TRƯỜNG ĐẠI HỌC SP KỸ THUẬT HƯNG YÊN
KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC
Giảng viên: Nguyễn Văn Hạnh
1
Hưng Yên, tháng 07 năm 2012
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SP KỸ THUẬT HƯNG YÊN
KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC
Giảng viên: Nguyễn Văn Hạnh
3
thống quản lý cơ cơ dữ liệu. Phần mềm ứng dụng là bất cứ chương trình nào xử lí dữ
liệu cho người sử dụng.
Phần mềm máy tính: ám chỉ một hay nhiều chương trình máy tính quản lí trong
bộ nhớ của máy tính với những mục đích nhất định. Phần mềm thể hiện chức năng của
chương trình, nó thực thi bằng cách hoặc trực tiếp cung cấp các hướng dẫn cho phần
cứng của máy tính hoặc phục vụ như đầu vào của một đoạn khác của chương trình.
Phần mềm dạy học: là một phần mềm máy tính với mục đích dạy học. Nó bao
gồm từ chương trình cho học sinh mẫu giáo với hàng loạt các thành phần có chức năng
giải trí tới các chương trình dạy đánh máy cũng như dạy tiếng nước ngoài cũng như
các mục đích dạy học khác.
1.1.2. Khả năng ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học
Trong những năm gần đây, CNTT được coi là một trong những ngành khoa học
phát triển với tốc độ nhanh nhất. Được như vậy là vì đây là một ngành khoa học phục
6
vụ và mang lại hiệu quả rõ rệt cho hầu hết các ngành nghề khác nhau trong xã hội. Tuy
vậy, tại Việt Nam, tiềm năng to lớn mà CNTT có thể mang lại cho giáo dục chưa được
khai thác một cách thỏa đáng. Xét cho quá trình giáo dục, với sự đa dạng phong phú
các phần mền dạy học, CNTT hoàn toàn có thể trợ giúp cho quá trình dạy học bởi
những lý do dưới đây:
Thứ nhất, việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ khiến máy tính trở thành một
công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình dạy học, cụ thể là:
Khả năng biểu diến thông tin: Máy tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng
văn bản, đồ thị, hình ảnh, âm thanh... Sự tích hợp này của máy tính cho phép
thông tin cũng như xử lý chúng có hiệu quả.
Thứ hai, ứng dụng CNTT trong dạy học có thể hỗ trợ cho nhiều hình thức dạy
học khác nhau như dạy học giáp mặt (face to face); dạy học từ xa (distance learning);
phòng đào tạo trực truyến (online training lab); học dựa trên công nghệ web (web
based training); học diện tử (e-learning)... đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng
cao của các thành phần khác nhau trong xã hội.
Thứ ba, ứng dụng CNTT trong dạy học dẫn đến việc giao cho máy tính thực
hiện một số chức năng của người thầy giáo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy
học. Nhờ đó có thể xây dựng những chương trình dạy học mà ở đó máy tính thay thế
một số công việc của giáo viên... Cách dạy này đã thể hiện nhiều ưu điểm về mặt sư
phạm như khuyến khích sự làm việc độc lập của học sinh, đảm bảo mối liên hệ ngược
và cá biệt hóa quá trình học tập.
1.1.3. Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
- Thảo luận
1.2. TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC
1.2.1. Tương tác là gì
Tương tác là từ ghép, xuất phát trong Anh ngữ với từ “Interactive” được ghép
từ hai từ đơn: Inter và Active. Trong đó “Inter” mang nghĩa là: sự liên kết cùng nhau,
nối liền với nhau, nối liền; còn “Active” có nghĩa là: sự tiến hành làm điều gì đó, hoạt
động, hành động; là ảnh hưởng, tác động. Mặc khác, “Interactive” còn có nghĩa: sự
hợp tác, ảnh hưởng qua lại, sự phối hợp. Theo từ điển mở Online (Bách khoa toàn thư
mở) Wikipedia, đã định nghĩa tương tác (Interactive):
- Là hành động tương hỗ giữa các đối tượng hoặc hành động dựa trên một đối
tượng khác;
- Một cuộc thảo luận hoặc trao đổi giữa người này với người khác.
