ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HẢI NHƯ
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH VẬN CHUYỂN
HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HẢI NHƯ
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH VẬN CHUYỂN
HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN THỊ THANH THỦY
HÀ NỘI - 2015
MỤC LỤC
HÀNH KHÁCH THEO TUYẾN CỐ ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH. 24
2.1. Quy định pháp luật hiện hành về vận tải hành khách theo tuyến cố định ...... 24
2.1.1. Các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh vận tải hành khách
theo tuyến cố định ........................................................................................... 24
2.1.2 Các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh dịch vụ bến bãi ...... 29
2.1.3 Các quy định đặc thù về quản lý nhà nước hoạt động vận tải hành khách
theo tuyến cố định ........................................................................................... 37
2.1.4 Quan hệ pháp lý giữa doanh nghiệp kinh doanh vận tải và doanh nghiệp
kinh doanh bến bãi .......................................................................................... 43
2.1.5 Các ràng buộc pháp lý giữa dịch vụ kinh doanh vận tải với các dịch vụ
bổ trợ khác ....................................................................................................... 44
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về kinh doanh vận tải hành khách bằng
đường bộ theo tuyến cố định ........................................................................... 47
2.2.1. Thực trạng kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố
định ở Việt Nam .............................................................................................. 47
2.2.2. Một số bất cập trong kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ
theo tuyến cố định ........................................................................................... 49
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH DOANH VẬN
TẢI HÀNH KHÁCH THEO TUYẾN CỐ ĐỊNH .......................................... 55
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật kinh doanh vận tải hành khách theo
tuyến cố định ................................................................................................... 55
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh vận tải hành khách để tạo lập môi
trường kinh doanh bình đẳng thuận lợi cho các doanh nghiệp ....................... 55
3.1.2. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động ................... 57
3.2. Giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật kinh doanh vận tải hành khách theo
tuyến cố định ................................................................................................... 58
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định ... 58
3.2.2 Các giải pháp hỗ trợ ............................................................................... 66
Nội dung các bảng
Bảng1.1. Khố i lượng vận chuyển hàng hóa, hành khách
đường bộ năm 2007-2010
Trang
13
2
Bảng 2.1. Quy Chuẩn điều kiện phân loại Bến xe khách
34
3
Bảng 2.2. Chu kỳ đăng kiểm chất lượng xe khách
45
4
Bảng 2.3. Dự báo khối lượng hành khách luân chuyển phân
theo phương thức vận tải
46
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vận tải hành khách bằng ô tô là loại hình dịch vụ thương mại phổ biến
khách bằng ô tô theo tuyến cố định và vận tải khách bằng ô tô theo hợp đồng;
Nghị định số 110/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/09/2006 về
điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô;… Sau quá trình áp dụng luật vào đời
sống thực tiễn, với những thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung cũng
như hoạt động vận tải khách nói riêng, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4
Quốc hội khóa XII ngày 13/11/2008 Quốc hội đã thông qua Luật Giao thông
đường bộ số 23/2008/QH12 (LGTĐB 2008) thay thế LGTĐB 2001có hiệu
lực kể từ ngày 01/07/2009. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị định
số 91/2009/NĐ-CP (Nghị định 91) ngày 21/10/2009 về kinh doanh và điều
kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; Nghị định số 93/2012/NĐ-CP (Nghị
định 93) ngày 08/11/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
91/2009/NĐ-CP ngày 21/10/2009 về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận
tải bằng xe ô tô…
Việc ra đời LGTĐB 2008 và các Nghị định, thông tư hướng dẫn đi kèm đã
tạo nên sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật giao thông đường bộ nước ta. Đó là
cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý các hoạt động vận tải khách, nhưng
đến nay, do biến động của tình hình thực tế có nhiều vấn đề mà pháp luật hiện
hành vẫn chưa tiên liệu được như: quá trình xã hội hóa các bến xe, sự phát triển
nhanh chóng của các phương tiện vận tải… Điều này dẫn đến thực tiễn thi hành
pháp luật hiện nay ở trên địa bàn cả nước còn những hạn chế, bất cập cần được
khắc phục để phát huy tối đa vai trò của pháp luật trong hoạt động thực tiễn.
Với các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về kinh doanh vận
chuyển hành khách bằng đường bộ ở Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về vấn đề kinh
doanh vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định dưới những khía
thể sau:
Một là, phân tích tổng quát các về đề lý luận về pháp luật vận tải hành
khách bằng đường bộ.
Hai là, phân tích, đánh giá về pháp luật vận tải hành khách bằng đường
bộ, hoạt động của các bến xe, doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách
bằng đường bộ từ kết quả đạt được nhằm rút ra các vướng mắc, hạn chế của
pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp
luật về vận tải hành khách bằng đường bộ.
