng. Trên Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều nghiên
cứu về tinh dầu của các loài trong họ Gừng được công bố, như của Đặng Văn Hoài,
Olivier Duval, Pascal Richomme, Marie Lavault, Nguyễn Thị Hữu, Trần Công
Luận, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trần Thu Hoa,... cho thấy, thành phần tinh dầu
trong dịch chiết củ các loài họ Gừng có cấu trúc 3,5-dihydroxy-1,7-bis(4hydroxyphenyl) heptane và những dẫn chất của chúng có hoạt tính kháng ung thư.
Ở cả Việt Nam và trên thế giới, các nghiên cứu về tinh dầu của các loài trong
chi Etling (Etlingera Giseke), chi Giả sa nhân (Hornstedtia Retz.) và chi Sa nhân

đặc dụng - do Vườn quốc gia quản lý; phần diện tích vùng đệm do công ty lâm
nghiệp, chính quyền một số xã và người dân quản lý. Diện tích này nằm giáp ranh
với rừng đặc dụng, gần các vùng dân cư nên đây cũng là nơi chịu sự tác động mạnh
mẽ của người dân địa phương.
Tổng số loài thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được là 2494, thuộc 931
chi của 202 họ (có số loài thực vật lớn nhất trong các VQG hiện nay ở Việt Nam).
Hiện nay, trong vùng đệm VQG Pù Mát đang có rất nhiều dân cư sinh sống,
gồm 16 xã, 111 thôn bản, trên 17.000 hộ dân với khoảng 93.500 người [10], tốc độ
gia tăng dân số 2,6% mỗi năm, đa số dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp,
trong khi đó diện tích đất canh tác ngày càng hạn chế do sự nghèo kiệt nhanh chóng
của các vùng đất dốc, do biến đổi khí hậu, hạn hán và thiếu nước canh tác.


8

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài LSNG có nguồn gốc từ thực vật
bậc cao có mạch phân chia thành 6 nhóm theo của tài liệu “Lâm sản ngoài gỗ Việt
Nam”, 2004.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Vùng nghiên cứu được chọn là vùng lõi và vùng đệm của VQG Pù Mát, tỉnh
Nghệ An.
2. 2. Nội dung nghiên cứu
1. Lập danh lục, đánh giá sự đa dạng của LSNG ở khu vực VQG Pù Mát;
2. Lựa chọn 3 loài trong họ Gừng (Zingiberaceae) ở VQG Pù Mát để nghiên cứu
về thành phần tinh dầu.
3. Đánh giá hiện trạng khai thác, buôn bán và quản lý LSNG ở VQG Pù Mát; Xác

a. Phương pháp thu mẫu và chưng cất tinh dầu
Mẫu nguyên (lá, thân, hoa, thân rễ) được chưng cất bằng phương pháp lôi
cuốn theo hơi nước có hồi lưu, theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam.
b. Phương pháp định lượng tinh dầu
Hàm lượng tinh dầu trong mẫu tươi là tỷ lệ tính bằng % của khối lượng tinh
dầu chứa trong mẫu so với khối lượng của mẫu tươi (Theo Dược điển Việt Nam).
Công thức tính:
Hl(t) (%) =

Lượng tinh dầu thu được (gam) x %
Khối lượng mẫu chưng cất (g)

= N (khối lượng tinh dầu) x 0,9 (tỷ trọng quy ước với tinh dầu nhẹ hơn nước) x 100
M (khối lượng mẫu chưng cất)

Sau đó tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu
chuẩn, đậy kín, bảo quan ở 0-5OC trước khi đem phân tích.
c. Phương pháp phân tích thành phần hóa học tinh dầu
* Sắc ký khí (GC – Gas Chromatography):
Được thực hiện trên máy Agilent Technologies HP 6890N Plus gắn vào
detector FID của hãng Agilent Technologies, Mỹ. Cột sắc ký HP-5MS có chiều dài
30m, đường kính trong (ID) = 0,25mm, lớp phim mỏng 0,25µm đã được sử dụng.
* Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS - Gas Chromatography/Mass Spectometry):
Việc phân tích được thực hiện trên hệ thống sắc ký – khối phổ liên hợp của
hãng Agilent Technologies HP 6890, hệ thống này được lắp với cột tách mao quản
và vận hành sắc ký với khí mang là He.
Việc xác định các thành phần tinh dầu được thực hiện trên việc xác định các
chỉ số RI (Retention Indices), với các tài liệu đồng đẳng của n-alkan (C4–C30),
trong điều kiện như nhau của các thử nghiệm, theo các chất chuẩn (Sigma-Aldrich,
St. Louis, MO, USA) hoặc các thành phần của tinh dầu đã biết được tìm kiếm trong