Tôi cho rằng: tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo
ra sự trao đổi và biến đổi giữa các yếu tố đó.
8
tương tác quy định tính chất, nhiệm vụ và mục tiêu của chính nó. Do vậy, các tương
9
tác này được biểu đạt với thuật ngữ: “Instructional interactive” (tương tác chức năng
dạy học). Theo quan điểm này, nhà nghiên cứu Wagner (tạp trí giáo dục từ xa của Mĩ,
số 8, kì 2 năm 1994) định nghĩa: tương tác như là những tình huống tương hỗ mà ở đó
có ít nhất hai đối tượng và hai hành động tham gia. Các tương tác diễn ra khi các đối
tượng và tình huống này ảnh hưởng lẫn nhau đến một đối tượng hoặc một người khác.
Tương tác chức năng dạy học là tình huống trong đó đưa đến nhiệm vụ của người học
đối với môi trường học tập. thực hiện nhiệm vụ này giúp người học có được những
phản hồi để điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với mục tiêu giáo dục. Các tương
tác chức năng dạy học cần thỏa mãn hai mục đích: kích thích và điều chỉnh người học
nhằm đạt được mục tiêu học tập của họ.
Theo ThS Tạ Quang Tuấn, dạy học theo tiếp cận tương tác chính là quá trình tổ
chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác thông qua việc thực hiện các tương
tác chức năng dạy học để kích thích và điều chỉnh các tác động qua lại giữa các thành
tố trong quá trình DH nhằm đạt được mục đích dạy học. ( Nguồn trích: tạp chí giáo
dục số 210 – kì 2-3/2009 ).
Quá trình nhận thức của con người theo tiếp cận tương tác: Trước hết quá trình
này cần phải phù hợp với quy luật nhận thức; quy luật này được phản ánh trong công
thức nổi tiếng của V.I Leenin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư
duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí,
nhận thức hiện thực khách quan” (trích V.I Lênin. Bút kí triết học. NXB Sự thật,
1963, tr 189).
Từ lí luận nhận thức của Leenin, chúng ta nhận thấy rằng nếu người học muốn
thực hiện được quá trình nhận thức của mình thì trước hết họ phải thực hiện tương tác
với thực tiễn, với các đối tượng cụ thể để tìm kiếm thông tin về đối tượng. Các đối
tượng cụ thể này được phản ánh vào não thông qua các biểu tượng của trí nhớ và các
biểu tượng này là chất liệu để chủ thể người học thực hiện thao tác trừu tượng hóa,
kiến thức. Việc xác định đơn vị kiến thức thường được tính theo một nội dung trọn vẹn
cần cung cấp cho người học hoặc một nội dung được cung cấp theo một đơn vị thời
gian học. Một module thường được tính tương ứng với các chương mục trong bài
giảng hoặc theo đơn vị một số tiết học nhất định.
a, Bài giảng điện tử mức 1: Là bài giảng được xây dựng dưới dạng trình chiếu
(Presentation) slide điện tử, có thể tạo từ PowerPoint của Microsoft Office, Impress
của Open Office hay một phần mềm trình diễn tương tự với mục đích làm tư liệu phục
vụ giảng dạy và học tập trên cơ sở bài giảng hoặc giáo trình đã được đơn vị đào tạo
phê chuẩn.
11
Mỗi bài giảng gồm nhiều bản trình chiếu tương ứng với một module bài giảng.
b, Bài giảng điện tử mức 2: Là việc xây dựng một bài giảng số hoá với yêu cầu cao
hơn mức 1. Giáo viên phải có một cơ sở học liệu số hoá (hình ảnh, âm thanh, video,
câu hỏi kiểm tra...) giúp người học dễ tiếp thu, dễ ghi nhớ bài giảng. Loại bài giảng
này không chỉ hỗ trợ cho giáo viên chuẩn bị và giảng bài mà còn hỗ trợ cho người học
một số học liệu điện tử. Tuy nhiên, các học liệu có thể chưa đầy đủ, chi tiết và chưa
được tổ chức một cách bài bản mà người học có thể tự học.
c, Bài giảng điện tử mức 3: Là loại bài giảng điện tử hoàn chỉnh về nội dung khoa
học, có tính sư phạm và giao diện đẹp được đóng gói theo chuẩn SCORM như hình
1.1.