Ba là, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả hoạt động vận tải khách bằng đường bộ hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là các quy phạm pháp luật hiện
hành liên quan trực tiếp đến vấn đề kinh doanh vận tải hành khách bằng
đường bộ và những văn bản pháp luật có liên quan.
Kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ gồm những hình thức
sau: kinh doanh vận tải khách bằng xe ô tô chạy tuyến cố định; kinh doanh
vận tải khách bằng xe buýt; kinh doanh vận tải khách bằng xe taxi; kinh
doanh vận tải khách bằng theo hợp đồng không theo tuyến cố định; và kinh
doanh vận tải khách du lịch theo tuyến, chương trình và địa điểm du lịch.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu tập trung vào loại
hình “vận tải hành khách tuyến cố định” – hình thức phổ biến, chủ yếu và
thường xuyên nhất của vận tải hành khách bằng đường bộ ở Việt Nam.Với
khuôn khổ của Luận văn, luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích một số quy
định của pháp luật hiện hành vận tải khách bằng đường bộ về hoạt động của
các doanh nghiệp vận tải tại các bến xe và của các nhà xe với hành khách.
4
5. Phương pháp nghiên cứu
1.1. Những vấn đề pháp lý về kinh doanh vận tải hành khách bằng đường
bộ theo tuyến cố định
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô theo
tuyến cố định
Theo Từ điển Tiếng Việt, vận tải được giải nghĩa là “hoạt động chuyên
chở người hoặc đồ vật trên quãng đường tương đối dài” [7]. Còn Business
Dictionary ghi nhận “vận tải là việc dịch chuyển hàng hóa hoặc người từ địa
điểm này tới một địa điểm khác” [3] .Kinh doanh vận tải hành khách bằng
đường bộ trước hết được hiểu là một loại hình dịch vụ - một hoạt động có ích
của con người tạo ra những sản phẩm dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái
sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ,
kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của
con người.
Theo giải nghĩa tại Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/04/2007 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành
kinh tế của Việt Nam, vận tải hành khách đường bộ được hiểu là “vận tải
hành khách bằng đường bộ trong nội, ngoại thành, được thực hiện bằng
nhiều phương thức (trừ xe buýt) như: tàu điện ngầm, tàu điện chạy bằng
tuyến đường ray trên mặt đất hoặc tuyến ray trên cao, ôtô điện... Đặc thù của
các phương thức vận tải này là chạy trên các tuyến đường theo lịch trình, giờ
giấc cố định, các bến đỗ cố định để đón, trả khách. Nhóm này cũng gồm: (i)
Các tuyến đường chạy từ thành phố tới sân bay hoặc từ thành phố tới nhà ga
tàu hỏa; và (ii) Hoạt động của đường sắt leo núi, đường cáp trên không...nếu
một phần của hệ thống này đi qua nội, ngoại thành”.
6
Dưới góc độ pháp lý, căn cứ Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày
23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hệ thống ngành kinh tế của
vụ. Bên cạnh những đặc điểm cơ bản trên, dịch vụ vận tải hành khách có
những đặc điểm đặc trưng: Sản phẩm của vận tải hành khách là sự di chuyển
của hành khách trong không gian nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Vì
thế, đối tượng vận chuyển của vận tải hành khách là con người, đây là một
đặc điểm hết sức quan trọng, là cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp
luật điều chỉnh lĩnh vực kinh doanh này. Bởi vậy, phương tiện vận tải đòi hỏi
yêu cầu rất cao, ngoài việc đảm bảo về đặc tính kỹ thuật còn phải đáp ứng các
điều kiện về kinh doanh vận tải hành khách như: số ghế, phù hiệu, đăng
kiểm,…Vận tải hành khách còn mang tính phân luồng, phân tuyến đường bộ
khá rõ rệt, đặc điểm này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm đảm bảo an toàn
cho hành khách. Do những đặc thù trên, kinh doanh vận tải hành khách chịu
sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan lý nhà nước.
Tóm lại, hoạt động vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố
định là hoạt động thương mại dịch vụ đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận
tải, một trong các phương thức vận tải người và hàng hóa đi kèm sử dụng
phương tiện chủ yếu là ô tô và hệ thống đường bộ. Hoạt động vận tải này có
liên quan mật thiết tới không chỉ các chủ xe ô tô sử dụng phương tiện đón, trả
khách, các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách, doanh nghiệp kinh doanh
bến xe vận tải mà còn liên quan tới hệ thống cơ quan quản lý đường bộ.
1.1.2. Vai trò của vận tải hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định
Quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định số 162/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 xác định Giao thông vận tải
đường bộ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cần phải được đầu tư, phát triển đi trước một bước; phát triển và nâng
cao chất lượng dịch vụ vận tải.
