1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Mỗi một doanh nghiệp trong quá trình tổ chức khi đạt đến một qui mô hoạt
động nhất định phải thiết lập và duy trì các bộ phận để kiểm tra , kiểm soát, tư vấn
cho nhà quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp. Một
trong những bộ phận thực hiện chức năng này là bộ phận kiểm soát nội bộ của doanh
nghiệp . Kiểm soát nội bộ giúp quản lý hiệu quả các nguồn lực kinh tế của doanh
nghiệp đồng thời góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp xây dựng được nền tảng quản
lý vững chắc phục vụ cho quá trình phát triển của đơn vị và nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung và quyền
lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành.
Người lao động có thể vì quyền lợi của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích
chung của tổ chức, của người sử dụng lao động. Nhà quản lý sử dụng công cụ gì quản
lý các rủi ro, phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa
học chứ không phải dựa trên sự tin tưởng cảm tính? Việc xây dựng và vận hành tốt hệ
thống KSNB sẽ giải quyết được vấn đề trên.
Để Doanh nghiệp tăng cường cạnh tranh trong và ngoài nước đòi hỏi họ không
ngừng hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát, nâng cao năng lực quản lý của mình để
hạn chế những gian lận sai sót có thể xảy ra, đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của mình. Kiểm soát nội bộ là một bộ phận rất quan trọng trong việc giúp
cho nhà quản lý có thể kiểm tra giám sát mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Quan trọng hơn, dựa vào kiểm soát nội bộ, doanh nghiệp có thể quản lý hiệu
quả các nguồn lực kinh tế của mình góp phần hạn chế các rủi ro phát sinh trong hoạt
động kinh doanh, cũng như giúp cho doanh nghiệp có một nền tảng quản lý vững
chắc phục vụ cho quá trình phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích như : giảm
(2013) đã nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng Công ty Bến
Thành”. Tác giả Nguyễn Thị Kim Tuyến (2012) đã nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến xuất nhập khẩu thủy sản tỉnh
Bình Định” . Tác giả Nguyễn Thị Trúc Anh (2012) đã nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Tổng Công ty Tín Nghĩa”
3
Tên đề tài
Tên tác giả
Nội dung nghiên cứu
Hoàn thiện hệ thống Phạm Nguyễn
Dựa trên lý thuyết khuôn mẫu về KSNB
KSNB cho các doanh Quỳnh Thạnh
của COSO và kết quả đánh giá thực tế
nghiệp vừa và nhỏ (2012)
về hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp
của Việt Nam
vừa và nhỏ của Việt Nam để xác định
chế biến xuất khẩu thuỷ sản ở tỉnh Bình
Bình Định
Định để xác định nguyên nhân ảnh
hưởng đến tính hữu hiệu và hiệu quả của
hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp
này, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn
thiện
Hoàn thiện hệ thống Nguyễn Thị Trúc Lý luận hệ thống KSNB theo báo cáo
KSNB tại Công ty Anh (2012)
COSO 2004, khảo sát, đánh giá thực
Tổng Công ty Tín
trạng tại Công ty Tổng Công ty Tín
Nghĩa
Nghĩa, từ đó từ đó đưa ra các giải pháp
hoàn thiện.
4
Trong các công trình trên, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của
kiểm soát nội bộ và đề xuất phương hướng áp dụng mô hình kiểm soát nội bộ vào các
ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài. Mặc dù vậy, tất cả các công
Nguyên nhân nào dẫn đến những hạn chế triễn khai hệ thống KSNB tại
Công ty ?
-
Giải pháp giúp Công ty tháo gỡ khó khăn và triễn khai hệ thống KSNB có
hiệu quả ?
5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ Phần Viet
-
Phạm vi nghiên cứu: Từ tháng 12/2014 – 8/2015.
Bo
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã tổng hợp những nghiên cứu trước đây về Kiểm soát nội bộ.
Đánh giá thực tế việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công
ty Cổ Phần Viet Bo. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ tại công ty.
6. Phƣơng pháp thực hiện
Để tìm hiểu thực trạng KSNB tại Công ty, tác giả tiến hành khảo sát để tìm
hiểu thực trạng bằng các phương pháp sau:
thập thông tin về nhận thức của lãnh đạo và nhân viên về cách tổ chức và vận hành hệ
thống KSNB. Dựa trên kết quả khảo sát, từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty.