Hình 1.1: Hình ảnh một bài giảng điện tử mức 3
1.4. MỘT SỐ LƯU Ý THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ BẰNG POWERPOINT
1.4.1. Yêu cầu chung
- Thiết kế bài dạy bằng PowerPoint phải dựa trên lý luận dạy học, đặc biệt là lý
luận dạy học hiện đại. Do vậy, PP chỉ là phần mền có tính chất hỗ trợ giáo viên thể
hiện ý tưởng sư phạm của mình một cách thuận lợi và hiệu quả hơn.
- Cấu trúc bài dạy phải chặt chẽ, lôgic. Thông tin ngắn ngọn, cô đọng, được bố trí
slide mà dựa trên cơ sở những thông tin trình chiếu, giáo viên và học sinh trao đổi,
đàm thoại và hoạt động để hiểu sâu, hiểu rõ vấn đề. Do vậy trên một slide không trình
bày quá nhiều ý, sử dụng các câu ngắn gọn, súc tích, đơn giản, dễ nhớ. Để cho nội
dung trình diễn khoa học, có tính lôgic và trực quan, việc truyền tải nội dung dưới
dạng sơ đồ cần được khai thác triệt để. Dưới đây là một số gợi ý:
-
Tăng cường sử dụng các biểu tượng đồ họa, các sơ đồ khối thay thế chữ viết.
Mỗi sơ slide chỉ nên thể hiện một ý
Sử dụng các cụm từ khóa hơn là một câu văn hoàn chỉnh.
Chuyển đổi câu thành ý
Chỉ nên có từ 5 đến 6 dòng trên một slide
13
-
Mỗi dòng chỉ nên có không quá 6 từ.
Sử dụng danh sách có ký tự (danh sách có các ký hiệu như1,2,3; a,b,c...) khi
tầm quan trọng của các ý là khác nhau hoặc danh sách theo một trật tự nhất
-
định.
Sử dụng danh sách không ký tự (danh sách có các ký hiệu đồ họa trước mỗi ý)
-
khi không có sự phân biệt về tầm quan trọng của các ý.
Khuyến khích sử dụng các biểu tượng hình ảnh thay cho các dấu đầu câu trong
60
75
80
100
Bảng 1.1: Bảng tiêu chuần chiều cao của chữ
Cần chú ý rằng, chiều cao của chữ trên màn chiếu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
như kiểu chữ, cỡ chữ, khoảng cách từ máy chiếu tới màn chiếu, Khả năng phóng to thu
nhỏ cảu máy chiếu.... Do vậy, tùy thuộc vào phòng học và trang bị cụ thể mà chọn kiểu
chữ và cỡ chữ để đáp ứng được tiêu chuẩn trên. Trong thực tế, nên chọn cỡ chữ tối
thiểu 20pt cho kiểu chữ .vnArial hay tương đương; tối thiểu là 24pt cho kiểu chữ
.vntime hay tương đương.
Còn về kiểu chữ, nên sử dụng các kiểu chữ không chân vì đây là kiểu chữ dễ đọc.
Nên lựa chọn và sử dụng không quá nhiều hai kiểu chữ nhằm đẳm bảo tính cân bằng
và nhất quán trong bài dạy. Hạn chế sử dụng chữ in hoa vì nó sẽ làm mất hình dạng
của ký tự gây khó đọc cho người quan sát. Ví dụ:
Nên dùng kiểu CHỮ KHÔNG CHÂN
Không nên dùng kiểu chữ có chân, hình dạng phức tạp
KHÔNG NÊN SỬ DỤNG NHIỀU NỘI DUNG BẰNG CHỮ IN HOA
- Đảm bảo độ tương phản:
14
Để nội dung thông tin trên màn chiếu rõ ràng, dễ đọc, cần đảm bảo nguyên tắc
phối hợp giữa mầu nền và mầu chữ. Nếu là màu sáng thì chữ sẽ màu tối và ngược lại.
- Xác định vùng hiển thị thông tin quan trọng:
Một nghiên cứu chỉ ra rằng, khi mắt người nhìn vào một hình chữ nhật thì sự tập
trung chú ý là không giống nhau với các vùng khác nhau. Theo sơ đồ này, mắt người
sẽ tập trung chú ý nhiều nhất vào phía trên bên trái của khung hình chữ nhật. Đây
chính là vùng mà người thiết kế nên đặt những đối tượng, thông tin quan trọng.
41%
20%
14%
25%
Hình 1.2 : Vùng hiển thị thông tin quan trọng
- Đảo bảo yếu tố ngắt dòng:
Việc ngắt dòng không đúng sẽ làm cho người học rất khó đọc và ghi nhớ thông tin
trình bày.Ví dụ dưới đây sẽ minh họa điều này:
Ngắt dòng không đúng
PowerPoint là một phần
Ngắt dòng đúng
PowerPoint là một phần mềm ứng dụng
mềm ứng dụng cho
cho phép thiết kế và xây dựng trình diễn
phép thiết kế và xây
15
dựng trình diễn
Bảng 1.3: Vấn đề ngắt dòng
Quan sát tiếp theo
Quan sát đầu tiên
16
Quan sát tiếp theo
(a)
(b)
(d)
(c)
Hình 1.3: Nhấn mạnh các đối tượng trong Slide
1.5.4. Sử dụng bài dạy bằng Powerpoint trong giờ học
- Luyện tập cách trình bày:
Để đảm bảo thành công khi sử dụng trình diễn, cần thiết phải tập trình bày trước.
về mặt lí thuyết, số luyện tập trình bày là 4.
•
Nhập đề thu hút sự chú ý:
Yêu cầu này đúng trong mọi trường hợp dạy học. với việc trình diễn bài giảng
điện tử này càng cần thiết. Đây chính là biện pháp hạn chế sự căng thẳng, mệt mỏi…
khi người nghe tập trung thời gian quá nhiều trên màn chiếu.
•
Tư thế và chỉ dẫn thông tin:
Cần phải di chuyển, sử dụng que chỉ, đèn rọi một cách hợp lý. Với hình thức dạy
học này, cần tránh đi lại quá nhiều trong lớp khi trình bày.
•
Không đọc nguyên văn các thông tin trình chiếu:
Bài dạy sẽ phản tác dụng nếu người trình bày chỉ đọc nguyên văn nội dung
thông tin trình chiếu. Chú ý là những thông tin trình chiếu cho học sinh chỉ là những ý
ngắn gọn, súc tích, có tính gợi nhớ. Trên cơ sơ những thông tin đó, giáo viên sẽ trao
đổi, đàm thoại, có cơ hội tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và giúp các
ngày từ khi thiết kế bài dạy. Cụ thể hơn, trong trường hợp này,CNTT chỉ đóng vai trò
là phương tiện hỗ trợ để thực hiện thuận lợi các phương pháp dạy học tích cực.
1.4.6. Điều khiển khi trình chiếu Powerpoint
Mục đích
Chuyển tới Slide kế tiếp
Cách thức thực hiện
- Nhấp chuột trái
- Nhấn một trong các phím Space bar, N, mũi tên
Quay trởi lại Slide trước
bên phải, mũi tên xuống, Page down, enter
Nhấn một trong các phím: Backspace, P, mũi tên
trái, mũi tên lên, Page Up
Đến một slide bất kỳ
Gõ số thứ tự của slide đó, nhấn enter
Bật, tắt chế độ bôi đen màn hình
Nhấn phím B hoặc phím .
Bật, tắt chế độ xóa trắng màn hình Nhấn phín W hoặc phím ,
Hiện, ẩn mũi tên ở góc trái màn Nhấm phím A hoặc phím =
hình
Dừng hoặc tiếp tục trình diễn
Xóa các nét vẽ trên màn hình
Ẩn con trỏ chuột và mũi tên
Hiện con trỏ chuột
Kết thúc trình diễn
Nhầm phím S hoặc phím +
Mặc định PowerPoint không cho phép chạy các Macro vì các lý do về bảo mật.