Số
lượng
1
2
1
22
7
120
29
149
182

Chi
%
0.55
1.65
0.55
12.09
3.85
65.38
15.93
81.32
100

Số
lượng
1
3
1
35

%
0.07
0.80
0.07
3.85
0.99
78.38
15.85
94.23
100

Hầu hết các loài LSNG tập trung ở ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm
94,23% tổng số loài; 93,25% tổng số chi và 81,32% tổng số họ.
Trong 182 loài có 10 họ giàu loài cho LSNG nhất, đó là: Họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Cà phê (Rubiaceae),
họ Lan (Orchidaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), Họ Lúa (Poaceae), họ Long não
(Lauraceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae); 10 loài
này có tới 533 loài, chiếm 35,35% tổng số loài LSNG ở VQG Pù Mát. 10 chi giàu
loài cho LSNG nhất gồm: chi Sung (Ficus), chi Sồi (Lithocarpus), chi Trọng đũa
(Ardisia), chi Khúc khắc (Smilax), chi Dẻ gai (Castanopsis), chi Củ nâu (Dioscorea),
chi Móng bò (Bauhinia), chi Bời lời (Litsea), chi Trâm (Syzygium), chi Thị
(Diospyros). Hầu hết các loài trong các họ và các chi này được khai thác để làm
thuốc và để ăn.
Theo kết quả điều tra về khai thác và sử dụng LSNG, đã thống kê được 848
loài mà người dân khai thác để sử dụng và để bán, chiếm 56,23% tổng số loài cây
LSNG ở khu vực VQG Pù Mát. Số loài chủ yếu thuộc về ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta), chiếm 87,14% tổng số loài, trong đó lớp Ngọc lan chiếm phần


11

Tỷ lệ (%)
1 Nhóm cây cho sợi
99
6,56
2 Nhóm cây cho thực phẩm
366
24,27
3 Nhóm cây cho thuốc
1192
79,05
4 Nhóm cây cho dầu và nhựa
136
9,02
5 Nhóm cây tanin, thuốc nhuộm
68
4,51
6 Nhóm cây cảnh và công dụng khác
300
19,89
2161 lượt/
1508 loài
Tổng
143,30


12

Trong thực tế, khi tìm hiểu về việc khai thác và sử dụng 848 loài cây LSNG
vào các mục đích sử dụng khác nhau, đã thống kê được 1406 lượt loài được khai
thác để sử dụng cho 6 nhóm mục đích khác nhau. Trong đó, nhóm cây được các

8,33
2
3,70
2
2,02
Pinophyta
1
4,17
2
3,70
2
2,02
16
66,67
27 50,00
42 42,42
Magnol Magnoliopsida
5
20,83
23 42,59
53 53,54
-iophyta Liliopsida
Tổng
21
87,50
50 92,59
95 95,96
Tổng cộng
24
100

SL
%
Ngành
Equisetophyta
1
1.32
1
0.42
1
0.27
Polypodiophyta
5
6.58
5
2.12
6
1.64
Magnoli Magnoliopsida
58
76.32 189
80.08 299 81.69
-ophyta Liliopsida
12
15.79
35
14.83
60 16.39
Tổng
70
92.11 228

Psilotophyta
1
0,63
1
0,19
1
0,08
Lycopodiophyta
2
1,25
3
0,56
6
0,50
Equisetophyta
1
0,63
1
0,19
1
0,08
Polypodiophyta
21
13,13
30
5,59
55
4,61
Pinophyta
4