6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ Phần Viet Bo.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ
Phần Viet Bo.
7
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH
NGHIỆP
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm soát nội bộ
Hoạt động kiểm soát luôn là khâu quan trọng trong quá trình quản lý, điều hành
của nhà quản trị nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Để thực hiện hoạt động
kiểm soát , nhà quản lý thường sử dụng công cụ kiểm soát nội bộ (KSNB). Lịch sử
phát triển của kiểm soát nội bộ có thể tóm tắt qua các giai đoạn sau :
1.1.1 Giai đoạn sơ khai
Kiểm soát nội bộ đã tồn tại từ thời cổ đại. Khi Hy Lạp có chính quyền kép, với
việc phân chia trách nhiệm giữa các quan chức chịu trách nhiệm thu thuế và giám sát
việc thu thuế.
Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cách mạng
SAP 29 (1958) “ Phạm vi kiểm toán viên độc lập xem xét KSNB” , trong đó
lần đầu tiên đề cập phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán.
-
SAP 54 (1972) “ Tìm hiểu về đánh giá KSNB”, đã đưa ra bốn mục tiêu của
kiểm soát kế toán
-
SAP 55 (1988) “ Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính”, đã đưa ba
yếu tố của KSNB là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm toán.
Vào thập niên 1970-1980, nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ kéo theo các
gian lận ngày càng tăng về số lượng lẫn quy mô, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh
tế. Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật chống hối
lộ ở nước ngoài. Điều luật này nhấn mạnh đến vai trò của KSNB trong việc ngăn ngừa
những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến nhu cầu ghi chép đầy đủ trong mọi
hoạt động. Lần đầu tiên, yêu cầu về báo cáo hoạt động KSNB được đề cập trong một
văn bản pháp luật , trong đó quy định bắt buộc phải có báo cáo về hệ thống KSNB đối
với công tác kế toán ở công ty (1979). Từ những yêu cầu trên, đã gây ra sự chú ý và
sự quan tâm của công chúng về vấn đề KSNB vì trên thực tế có nhiều định nghĩa,
quan điểm khác nhau về KSNB cũng như cách thức đánh giá về hệ thống KSNB.
Năm 1985, với sự sụp đổ của các công ty cổ phần có niêm yết làm cho các nhà
ban hành luật càng quan tâm đến hoạt động KSNB của công ty. Nhiều quy định hướng
dẫn về KSNB của các cơ quan chức năng Hoa Kỳ được ban hành trong giai đoạn này
như : Ủy ban chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ 1998, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ năm
1978, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ năm 1991.
Trước tình hình này , Ủy Ban COSO đã được thành lập. Đây là một Ủy ban
phận : Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối
phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Đến 2004,
ERM đã được chính thức ban hành, theo đó ERM không nhằm thay thế cho báo cáo
COSO 1992 mà chỉ được xem là cánh tay nối dài của báo cáo này.
Phát triển theo hướng công nghệ thông tin
Năm 1996, Ban tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ
thông tin và các lĩnh vực liên quan (COBIT)” do Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán
10
thông tin thành lập. COBIT cung cấp cho nhà quản trị, kiểm toán viên và người sử
dụng công nghệ thông tin các giải pháp được chấp thuận, các chỉ tiêu đánh giá , quy
trình và hoạt động thích hợp để hỗ trợ họ trong việc tối đa hóa các lợi ích thu được
thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin.
Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập
Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng báo cáo
COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, gồm :
-
SAS 78 (1995): Xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Các định nghĩa , nhân tố của kiểm soát nội bộ trong báo cáo COSO (1992) đã đưa vào
chuẩn mực này.
-
SAS 94 (2001) : Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét kiểm
soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA cũng sử dụng báo cáo của COSO
-
Sự tin cậy của báo cáo tài chính
-
Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”
Trong định nghĩa trên , có bốn khái niệm quan trọng cần chú ý, đó là : quá
trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
KSNB là một quá trình: kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm
soát được xây dựng và vận hành ở mọi bộ phận của doanh nghiệp và được kết hợp với
nhau thành một thể thống nhất.
KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người : KSNB được thực hiện bởi
con người trong tổ chức, bởi suy nghĩ và hành động của họ. Chính con người đặt ra
mục tiêu , thiết lập cơ chế và vận hành nó. Tuy nhiên, không phải lúc nào con người
cũng hiểu rõ , trao đổi và hành động một cách nhất quán. Mỗi thành viên trong một tổ
chức đều có kiến thức và kinh nghiệm khác nhau nên để hệ thống KSNB hoạt động
hữu hiệu đòi hỏi các thành viên phải hiểu rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình.
KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý : KSNB chỉ cung cấp sự đảm bảo hợp
lý cho nhà quản lý trong việc thực hiện mục tiêu chứ không cung cấp sự đảm bảo
tuyệt đối. Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và
vận hành hệ thống KSNB như : sai lầm của con người đưa ra các quyết định, sư thông
đồng của các nhân viên, sự lạm quyền của nhà quản lý, …
Đạt mục tiêu : KSNB nên được hướng vào việc đạt mục tiêu của tổ chức thì hệ
thống KSNB đó mới đạt được hiệu quả. Đó có thể là mục tiêu chung của toàn đơn vị
hay mục tiêu cụ thể cho từng đơn vị. Có thể chia các mục tiêu kiểm soát ra thành 3
nhóm:
+ Nhóm mục tiêu về hoạt động : nhấn mạnh việc thiết lập và thực hiện các mục
tiêu hoạt động cơ bản của các doanh nghiệp là lợi nhuận, bảo vệ và sử dụng hiệu quả
phận có hoạt động đồng bộ hay không.
1.4 Các loại kiểm soát nội bộ
Có nhiều cách phân loại, dưới đây là một số cách phân loại tiêu biểu:
1.4.1 Phân loại theo mục tiêu
Kiểm soát bù đắp :
Là sự bù đắp một yếu kém của một thủ tục kiểm soát này bằng một thủ tục
kiểm soát khác.
13
Kiểm soát phòng ngừa :
Là các thủ tục kiểm soát được thiết kế để ngăn chặn các sai phạm hoặc các điều
kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát phòng ngừa thường được tiến hành trước khi nghiệp
vụ xảy ra . Kiểm soát phòng ngừa thường được thực hiện ngay trong công việc hằng
ngày của nhân viên theo chức năng của họ; phân chia trách nhiệm, giám sát, tính kiểm
tra tính hợp lý, sự đầy đủ,…
Kiểm soát phát hiện :
Là các thủ tục kiểm soát được thiết kế nhằm phát hiện các sai phạm và các điều
kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát phát hiện thường được thực hiện sau khi nghiệp vụ
xảy ra như các công việc đối chiếu cuối kỳ.
Kiểm soát phát hiện và kiểm soát phòng ngừa có quan hệ bổ sung cho nhau
trong việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát. Thế mạnh của kiểm soát phòng ngừa là
ngăn chặn các sai phạm trước khi xảy ra do đó giảm được thiệt hại.
1.4.2 Phân loại theo phạm vi kiểm soát
Gồm có hai loại : Kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng.
Kiểm soát chung:
Kiểm soát chung là các thủ tục , chính sách chung được áp dụng cho tất cả các
hoạt động. Kiểm soát chung có ảnh hưởng quan trọng tới các kiểm soát ứng dụng .
Nếu kiểm soát chung tốt có thể hạn chế những yếu kém của kiểm soát ứng dụng làm
-
Nguyên tắc 1 : Đơn vị thể hiện cam kết về tính tung thực và giá trị đạo đức .
Thể hiện cư xử có đạo đức và tính trung thực của toàn thể nhân viên chính là văn hóa
của tổ chức. Tính trung thực và giá trị đạo đức là quan trọng của môi trường kiểm
soát, nó tác động đến việc thiết kế , thực hiện và giám sát của hệ thống KSNB.
-
Nguyên tắc 2 : Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết vể việc sử dụng nhân viên có
năng lực thông qua tuyển dụng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mục
tiêu của đơn vị.
-
Nguyên tắc 3 :Nhà quản lý cùng với sự giám sát của Hội đồng quản trị thiết lập
cấu trúc, hệ thống báo cáo , quyền hạn và trách nhiệm một cách phù hợp cho việc thực
hiện các mục tiêu đã đề ra. Để thiết lập cơ cấu tổ chức thích hợp , cần chú ý các nội
dung : xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu đối với từng bộ phận, xác định
cấp bậc cần báo cáo thích hợp.
-
Nguyên tắc 4 : Hội đồng quản trị phải chứng tỏ sự độc lập với người quản lý và
đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống KSNB.
15
mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động – của đơn vị có thể không được thực hiện, và phải
cố gắng kiểm soát được những rủi ro này.
Để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng các phương tiện dự báo,
phân tích các dữ liệu quá khứ, rà soát thường xuyên các hoạt động. Trong các doanh
nghiệp nhỏ, công việc này có thể tiến hành dưới dạng những cuộc tiếp xúc với khách
hàng, ngân hàng hoặc các buổi họp giao ban trong nội bộ… Vì rủi ro rất khó định
lượng nên đây là một công việc khá phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau.
Tuy nhiên, một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro thường bao gồm những bước
sau đây: Ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến mục tiêu
16
của đơn vị, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối
phó với những rủi ro đó
Theo COSO 2013, đánh giá rủi ro gồm các nguyên tắc sau :
-
Nguyên tắc 6 : Đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để nhận diện và
đánh giá rủi ro phát sinh trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị. Các mục tiêu đơn vị
thường được thiết lập bao gồm : mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và phi
tài chính cho người bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, mục tiêu tuân thủ.
-
Nguyên tắc 7: Đơn vị phải nhận diện rủi ro trong việc đạt được mục tiêu của
đơn vị, tiến hành phân tích rủi ro để xác định rủi ro cần được quản trị.
-
17
Để nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm soát , nhà quản lý cần phải theo dõi
kết quả thực hiện các biện pháp kiểm soát và điều chỉnh cần thiết cho phù hợp.
Theo COSO 2013, hoạt động kiểm soát gồm có các nguyên tắc sau :
-
Nguyên tắc 10: Doanh nghiệp lựa chọn và triển khai các hoạt động kiểm soát
góp phần vào việc giảm thiểu rủi ro giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu trong giới
hạn chấp nhận được.
-
Nguyên tắc 11: Doanh nghiệp lựa chọn và triển khai các hoạt động kiểm soát
chung đối với công nghệ để hổ trợ việc đạt được các mục tiêu.
-
Nguyên tắc 12: Doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kiểm soát thông qua các
chính sách đã được thiết lập và triễn khai thành các thủ tục
1.5.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập,
duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo
cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm cả cho nội
bộ và bên ngoài.
Trong hệ thống thông tin, hệ thống thông tin kế toán là một phân hệ quan trọng.
Đầu vào của hệ thống là các sự kiện kinh tế được biểu hiện dưới dạng các nghiệp vụ
-
Giám sát thƣờng xuyên: thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của khách
hàng, nhà cung cấp… hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động
bất thường.
-
Giám sát định kỳ: thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên
nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện.
Giám sát có vai trò quan trọng trong KSNB vì nó giúp cho KSNB duy trì được
sự hữu hiệu trong các thời kỳ khác nhau. Trong đó , giám sát thường xuyên sẽ hiệu
quả hơn so với giám sát định kỳ. Bởi vì giám sát thường xuyên được thực hiện ngay
trong hoạt động thường ngày và thường lặp đi lặp lại.
Theo COSO 2013, hoạt động giám sát gồm có các nguyên tắc sau :
-
Nguyên tắc 16: Doanh nghiệp lựa chọn , phát triển, thực hiện và đánh giá liên
tục để biết chắc rằng những bộ phận của hệ thống KSNB có hiện hữu và vận hành
đúng không.
-
Nguyên tắc 17: Doanh nghiệp đánh giá và truyền thông về các khiếm khuyết
của KSNB một cách kịp thời để các đối tượng chịu trách nhiệm sẽ tiến hành các biện
pháp khắc phục một cách thích hợp.
Tóm lại, trên đây là 5 thành phần cơ bản và 17 nguyên tắc và thuộc tính của các
thành phần cơ bản của hệ thống KSNB.
Hiểu rõ mục tiêu hoạt động của tổ chức đang đạt được ở mức độ nào.
-
BCTC đang được lập và trình bày một cách đáng tin cậy.
-
Pháp luật và các quy định đang được tuân thủ.
Như vậy, KSNB là một quá trình thì sự hữu hiệu của KSNB lại là một trạng
thái của quá trình đó ở một thời điểm nhất định. Việc đánh giá sự hữu hiệu của KSNB
là mang tính xét đoán. Bên cạnh đó, để đánh giá KSNB là hữu hiệu, ngoài ba tiêu chí
trên, còn cần phải đánh giá thêm :
-
Năm bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB có hữu hiệu không ?
-
Nếu có, chúng có hoạt động hữu hiệu không ?
20
Có thể thấy, sự hiện hữu của năm bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB cũng
chính là tiêu chí để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB. Tuy nhiên, mức độ hoạt
động ở các bộ phận khác nhau.
Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Rủi ro trong kiểm soát cũng xảy ra khi người quản lý luôn xem xét quan hệ chi
phí bỏ ra và lợi ích thu được. Các hoạt động giám sát cũng phải đảm bảo rằng lợi ích
có được phải lớn hơn chi phí mà đơn vị bỏ ra.
-
Nhà quản lý lạm quyền, bỏ qua các quy định kiểm soát trong quá trình thực
hiện nghiệp vụ có thể dẫn đến không kiểm soát được rủi ro và làm cho môi trường
kiểm soát bị yếu kém.
-
Do thay đổi tổ chức , quan điểm và yêu cầu quản lý làm cho các thủ tục kiểm
soát trở nên lạc hậu, không còn phù hợp.
21
Tóm lại, hệ thống KSNB dù được thiết kế và hoạt động tốt đến đâu cũng chỉ
cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý để đạt được các mục tiêu của doanh
nghiệp. Tất cả các hệ thống KSNB đều chứa đựng những hạn chế tiềm tàng vốn có
của nó. Đó là những hạn chế liên quan đến sự chủ quan của con người như làm sai, bất
cẩn, hiểu sai hoặc hệ thống KSNB cũng có thể bị vô hiệu hóa nếu có sự thông đồng
của nhân viên hoặc nhà quản lý lạm quyền.
Tổng quan về đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
+ Tổng quan đánh giá
Việc đánh giá hệ thống KSNB trước hết thuộc trách nhiệm của nhà quản lý.
Người quản lý cấp cao thường tiến hành đánh gia xem hệ thống KSNB có hiệu quả
không thông qua xem xét mỗi thành phần của KSNB là hiện hữu và đang hoạt động
1.Hệ thống KSNB bao 1.Môi trường kiểm soát 1. Môi trường kiểm soát
gồm:
bao gồm:
2. Đánh giá rủi ro
-Môi trường kiểm soát
-Đánh giá rủi ro
3. Giám sát
-Thủ tục kiểm soát
-Giám sát
4.Thông
2.Hệ thống kế toán
2.Hệ thống thông tin
thông
3.Thủ tục kiểm soát
5. Thủ tục kiểm soát
tin
-
Bảng tường thuật : là sự mô tả bằng văn bản về hệ thống KSNB của đơn vị về
nguồn gốc của mọi chứng từ, sổ sách; các quy trình đã xảy ra; sự luân chuyển chứng
từ; các hoạt động kiểm soát của đơn vị.
-
Bảng câu hỏi kiểm soát nội bộ : là bảng liệt kê các câu hỏi về các nhân tố của
KSNB.
-
Lưu đồ : là những hình vẽ biểu thị hệ thống thông tin kế toán và các hoạt động
kiểm soát bằng những ký hiệu chuẩn để mô tả công việc theo từng chức năng về các
nghiệp vụ, trình tự luân chuyển chứng từ,…
23
Trong các phương thức trên, phương thức thường được sử dụng phổ biến nhất
là bảng câu hỏi. Bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên công cụ đánh giá hệ thống
KSNB. Đây cũng chính là cơ sở để người viết xây dựng bảng câu hỏi đánh giá KSNB
cho đề tài này.
24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
- Điện thoại: 0618 971.291
- Fax: 061 3869.502
- Mã số thuế: 3600450214
- Email: [email protected]
- Webdsite: Http//: [email protected]
- Ngành nghề kinh doanh: Chuyên sản xuất và gia công các mặt hàng khăn bông,
hàng dệt gia dụng và hàng may mặc từ khăn lông các loại với quy mô 600.000 sản
phẩm/ năm.
- Sản xuất và gia công vải lót giày thể thao, vải và khăn các loại, nhãn hàng hóa
bằng vải, các sản phẩm gia dụng bằng vải với quy mô 3.000.000 sản phẩm/năm.
- Nhuộm và hoàn tất, tất cả các sản phẩm dệt may.
Hình 1: Hình ảnh công ty Công ty Cổ Phần Viet Bo
(Nguồn : Phòng nhân sự Công ty Cổ Phần Viet Bo )