Để thuận tiện trong quá trình sử dụng VBA, hãy thực hiện các bước sau để thiết lập lại
chế độ bảo mật cho PowerPoint.
Đối với PowerPoint 2003, từ Menu Tools\Macro\Security. Trong tab Security
level chọn mức Medium hoặc Low (thường chọn Low để cho phép tất cả các Macro).
Đối với PowerPoint 2007, click Microsoft Office (nút tròn ở góc trái trên màn
hình), chọn PowerPoint Options, chọn Trust Center, click Trust Center Settings,
và chọn Enable all Macros.
19
Hình 2.1: Bảo mật trong PowerPoint 2007
Đối với PowerPoint 2010, click File, chọn Options, chọn Trust Center, click
Trust Center Settings, và chọn Enable all Macros.
Hình 2.2: Bảo mật trong PowerPoint 2010
b) Bật thanh công cụ VBA
Mặc định thì bộ hỗ trợ làm việc trên VBA không được bật. Hãy làm các bước
sau để hiện thị thanh công cụ này:
Đối với PowerPoint 2003, chọn View\toolbar\control Toolbox. Hoặc click
phải vào vị trí bất kỳ trên toolbar, chọn control toolbox.
Hình 2.3: Toolbox trong PowerPoint 2007
20
Đối với Powerpoint 2007, click Microsoft Office\PowerPoint Options, ngăn
Popular, nhấp chọn mục Show Developer Tab in Ribbon. Khi đó sẽ có thêm một
ngăn Developer trên thanh tollbar của PowerPoint 2007.
Sự kiện mặc định của đối tượng là Click chuột, chính vì vậy ta có cửa sổ VBA
như sau:
Hình 2.6: Cửa sổ Visual Basic
22
Ta có thể viết đoạn lệnh hiển thị MsgBox như sau:
Private Sub BtnA_Click()
MsgBox "welcome to Hung yen", , "Hello"
End Sub
Đoạn lệnh trên nhằm mục đích sẽ xuất hiện lời chào “welcome to
Hung yen”, tiêu đề hộp thoại có chữ “Hello” khi người dùng
click vào button BtnA. Hãy trình chiếu bài PowerPoint đang thiết
kế và click và button trên Slide 1 ta sẽ có kết quả như hình bên.
Những điểm cần chú ý:
- Ngoài cách click đúp vào đối tượng để mở cửa sổ Visual Basic thì ta có thể dùng
tổ hợp phim Alt + F11.
- Có thể thay đổi đối tượng và sự kiện xảy ra trên đối tượng thông qua 2 combox
trong cửa sổ Visual Basic.
Tóm tắt các bước sử dụng VBA trong PowerPoint
1) Bước 1: Chọn và vẽ đối tượng trên Slide
2) Bước 2: Thay đổi thuộc tính của đối tượng thông qua hộp thoại Properties
(click phải vào đối tượng và chọn Properties)
3) Bước 3: Viết hoạt động cho các sự kiện xảy ra trên đối tượng bằng cách Click
đúp vào đối tượng.
4) Bước 4: Có thể viết hoạt động cho nhiều sự kiện xảy ra trên cùng một đối
ở các đối tượng như chiều cao (height), chiều rộng (width), màu nền (BackColor), font
chữ (Font), v.v… Thay đổi thuộc tính của đối tượng dẫn đến sự thay đối của đối tượng
trên màn hình. Cần chú ý rằng đối tượng VBA trong PowerPoint không hỗ trợ đầy đủ
font Unicode, chính vì vậy nên chọn thuộc tính font cho các đối tượng này là Vni hoặc
ABC.
Hình 2.7: Các thành phần trên
toolbox
Loại đối tượng
Label
Button
Text box
Image
Spin Button
Check Box
Option Box
Chuỗi đại diện
Lbl
Btn
Txt
Img
Spb
Chk
Opt
25