thống kê ở bảng 3.2, có tới 1192 loài, chiếm 79,05 % tổng số loài cây LSNG thống
kê được của khu vực VQG Pù Mát. Chúng phân bố trong 6 ngành, 160 họ, 537 chi
thực vật bậc cao có mạch của VQG Pù Mát. Trong đó số loài, chi, họ tập trung chủ
yếu trong lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), chiếm 81,8 % tổng số loài; 78,58% tổng
số chi và 64,38% tổng số họ. Những họ có trên 20 loài cây làm thuốc gồm: Họ Đậu
(Fabaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà phê
(Rubiaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Phong
lan (Orchidaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Long não (Lauraceae), họ Cam
(Rutaceae), họ Bạc hà (Lamiaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae).
Nơi sống của các loài cây làm thuốc khá đa dạng, chúng có mặt ở tất cả các
sinh cảnh, nhưng số loài sống ở rừng chiếm tỷ lệ cao nhất (50%), tiếp đến là đồi núi
(22%). Các sinh cảnh còn lại đều là nơi sống của 8-11% của tổng số loài.
Dạng thân của các loài cây cho dược liệu khá đa dạng, tỷ lệ các loài dạng thân
thảo chiếm 32%, dạng thân gỗ chiếm 28%, thân leo chiếm 20% và dạng thân bụi
chiếm 19%, dạng thân bì sinh, ký sinh chỉ chiếm 1%.
Thu hái lá và ngọn để làm thuốc là phổ biến nhất, chiếm đến 421 lượt loài,
tiếp đến là rễ (328 lượt loài) và thu hái toàn cây lên đến 212 lượt loài và thu hái
thân đến 153 lượt loài. Việc thu hái cả cây, thân và rễ thường làm giảm cơ hội tái
sinh và phát triển của các loài dược liệu, cần có kế hoạch và phương pháp bền
vững.
3.2.1.4. Nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm
Nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm gồm 68 loài, chiếm 4,51% tổng số loài
LSNG của khu vực VQG Pù Mát, thuộc 37 chi, 15 họ của 2 ngành thực vật (ngành
Thông và ngành Ngọc lan). Sự phân bố về số lượng và tỷ lệ họ, chi, loài của nhóm
cây chiết xuất được trình bày trong bảng 3.11. Hầu hết các taxon đều thuộc lớp
Ngọc lan (Magnoliopsida), chiếm 97,06% tổng số loài; 94,6% tổng số chi và
93,33% tổng số họ. Những họ có khá nhiều loài cho tanin là: Họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae).
Bảng 3.11: Sự phân bố về số lượng và tỷ lệ họ, chi, loài của nhóm cây tanin,
thuốc nhuộm ở VQG Pù Mát

0
0
0
Tổng cộng
15 100.0
37 100.0
68 100.0


15

Phần lớn các loài của nhóm này phân bố ở rừng (70%), tiếp đến là đồi núi
(12%) và vườn (8%). Dù chỉ có 68 loài của nhóm này nhưng có tới 6 loài có tên
trong Sách Đỏ Việt Nam (2007).
Phần lớn các cây nhóm này ở dạng thân gỗ (chiếm 68%), các cây thân thảo,
thân leo và bụi chỉ đều chiếm từ 9-13% tổng số loài. Các chất nhuộm và tanin chủ
yếu được lấy từ vỏ (45loài), từ quả (32 loài), từ lá (15 loài), từ toàn cây (8 loài), từ
rễ (8 loài) và từ thân (6 loài); ít được lấy từ hoa và củ.
3.2.1. 5. Nhóm cây cảnh và cây có công dụng khác
Nhóm cây cảnh (cây cảnh, hoa cảnh, cây xanh bóng mát) và cây có công
dụng khác (cây cho lá gói, thức ăn chăn nuôi, giá thể trồng nấm, cây cải tạo đất,... )
gồm 300 loài, chiếm 19,89% tổng số loài LSNG ở VQG Pù Mát. Sự phân bố về số
lượng và tỷ lệ họ, chi, loài của nhóm còn lại này được trình bày trong bảng 3.12.
Bảng 3.12: Sự phân bố về số lượng và tỷ lệ họ, chi, loài của nhóm cây cảnh và
cây có công dụng khác ở VQG Pù Mát
Họ
Chi
Loài
Số
Số

5
6.94
6
3.55
9
3.00
Magnoli- Magnoliopsida
46
63.89
109 64.50
192 64.00
-ophyta
Liliopsida
13
18.06
46 27.22
87 29.00
Tổng
59
81.94
155 91.72
279 93.00
Tổng cộng
72
100
169
100
300
100
Các loài thuộc nhóm cây này phân bố trong 5 ngành thực vật bậc cao có

Ngành
SL
%
SL
%
SL
%
Pinophyta
6
13,95
7
7,29
8
5,83
29
67,44 75
78,13
111
81,15
Magnol- Magnoliopsida
iophyta
Liliopsida
8
18,60 14
14,58
17
13,02
Tổng cộng
43
100

3.2.3. Phân tích thành phần tinh dầu của 3 loài họ Gừng ở VQG Pù Mát
3.2.3.1. Thành phần tinh dầu Etlingera yunnanensis (Wu&Senjen) R.M.Sm
Lá, thân và rễ của E. yunnanensis được thu thập từ khu vực thác Khe Kèm,
VQG Pù Mát, Nghệ An. Hàm lượng tinh dầu của lá, thân và rễ tương ứng với
0,25%, 0,20% và 0,31% khối lượng khô. Tinh dầu có màu vàng nhạt, nhẹ hơn
nước.
Trong tinh dầu của lá, thân, rễ có các thành phần chính: Monoterpen
hydrocarbon chiếm 20,7% -57,8%; hydrocarbon sesquiterpen chiếm 23,2% -69,9%.
Ngoài ra monoterpen chứa oxy cũng có mặt trong tinh dầu của thân (chiếm 12,8%)
và của rễ (chiếm 13,3%). Các thành phần chính của tinh dầu lá là: germacren D
(29,2%), β-pinen (11,6%), α-amorphen (11,2%), bicyclogermacren (8,2%),
bicycloelemen (6,6%) và α-humulen (6,3%). Dầu của thân gồm các thành phần
chính: các β-pinen (23,7%), 1,8-cineol (11,0%), α-pinen (9,6%) và germacren D
(7,7%). Các thành phần β-pinen (31,9%), α-pinen (13,7%), 1,8-cineol (9,4%) và
camphen (7,5%) cũng đã được tìm thấy trong tinh dầu của rễ.
3.2.3.2. Thành phần tinh dầu Giả sa nhân - Hornstedtia sanhan M. Newnam
Lá, thân và rễ của loài Giả sa nhân được thu ở khu vực thác Khe Kèm, VQG
Pù Mát, Nghệ An. Hàm lượng tinh dầu là 0,32%, 0,25% và 0,35% trọng lượng khô
tương ứng với lá, thân và rễ. Tinh dầu có màu vàng nhạt, nhẹ hơn nước.
Trong tinh dầu chủ yếu là các hợp chất monoterpen hydrocarbon chiếm 44,1%
-83,6%. Ngoài ra, các hợp chất sesquiterpen hydrocarbon cũng chiếm đến 24,3%
trong tinh dầu của lá và phenylpropanoids chiếm đến 43,8% trong tinh dầu của rễ.
Thành phần chính là α-pinen (25,9% trong tinh dầu lá, 36,3% trong tinh dầu thân
và 14,1% trong tinh dầu rễ); thành phần có tỷ lệ lớn tiếp theo là limonen (22,1%
trong tinh dầu lá, 24,6% trong tinh dầu thân và 16,2% trong tinh dầu rễ) và β-pinen
(9,7% trong tinh dầu lá, 11,8% trong tinh dầu thân và 7,2% trong tinh dầu rễ).
Ngoài ra, α-humulen cũng chiếm đến 15,9% và β-caryophyllen chiếm đến 6,3%
tinh dầu của lá. Trong khi đó tinh dầu của rễ lại chứa số lượng lớn nhất methyl
chavicol (43,7%).
3.2.3.3. Thành phần tinh dầu Sa nhân giác - Siliquamomum tonkinense Baill.

3.3.2.1. Sử dụng LSNG của người dân địa phương
Theo kết quả thống kê từ 360 phiếu phỏng vấn các hộ dân của 12 bản, 100%
các hộ đều sử dụng LSNG cho các sinh hoạt hàng ngày; 96,5% số hộ tham gia khai
thác LSNG để phục vụ nhu cầu sử dụng trong gia đình và để bán.
3.3.2.2. Đóng góp của LSNG trong đời sống cộng đồng
Kết quả cho thấy, LSNG đã đóng góp trung bình 36,7% tổng thu nhập bình
quân hàng năm của các hộ được phỏng vấn. Tuy nhiên, có sự khác nhau ở các bản
khác nhau, tỷ lệ này thấp nhất ở bản Lục Sơn (22,7%) và cao nhất ở bản Bu
(53,6%), những bản càng nghèo thì tỷ lệ này càng cao.
3.3.2.3. Khai thác LSNG trong VQG Pù Mát
Theo kết quả phỏng vấn thì hầu hết các hộ đều có thu hái LSNG để sử dụng
(96,5%) và để bán (82,5%), những hộ không tham gia khai thác LSNG không
nhiều, là các hộ mà các lao động đều có việc làm khác ổn định hơn; hoặc không


19

còn lao động có sức khỏe phù hợp. Ở phần lớn các hộ (85%) thì người thu hái
LSNG chính trong gia đình là phụ nữ.
Khu vực khai thác LSNG trước đây là các khu rừng gần nhà. Hơn 10 năm
gần đây, khu vực khai thác mở rộng ra các khu rừng phòng hộ, rừng của các Lâm
trường và cả rừng đặc dụng do VQG Pù Mát quản lý.
Phương pháp và công cụ khai thác LSNG truyền thống của người dân địa
phương ở vùng đệm VQG Pù Mát là phương pháp thủ công: hái bằng tay, chặt
bằng dao, cắt bằng hái, đào bằng cuốc thuổng,... Khối lượng thu hái không nhiều và
việc thu hái diễn ra hàng ngày, người dân thường có ý thức bảo vệ, giữ gìn và để
dành cho những lần thu hái sau. Tuy nhiên, từ khi LSNG trở thành hàng hóa với
nhu cầu thu mua lớn, người dân bắt đầu có tâm lý “tranh phần”, LSNG vẫn là “tài
nguyên chung”, vì thế không ai bảo vệ, mọi người mặc sức khai thác. Để thu hái
được nhiều nhất có thể, người dân địa phương đã sử dụng nhiều biện pháp khai

Trên dòng chảy thị trường tồn tại nhiều vấn đề: (1) một số lượng không nhỏ
LSNG không kịp sơ chế bị mốc hỏng, kém chất lượng nên bị bỏ phí; (2) Nhiều loại
LSNG có tên trong sách đỏ vẫn tiếp tục được thu mua và tìm cách ngụy trang để vận
chuyển sang thị trường Trung Quốc; (3) Phần lớn LSNG mới chỉ sơ chế tại địa
phương và chất lượng thấp nên giá rẻ; (4) Thương lái Trung Quốc ép giá hoặc từ chối
không thu mua vì đa số các hợp đồng là “giao kèo miệng”. Tất cả những vấn đề trên
khiến tài nguyên LSNG ở khu vực VQG Pù Mát cạn kiệt nhanh chóng nhưng không
mang lại thu nhập xứng đáng cho người dân địa phương.
3.3.4. Công tác quản lý LSNG và sự tham gia của cộng đồng
3.3.4.1. Khuôn khổ pháp lý, chính sách liên quan đến bảo tồn và phát triển LSNG
Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước đã ban hành trên 30 văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến chính sách, thể chế về bảo tồn và phát triển LSNG. Tuy
nhiên, phần lớn chính sách về LSNG chỉ được đề cập một cách tản mạn với dung
lượng nhỏ bé trong một chương hoặc điều, khoản của các văn bản trên, ít được các
cơ quan quản lý rừng và lâm sản quan tâm.
3.3.4.2. Thực trạng quản lý LSNG và sự tham gia của cộng đồng
Qua việc tìm hiểu hiện trạng quản lý LSNG từ các trạm kiểm lâm đến Sở NN
và PTNT được biết, bình quân mỗi năm Chi cục lâm nghiệp Nghệ An đã cấp giấy
phép cho khai thác gần 3 ngàn tấn LSNG trên địa bàn cả tỉnh Nghệ An, con số này
tương đương với lượng tre, nứa, mét, giang, mây được khai thác tại tỉnh Nghệ An.
Như vậy, các nhóm LSNG khác vẫn được khai thác và bán đi khỏi địa bàn nhưng
không làm thủ tục cấp phép. Vì thế, các loại tài nguyên rừng này không được quản
lý.
Ở khu vực vùng đệm VQG Pù Mát, các chủ rừng tổ chức quản lý phần lớn
diện tích, họ mới chỉ tập trung vào các đối tượng là gỗ, phần rừng sản xuất còn lại
được giao cho các hộ gia đình, các UBND xã và các tổ chức đoàn thể hoặc cộng đồng
tại xã quản lý. Phần rừng này thường bị khai thác nghèo kiệt.
Đối với cộng đồng địa phương, hầu như chưa có hình thức quản lý cụ thể
nào đối với LSNG. Chính vì vậy mà LSNG hiện nay đã cạn kiệt ở vùng đệm.
3.4. Các loài có giá trị, quí hiếm, các loài cần bảo tồn và phát triển

thomsonii Benth.); Tô mộc (Caesalpinia sappan L.); Bời lời nhớt (Litsea glutinosa
(Lour.) C. B. Robins ); Chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume); Khôi tía
(Ardisia silvestris Pit.); Ba kích (Morinda officinalis F. C. How); Bách bệnh
(Eurycoma longifolia Jack); Thiên niên kiện (Homalomena occulta (Lour.) Schott);
Hoàng tinh vòng (Disporopsis longifolia Craib); Sẹ (Alpinia globosa (Lour.)
Horan.); Khoai Mài (Dioscorea persimilis Prain & Burk.); Hương lau (Vetiveria
zizanioides (L.) Nash ex Smal); Mây tắt (Calamus tetradactylus Hance).
3.5. Khai thác, sử dụng và quản lý LSNG bền vững
3.5.1. Nguyên nhân chính và các vấn đề tồn tại trong quản lý LSNG
-

Cuộc sống của người dân địa phương phụ thuộc nhiều vào rừng
Sự hiểu biết của người dân địa phương về LSNG còn hạn chế.
Khai thác tận diệt các loài LSNG.
Phần lớn lượng LSNG khai thác ở Pù Mát được bán sang Trung Quốc, ở dạng
nguyên liệu thô, chất lượng kém và giá cả rẻ, thị trường trôi nổi.
Đa số các loài LSNG vẫn được coi là “lâm sản phụ” và là “tài nguyên chung”,
ít được quan tâm quản lý, bảo tồn và phát triển.


22
-

Không có cơ sở hạ tầng cấp huyện, cấp tỉnh hay cấp quốc gia để hỗ trợ cho
việc chế biến, lưu trữ, tiếp thị và tạo thị trường cho LSNG.
Thiếu sự tham gia quản lý của cộng đồng,
Thiếu biện pháp quản lý hiệu quả đối với việc khai thác và buôn bán các loài
có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.

3.5.2. Đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng bền vững LSNG

36,7% tổng thu nhập của các hộ dân;
 Dựa trên đánh giá của các cán bộ quản lý lâm nghiệp tại địa phương, đã lựa
chọn ra 55 loài chịu áp lực cao của việc khai thác và buôn bán LSNG; 58 loài
đang cạn kiệt nhanh chóng trong tự nhiên do khai thác quá mức; 38 loài có khả
năng gây trồng tại vùng đệm của VQG Pù Mát, trong đó 15 loài khả thi nhất.


23
 Trong tổng số 1508 loài LSNG có 65 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam

(2007) và 17 loài trong Nghị định 32/CP. Trong tổng số 848 loài LSNG được
người dân khai thác có 52 loài có tên trong Sách Đỏ (2007) và 17 loài trong
Nghị định 32/CP.
Kiến nghị
 Cần sớm có các văn bản chính sách cấm hoặc hạn chế khai thác các loài cây
LSNG quí, hiếm, có giá trị, có tên trong Sách Đỏ Việt Nam;
 Tiến hành các đánh giá hiện trạng (trữ lượng, phân bố, khả năng tái sinh,…) để
có biện pháp khai thác bền vững những loài LSNG là hàng hóa; Có kế hoạch và
các hoạt động cụ thể để bảo tồn và phát triển các loài có giá trị;
 Tiến hành các đề tài nghiên cứu về LSNG ở các khu vực có giá trị sinh học khác
như: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Pù Hoạt, khu vực Pù xai lai leng,…
nhằm có dữ liệu phục vụ công tác quản lý tài nguyên rừng ở Nghệ An;
 Tiến hành các nghiên cứu về công tác bảo tồn và phát triển LSNG, tạo thị
trường cho các loài LSNG có giá trị để vừa tạo sinh kế, nâng cao đời người dân
vừa khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý rừng.
 Nghiên cứu thử nghiệm để nhân rộng các mô hình bảo tồn, phát triển các loài
cây cho sợi có giá trị, tạo lập các vùng nguyên liệu và các làng nghề khai thác,
chế biến các loại cây cho sợi: làm hương, làm chổi, đan mây tre xuất khẩu, dệt
thổ cẩm,…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status