8
Thật vậy, vận tải nói chung và vận tải ô tô nói riêng có vai trò thiết yếu
người.km
2007
1.473,00
49.372,10
403.361,80
24.646,90
2008
1.629,00
54.221,10
455.898,40
27.968,00
2009
1.761,00
61.508,80
513.629,90
Có thể khẳng định, vận tải ô tô có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Kể từ khi Nhà nước chủ trương xã hội
hoá lực lượng vận tải đường bộ, các thành phần kinh tế đã phát triển mạnh
mẽ, các phương tiện kinh doanh vận tải gia tăng nhanh chóng cả về số lượng
và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại của người dân.
1.2. Pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ theo
tuyến cố định
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành
khách bằng đường bộ theo tuyến cố định
1.2.1.1 Khái niệm
Từ những phân tích về hoạt động kinh doanh vận tải hành khách theo
tuyến cố định, có thể rút khái niệm như sau: Pháp luật kinh doanh vận tải
hành khách bằng đường bộ theo tuyến cố định là hệ thống các quy định do
nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội có liên quan đến hoạt
động kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ như:điều kiện kinh
doanh vận tải đường bộ, nguyên tắc, hợp đồng và quản lý nhà nước.
1.2.1.2 Đặc điểm
Nhìn chung, pháp luật về kinh doanh vận chuyển hành khách bằng
đường bộ là pháp luật điều chỉnh về một loại hoạt động thương mại dịch vụ
đặc biệt đó là vận tải con người, nên không chỉ bị điều chỉnh bởi các quy định
chung về hoạt động thương mại dịch vụ mà còn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ
của các quy định pháp luật chuyên ngành như bảo hiểm và thể hiện rõ rệt vai
trò quản lý nhà nước. Do vậy các đặc điểm cơ bản của pháp luật về kinh
doanh vận chuyển hành khách bằng đường bộ bao gồm:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về vận tải hành khách theo tuyến
cố định thể hiện rất rõ vai trò của quản lý nhà nước. Kinh doanh vận tải hành
10
hạn theo quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm
2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn sau liên quan
đến hoạt động vận tải khách bằng ô tô. Ngoài ra, chức năng, nhiệm vụ cụ thể
của BGTVT được quy định tại Nghị định 107/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 12
năm 2012 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BGTVT,
trong đó có các nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải khách:
Bộ GTVT là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc đề ra các chủ
trương, chính sách pháp luật; Trình thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định,
chỉ thị và các văn bản khách theo phân công; Ban hành thông tư, quyết định,
chỉ thị và các văn bản khác về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực do
Bộ quản lý; Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản
quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ; Xây dựng tiêu chuẩn
quốc gia, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật
trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức
quản lý, hướng dẫn, kiểm tra đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện
thuộc ngành giao thông vận tải theo danh mục do Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ quy định.
Bộ GTVT trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và chịu
trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược
quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của
Bộ; thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực quản
lý nhà nước của Bộ; Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện điều kiện kinh doanh
vận tải, cơ chế, chính sách phát triển vận tải, các dịch vụ hỗ trợ vận tải theo
quy định của Chính phủ; Quy định và hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật, việc kiểm tra chất lượng an toản kỹ thuật của phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ; Quy định việc đào tạo, huấn luyện, sát hạch,
12
13
Xây dựng lộ trình và tổ chức thực hiện dịch vụ công trực tuyến để giải quyết
các thủ tục hành chính về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường
bộ; Thanh tra, kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm quy
định về kinh doanh vận tải đường bộ bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải
đường bộ theo quy định của pháp luật.
3. Sở Giao thông vận tải: các Sở là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giao thông vận tải, bao gồm: đường
bộ, đường thủy nội địa, vận tải và an toàn giao thông trên địa bàn.
Sở GTVT có tư cách pháp nhân, có con dấu và có tài khoản riêng;
Chịu sự chỉ đạo quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Bộ GTVT. Trách nhiệm của Sở GTVT trong quản lý hoạt
động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô được quy định như sau: Quản lý hoạt
độngvận tải bằng xe ô to và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ theo thẩm quyền;
Báo cáo Tổng cục Đường bộ Việt Nam việc công bố tuyến vận tải hành khách
cố định nội tỉnh; Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt: Quy hoạch mạng
lưới vận tải hành khách bằng xe buýt, quy hoạch mạng lưới tuyến vận tải
hành khách cố định nội tỉnh; vị trí các điểm dừng đón trả khách cho vận tải
hành khách trên tuyến cố định trên mạng lưới đường bộ thuộc địa bàn địa
phương; quy hoạch phát triển vận tải hành khách bằng xe taxi trên địa bàn địa
phương; Quyết định công bố đưa bến xe hàng vào khai thác; Trực tiếp quản lý
các tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh, nội tỉnh và các tuyến buýt;
Tiếp nhận, tổng hợp, phân tích và khai thác các thông tin bắt buộc từ thiết bị
giám sát hành trình của xe do đơn vị kinh doanh vận tải (hoặc tổ chức được
ủy quyền) cung cấp, từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam để
sinh môi trường trong bến xe, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt
15
động kinh doanh trong phạm vi bến xe; Duy trì cơ sở vật chất của bến xe theo
đúng quy chuẩn; từng bước nâng cao chất lượng phục vụ hành khách và
phương tiện; Kiểm tra và xác nhận vào Sổ nhật trình chạy xe các thông tin do
bến xe chịu trách nhiệm; Báo cáo các quy định của đơn vị về quyền hạn, trách
nhiệm, danh sách, chức vụ, chữ ký của những người được giao nhiệm vụ
kiểm tra, xác nhận vào Sổ nhật trình chạy xe với Sở Giao thông vận tải địa
phương để theo dõi và quản lý; Báo cáo định kỳ hàng tháng; Báo cáo đột xuất
phục vụ công tác quản lý Nhà nước theo yêu cầu của Tổng cục đường bộ Việt
Nam, Sở Giao thông vận tải; Báo cáo hệ số có khách bình quân trên tuyến của
doanh nghiệp, hợp tác xã trong một khoảng thời gian theo yêu cầu của cơ
quan quản lý tuyến xác định hệ số có khách bình quân trên tuyến phục vụ việc
tăng doanh nghiệp hoạt động trên tuyến; tăng số lượng phương tiện của doanh
nghiệp đang hoạt động.
Không cho xe xuất bến nếu biển kiểm soát xe và lái xe không đúng
với nội dung trong Sổ nhật trình chạy xe, báo cáo Sở Giao thông vận tải địa
phương để trực tiếp hoặc phối hợp với Tổng cục Đường bộ Việt Nam (đối với
các tuyến có cự ly trên 1000 (một nghìn) ki lô mét) xử lý theo quy định. Báo
cáo các cơ quan quản lý tuyến các doanh nghiệp, hợp tác xã có hành vi vi
phạm các quy định về quản lý hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố
định bằng ô tô.
Tóm lại, hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng đường bộ là
hoạt động kinh doanh vận tải đặc biệt, về bản chất nó không thể tách rời với
nội dung quản lý nhà nước. Nhà nước thông qua các cơ quan quản lý có thẩm
quyền chung và chuyên môn vừa để kiểm tra, giám sát hoạt động của các
doanh nghiệp vận tải, vừa mang tính chất tuyên truyền, phố biến ý thức pháp
- Xây dựng chính sách giao thông đường bộ;
- Quy hoạch giao thông tích hợp với sử dụng đất;
17
- Lập dự án, thiết kế và phát triển hệ thống vận tải khối lượng lớn, cơ sở hạ
tầng đường giao thông; Quản lý duy tu, bảo trì hạ tầng đường giao thông;
- Xúc tiến giao thông công cộng;
- Điều chỉnh dịch vụ giao thông công cộng;
- Điều chỉnh quyển sở hữu và sử dụng phương tiện giao thông cá nhân;
- Quy hoạch mạng lưới xe buýt tập trung;
- Thanh toán lại phí giao thông công cộng, phí giao thông và hệ thống
bãi đỗ xe điện tử.
Hội đồng giao thông công cộng là tổ chức độc lập, được thành lập năm
1987, gồm các thành viên từ nhiều tầng lớp rộng rãi trong xã hội. Nhiệm vụ
của Hội đồng tham gia điều chỉnh các lĩnh vực sau:
- Dịch vụ xe buýt;
- Nhà cung cấp dịch vụ xe buýt;
- Dịch vụ thanh toán vé;
- Giá vé xe buýt và tàu điện…
1.3.2. Quản lý vận tải hành khách bằng đường bộ ở Vương quốc Bỉ
Tổ chức chính quyền ở Bỉ tương đối phức tạp bao gồm vùng Flander
phía Bắc (nói tiếng Hà Lan), vùng Wallonia phía Nam (nói tiếng Pháp) và
vùng thủ đô Brussels (đa ngôn ngữ). Chính quyền các vùng độc lập, và cả các
quận tự trị cũng độc lập về quyết định và trách nhiệm của mình. Dựa trên cơ
sở các dữ liệu thực tế, phân tích và đánh giá hiện trạng cũng như các số liệu
dự tính, chính quyền đô thị đã hoạch định các mục tiêu lớn trong phát triển,
quản lý hệ thống giao thông công cộng bao gồm cả hệ thống đường sắt đô thị.
Các mục tiêu cơ bản bao gồm: